Thiếu tá, ThS. Vũ Thành Huyến
Thiếu tá. Vũ Minh Thành
Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy vai trò của trí thức trẻ tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan quân đội là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các nhà trường quân đội. Trong đó, năng lực tư duy sáng tạo là nền tảng cơ sở để đội ngũ này khẳng định khả năng của mình. Bài viết nêu một số vấn đề cần thực hiện nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ ở các học viện, trường sĩ quan quân đội.
Từ khoá: Nghiên cứu khoa học, trí thức trẻ, tư duy sáng tạo.
1. Đặt vấn đề
Trí thức trẻ ở các học viện, trường sĩ quan quân đội là những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng có tuổi đời chưa quá 40, đã tốt nghiệp đại học, đang học tập, công tác ở các học viện, trường sĩ quan quân đội; có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, khả năng truyền thụ, giáo dục, đào tạo, tích lũy và làm giàu tri thức, tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, trí thức trẻ ở là lực lượng quan trọng, trực tiếp tham gia các hoạt động khoa học ở các học viên, trường sĩ quan quân đội. Chất lượng công tác khoa học quân sự ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan. Một trong những yếu tố chủ quan giữ vai trò quan trọng chính là trí thức trẻ. Chất lượng, hiệu quả công tác khoa học quân sự ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách và năng lực của đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong tương lai, ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến vấn đề xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bên cạnh đó, đây còn là nguồn kế cận đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia quân sự của quân đội và của quốc gia.
2. Năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ ở các học viện, trường sĩ quan quân đội
Trí thức trẻ ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hầu hết là những người được đào tạo chính quy, được trang bị hệ thống kiến thức cơ bản và toàn diện, đặc biệt là hệ thống kiến thức chuyên sâu chuyên ngành. Đa phần trí thức trẻ có năng lực tư duy nhanh nhạy, năng động, sáng tạo trong hoạt động xã hội, mạnh dạn trong tiếp thu và lĩnh hội những tri thức mới, đặc biệt là ngoại ngữ và công nghệ thông tin. Đây thực sự là những ưu thế, những điều kiện cần và đủ của lực lượng kế cận, kế tiếp, thế hệ trực tiếp tạo nên chất lượng đội ngũ nhà khoa học và các chuyên gia quân sự trong tương lai, thế hệ góp phần quan trọng đưa các học viện, nhà trường quân đội nhanh chóng hội nhập với nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại của quốc gia và quốc tế. Vì vậy, có thể nói tương lai, uy tín, vị thế của các học viện, trường sĩ quan quân đội phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất nhân cách và năng lực của trí thức trẻ. Trong đó, năng lực tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng, là khả năng nhận thức, tiếp thu và vận dụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ khoa học đặt ra, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, đảm bảo cho hoạt động khoa học của trí thức trẻ đạt chất lượng và hiệu quả cao. Năng lực này được biểu hiện cụ thể:
Một là, mức độ nắm bắt tri thức khoa học.
Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giới và đời sống của con người trong miền khách thể. Thông thường tri thức được phân loại theo cấp độ hoặc lĩnh vực phản ánh.
Xét ở phạm vi phản ánh của tri thức thì có tri thức về tự nhiên, về xã hội; còn xét ở trình độ phản ánh của tri thức thì có: tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận; tri thức thông thường và tri thức khoa học. Tri thức là kết quả của hoạt động nhận thức nhưng khi tri thức đã được tích lũy trong mỗi con người lại đóng vai trò là tiền đề, cơ sở, điều kiện bên trong để thực hiện có hiệu quả hoạt động thực tiễn, sáng tạo ra tri thức mới.
Xét về bản chất, phát triển năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ trong nghiên cứu khoa học là quá trình tự giác, được hình thành thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học của trí thức trẻ từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng tới bản chất, từ bản chất cấp một tới bản chất cấp hai và mãi mãi. Đây là hoạt động tiếp thu tri thức từ các nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật và vận dụng sáng tạo vào giải quyết các nhiệm vụ khoa học mềm dẻo, thuần thục, linh hoạt.
Hai là, trình độ xử lý thông tin khoa học.
Xử lý thông tin khoa học là quá trình liên kết các thành phần của tư tưởng, phản ánh mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, là cách thức tư duy được tổ chức, sắp xếp theo một quy trình chặt chẽ, dựa trên cơ sở quy luật hoạt động nhận thức của con người. Tư duy gồm các hình thức: khái niệm, phán đoán, suy luận và các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… Trình độ xử lý thông tin khoa học quy định khả năng phản ánh đầy đủ và sâu sắc bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng.
