Nguyễn Thị Trúc Duyên
Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu thông qua quá trình áp dụng pháp luật, từ những vụ án thực tế và nhu cầu xã hội hiện nay, bài viết đưa ra một số kiến nghị về nhãn hiệu như: mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ là nhãn hiệu; hoàn thiện quy định về điều kiện nhãn hiệu được cấp phép bảo hộ; hoàn thiện quy định về việc xác định phạm vi bảo hộ nhãn hiệu; hoàn thiện quy định về việc công nhận, bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam; hoàn thiện quy định về thủ tục cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu để góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhãn hiệu tại Việt Nam.
Đặt vấn đề
Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã gia nhập nhiều điều ước quốc tế, cũng như các Hiệp định thương mại quốc tế, đây là một trong những lý do chính thúc đẩy các quy định pháp luật của Việt Nam phải thay đổi để phù hợp với pháp luật quốc tế; đồng thời, có những điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh trong xã hội và sửa chữa những quy định còn chưa hợp lý, gây cản trở cho hoạt động phát triển hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nói riêng và quá trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước nói chung một cách kịp thời.
Kinh nghiệm lập pháp của một số nước phát triển, như: Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ,… có cách hiểu về nhãn hiệu một cách không hạn chế trong khuôn khổ, chỉ cần bảo đảm được tính chất của nhãn hiệu là dùng để phân biệt hàng hóa dịch vụ có gắn nhãn giữa các doanh nghiệp với nhau. Tiếp theo là về vấn đề giải quyết tranh chấp trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như bảo hộ về nhãn hiệu. Thực tế cho thấy, ở nhiều nước,như: Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản,… đều đã thành lập các tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ để giải quyết mọi vấn đề liên quan và rất có hiệu quả.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn còn cơ chế trọng tài nhưng không phải tất cả các trường hợp đều áp dụng cơ chế trọng tài, trong một số trường hợp vẫn lựa chọn tòa án là cơ quan xét xử, do vậy việc trang bị kiến thức pháp luật về sở hữu trí tuệ để bảo đảm được ý nghĩa của nhãn hiệu là điều cần thiết.
Về quy định kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ của hàng hóa, dịch vụ được gắn nhãn cùng là điều cần thiết trong các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu chưa có quy định điều chỉnh cụ thể vấn đề này.
Mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ là nhãn hiệu
Việc xác định phạm vi đối tượng được bảo hộ của nhãn hiệu có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng và thực thi pháp luật. Cụ thể, theo pháp luật hiện hành đã có những quy định về các dấu hiệu có thể được đăng ký bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu được quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa.
Pháp luật về nhãn hiệu hiện hành có thay đổi đáng kể, đã mở rộng phạm vi đối tượng điều chỉnh có thể là dấu hiệu âm thanh khi được thể hiện dưới dạng đồ họa. Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu để được bảo hộ vẫn buộc phải chuyển đổi thể hiện dưới dấu hiệu có thể nhìn thấy được, nhưng tại Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định: “Không bên nào được quy định rằng, dấu hiệu phải được nhìn thấy bằng mắt như một điều kiện để đăng ký, cũng không được từ chối việc đăng ký nhãn hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra, mỗi bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương. Một bên có thể đòi hỏi một mô tả ngắn gọn và chính xác hoặc đại diện đồ họa của nhãn hiệu, hoặc cả hai nếu có thể”1.
Việc cần có những chế định kịp thời và phù hợp là cần thiết để mở rộng đối tượng được bảo hộ của nhãn hiệu có thể là hương thơm, hương vị, thêm vào đó có thể mở rộng thêm quy định về các dấu hiệu không được thể hiện dưới dấu hiệu nhận thấy bằng thị giác, thay vào đó thể hiện dưới dạng thính giác (sản phẩm là đoạn âm thanh) hoặc khứu giác (một sản phẩm mang hương thơm).