Nhờ xử lý thông tin khoa học, trí thức trẻ phản ánh được sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, thấy được cái bộ phận và cái tổng thể, bóc tách được cái bản chất của sự vật ra khỏi các hiện tượng bề ngoài của chúng, phát hiện ra mâu thuẫn bên trong các sự vật, hiện tượng, quán triệt được cái cụ thể cảm tính và tái tạo lại nó với tư cách là cái cụ thể phi cảm tính trong tư duy. Mỗi trí thức trẻ thường có những cách tiếp cận, nắm bắt, hiểu biết, xử lý các thông tin để có những quyết định khác nhau, người nào giải quyết khâu liên hoàn này một cách đúng đắn nhanh và hiệu quả thì người đó được coi là có năng lực tư duy sáng tạo phát triển cao, cho nên, trong nghiên cứu khoa học điều quan trọng nhất là phải rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo.
Ba là, khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ khoa học.
Khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ khoa học là mức độ áp dụng lý luận vào thực tiễn nghiên cứu khoa học của trí thức trẻ tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất. Nó là kết quả của quá trình xác lập các yếu tố, thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng; làm cho sự vật, hiện tượng không còn là nó nhưng vẫn kế thừa, chọn lọc những yếu tố tích cực sang sự vật mới theo khuynh hướng tiến lên. Khả năng vận dụng sáng tạo là yếu tố đặc trưng cơ bản nhất của năng lực đưa lý luận vào thực tiễn nghiên cứu khoa học của trí thức trẻ. Nó là hệ quả tất yếu của sự vận động biện chứng giữa tri thức sâu rộng với phương pháp tư duy khoa học, năng lực sáng tạo bao gồm các yếu tố cảm xúc, ý chí, trí tưởng tượng và trực giác sáng tạo, những phẩm chất này đưa lại khả năng xem xét, giải quyết các nhiệm vụ khoa học một cách tự lực, chủ động, tích cực, có cân nhắc chọn lọc.
Khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ khoa học của trí thức trẻ được thể hiện ở các nội dung, như: nhận thức, quán triệt nhiệm vụ khoa học được giao, tiến hành các bước tổ chức nghiên cứu, sử dụng phương pháp, kỹ năng phù hợp với đòi hỏi công việc, năng lực nhận thức và giải quyết tình huống có vấn đề trong nghiên cứu để nâng cao năng lực sử dụng sáng tạo, linh hoạt tri thức đã có vào nghiên cứu khoa học và trong thực tiễn cuộc sống.
Bốn là, khả năng khái quát cách làm mới.
Khả năng khái quát cách làm mới của trí thức trẻ trong nghiên cứu khoa học được biểu hiện qua các hoạt động khoa học và các hoạt động sinh hoạt, học tập, công tác thường ngày. Khi giải quyết các nhiệm vụ khoa học, họ phải có khả năng phân tích, đánh giá, đối chiếu, so sánh với lý luận để điều chỉnh, bổ sung nhận thức. Thực hiện tổng kết sau mỗi nhiệm vụ, trí thức trẻ cần phải xác định đúng và trúng vấn đề mâu thuẫn đặt ra trong quá trình nghiên cứu; phải tự đúc kết kinh nghiệm, rút ra bài học để khái quát hóa, trừu tượng hóa, bổ sung tri thức là điều kiện, tiền đề cần thiết giúp trí thức trẻ giảm khoảng cách khác biệt giữa lý luận và thực tiễn.
Khái quát cách làm mới là điều kiện để trí thức trẻ được nhìn nhận kết quả thực tế, tiếp tục tháo gỡ mâu thuẫn, xác định phương hướng, cách thức nghiên cứu hiệu quả hơn. Khải quát cách làm mới đòi hỏi trí thức trẻ phải có khả năng xác định đúng và trúng vấn đề nghiên cứu cần tổng kết, phải có khả năng khái quát và trừu tượng hóa khoa học để rút ra tri thức mới; phải có khả năng khắc phục những sai sót trong tư duy, nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
3. Một số vấn đề đặt ra trong phát triển năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ trong nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan quân đội
Thứ nhất, các học viện, trường sĩ quan quân đội cần tiếp tục đầu tư phát triển tiềm lực khoa học quân sự.
Năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ trong nghiên cứu khoa học không chỉ phát triển dựa trên tiếp thu, lưu trữ hệ thống tri thức nền tảng mà nhà trường trang bị cho trong quá trình đào tạo mà còn dựa vào việc phát huy năng lực trí tuệ và các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa…để chiếm lĩnh, vận dụng hệ thống tri thức được trang bị, thông qua đó tư duy được đào luyện và phát triển. Nếu hệ thống tri thức lạc hậu, tiềm lực khoa học quân sự ở các học viện, trường sĩ quan quân đội không được đầu tư phát triển thì sẽ không tạo ra được động lực kích thích năng lực tư duy sáng tạo của trí thức trẻ phát triển.
Sự vững vàng về tri thức chỉ là điều kiện cần để người trí thức trẻ đảm nhận công việc được giao, bên cạnh đó họ phải nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ và sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp, kỹ năng giải quyết công việc. Chuyên môn, nghiệp vụ là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo, thực chất là cung cấp cho họ hệ thống tri thức và kỹ năng nghề nghiệp đặc thù phù hợp với phạm vi, đối tượng, nhiệm vụ trong hoạt động khoa học.
Tri thức nghề nghiệp được trang bị qua trường lớp; đồng thời còn do trí t