Bên cạnh việc mở rộng phạm vi, đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu cũng có những thách thức nhất định đối với Việt Nam hiện nay trước các yêu cầu, điều kiện để thực hiện kiểm chứng âm thanh, mùi vị, hương vị rất quan trọng. Trong khi, Việt Nam chưa phát triển về điều kiện trang thiết bị để có thể thực hiện các yêu cầu về việc kiểm chứng các âm thanh, hương vị, mùi vị, do vậy dù pháp luật có những bước tiến bộ trong việc công nhận bảo hộ âm thanh với danh nghĩa là nhãn hiệu nhưng vẫn cần phải thể diện dưới dạng đồ họa – có thể nhận thấy bằng thị giác để được hiện kiểm chứng, đánh giá các dấu hiệu có thỏa mãn các điều kiện của bảo hộ nhãn hiệu hay không để đưa ra quyết định cho việc cấp văn bằng bảo hộ. Tương tự về các dấu hiệu về âm thanh thì các dấu hiệu về mùi hương, mùi vị cũng cần có những trang thiết bị về điều kiện kiểm chứng các dấu hiệu để có thể đáp ứng kịp thời các nhu cầu xã hội hiện nay cũng như các hiệp định, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Hoàn thiện quy định về điều kiện nhãn hiệu được cấp phép bảo hộ
Mặc dù Luật Sở hữu trí tuệ đã có quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu. Nhưng thực tế thì vẫn có nhiều vụ tranh chấp xảy ra xung quanh việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu cho thấy trên thực tiễn, những quy định về điều kiện nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ vẫn còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn, như đối với vụ tranh chấp giữa Công ty Bia Sài Gòn (SBC) và Công ty Bia Sài Gòn Việt Nam (BSGVN) thì Cục Sở hữu trí tuệ đã chấp nhận đơn hợp lệ của Công ty Công ty BSGVN. Ở vụ tranh chấp giữa Công ty TNHH DP và Công ty AVN thì cả hai công ty đều nhận được cấp phép bảo hộ nhãn hiệu.
Thông qua thực trạng về vụ việc tranh chấp giữa Công ty SBC và Công ty BSGVN có thể thấy, việc quy định về điều kiện nhãn hiệu của một doanh nghiệp được bảo hộ khi nhãn hiệu đó là dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt là chưa đủ. Thay vào đó việc không giới hạn về cách hiểu của nhãn hiệu có thể giúp cho việc nhận biết, phân biệt nhãn hiệu dễ dàng hơn điều này sẽ giúp hạn chế được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hay dễ dàng phân biệt đâu là hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu của doanh nghiệp đã đăng ký bảo hộ theo quy định pháp luật.2

Nếu xét về cấu trúc của hai nhãn hiệu rõ ràng có dấu hiệu tương đồng nhưng vẫn có sự khác biệt là dấu hiệu “VIETNAM”. Ngoài ra, bên cạnh đó sản phẩm của Công ty BSGVN còn có hình con rồng trên sản phẩm cũng được thể hiện khác đi, hay sự cách điệu màu sắc, sự kết hợp các yếu tố cũng có sự thay đổi nhầm làm khác đi so với sản phẩm của Công ty SBC. Như vậy, nếu xét về từng dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu của sản phẩm thì rõ ràng các dấu hiệu này có khả năng phân biệt. Hay về phát âm-phiên âm cũng có sự khác biệt. Nhưng khi kết hợp về tổng thể thì sẽ có khả năng gây nhầm lẫn. Điều này có thể thấy rằng, nếu áp dụng điều kiện bảo hộ nhãn hiệu đối với các dấu hiệu của nhãn hiệu thì nhãn hiệu vẫn có khả năng phân biệt nhất định điều này chứng minh thông qua việc Cục Sở hữu trí tuệ đã có quyết định chấp nhận đơn hợp lệ về việc xin cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu của Công ty BSGVN.
Đối với thực trạng về vụ tranh chấp giữa hai nhãn hiệu “Asano” và “Asanzo” cũng cho thấy, trên thực tế thì tên và hình ảnh đăng ký nhãn hiệu của có thể phân biệt được. Cụ thể như hình ảnh đính kèm sau:

Nếu xét về điều kiện đăng ký bảo hộ nhãn hiệu rõ ràng cả hai nhãn hiệu này đều thỏa mãn điều kiện từ sự kết các ký tự rồi kết màu sắc cũng hoàn toàn khác