ThS. Đào Thị Hoa
Quận ủy Bắc Từ Liêm, Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Việc tăng cường công tác kiểm tra nói chung và nhiệm vụ kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong các đảng bộ tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Hồng là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên và trực tiếp của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy nhằm phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời việc vi phạm kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng; bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng hiện nay. Bài viết đánh giá thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm hoạt động của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực đồng bằng sông Hồng đối với công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm.
Từ khóa: Công tác kiểm tra; đồng bằng sông Hồng; dấu hiệu vi phạm; kinh nghiệm hoạt động; ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy.
1. Đặt vấn đề
Công tác kiểm tra gắn liền tất yếu với sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, coi đó là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng và là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục mọi thiếu sót, khuyết điểm, bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Cùng với quá trình lãnh đạo của Đảng, công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có vi phạm của Đảng nói chung và của các tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng nói riêng, ngày càng được coi trọng và quan tâm đúng mức nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên, các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, từng bướcngang tầm với đòi hỏi nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay.
2. Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực đồng bằng sông Hồng
a. Những kết quả đạt được
Một là, các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực đồng bằng sông Hồng đã chủ động nắm tình hình, phát hiện đúng đối tượng vi phạm, đúng thời điểm và tiến hành kiểm tra kịp thời. Xuất phát từ đặc điểm lãnh đạo, đối tượng lãnh đạo, nội dung lãnh đạo đa dạng và phức tạp của các tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng; đảng viên giữ các cương vị khác nhau, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý; làm công tác tài chính, xây dựng… thường dễ vi phạm khuyết điểm. Vì vậy, để phát hiện chính xác đối tượng kiểm tra có dấu hiệu vi phạm, các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng đã chủ động nắm tình hình thông qua nhiều căn cứ, nhiều hình thức biện pháp. Qua điều tra, khảo sát ở các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Hồng, kết quả cho thấy: có 84,66% ý kiến cho rằng phát hiện dấu hiệu vi phạm qua sinh hoạt và hoạt động của đảng viên, tổ chức đảng; 37% qua việc thực hiện nhiệm vụ chức trách; 5,66% qua các kênh thông tin khác như cấp trên phát hiện; 89% qua ý kiến phản ánh của quần chúng; 63,66% qua dư luận tập thể, Nhân dân và xã hội 29,66% qua đơn thư gửi đến1.
Hai là, đồng thời với việc xác định đối tượng có dấu hiệu vi phạm, các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng đã nắm chắc nội dung cụ thể dấu hiệu vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng. Nội dung kiểm tra tập trung vào việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, việc thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết nội bộ, những điều đảng viên không được làm, thiếu trách nhiệm buông lỏng lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ chức trách được giao…
Trong đó, Ủy ban kiểm tra Thành ủy Hà Nội nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã triển khai các cuộc kiểm tra, giám sát đối với những lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, như: công tác cán bộ; quản lý đất đai, trật tự xây dựng; quản lý dự án; y tế… “Điển hình, đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với các tổ chức đảng cấp dưới có liên quan trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phòng, chống dịch Covid-19, trong đó tập trung vào việc thực hiện đấu thầu, mua sắm kít xét nghiệm Covid-19 của Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á”2. Kết luận các cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm bảo đảm khách quan, chính xác, chỉ ra khuyết điểm, sai phạm của đảng viên và tổ chức đảng, những trường hợp có khuyết điểm, sai phạm tùy theo mức độ đều phải kiểm điểm nghiêm túc để rút kinh nghiệm hoặc xử lý kỷ luật nghiêm minh.
Ba là, công tác kiểm tra của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng đã có tác dụng tích cực trong công tác quản lý, giáo dục rèn luyện đảng viên trong đảng bộ; góp phần quantrọng phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế vi phạm kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng. Từ năm 2020 -2023, tính riêng Đảng bộ thành phố Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và ủy ban kiểm tra các cấp trong Đảng bộ Thành phố đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 317 lượt tổ chức đảng và 758 đảng viên, kết luận 122 tổ chức đảng (chiếm 38%) và 332 đảng viên (chiếm 44%) có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 17 tổ chức đảng và 236 đảng viên3.
Qua khảo sát 300 đảng viên từ các đối tượng, có 48% ý kiến cho rằng việc kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong đảng bộ hiện nay có tác dụng tốt ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm kỷ luật; 45,66% ý kiến cho rằng có tác dụng nhưng còn hạn chế4. Như vậy, phần lớn ý kiến (93,66%) nhận định đã có tác dụng, tuy còn nhiều hạn chế nhưng khẳng định rõ hiệu quả công tác kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng trong thời gian qua.
b. Những hạn chế, bất cập
(1) Các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng chưa thực sự chủ động đề cao trách nhiệm, còn bị động trước các vụ việc xảy ra trong đảng bộ. “Công tác nắm tình hình, phát hiệu dấu hiệu vi phạm của một số ủy ban kiểm tra chưa hiệu quả, không kịp thời đề xuất kiểm tra trong khi thực tế một số địa phương, đơn vị vẫn còn những vấn đề phức tạp được báo chí, dư luận phản ánh”5. Qua khảo sát, điều tra có 40,66% ý kiến cho rằng ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy chưa thường xuyên chủ động đề cao trách nhiệm trong việc phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng; 76,33% ý kiến cho rằng, khi cấp trên chỉ thị mới tiến hành kiểm tra; 66,66% ý kiến cho rằng khi bị sức ép của dư luận đảng viên và quần chúng mới tiến hành kiểm tra6. Như vậy, việc kiểm tra chỉ là giải quyết hậu quả vụ việc đã xảy ra, tác dụng giáo dục phòng ngừa vi phạm kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng chưa cao.
(2) Tính chiến đấu của một số ủy ban kiểm tra chưa cao, còn nể nang, ngại va chạm với đối tượng được kiểm tra. “Một số ủy ban kiểm tra quận, huyện ủy triển khai một số cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giám sát chuyên đề mang tính hình thức, chất lượng chưa cao”7. Qua khảo sát thực tế, có 51,66% ý kiến cho rằng, ủy ban kiểm tra còn nể nang, ngại va chạm với đối tượng được kiểm tra8. Đây là điểm yếu nhất, khó khắc phục nhất của chủ thể kiểm tra nói chung và của ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng nói riêng.
(3) Năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của các ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra chuyên trách còn nhiều hạn chế. Việc thực hiện quy trình kiểm tra còn lúng túng, thiếu linh hoạt và chưa thống nhất. Khả năng tổng hợp khái quát trong việc soạn thảo văn bản các cuộc kiểm tra còn nhiều hạn chế, còn đơn giản, chưa chặt chẽ cả về nội dung và thủ tục hành chính; nhiều cuộc kiểm tra, ủy ban kiểm tra kết luận không rõ ràng, thiếu sức thuyết phục đối với đối tượng kiểm tra nên hiệu quả còn thấp, chưa đạt được như mong muốn. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội đánh giá: “Hoạt động của ủy ban kiểm tra cấp cơ sở hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do không có cán bộ chuyên trách, cán bộ làm công tác kiểm tra còn thiếu kinh nghiệm nên chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát hạn chế”9.
3. Một số kinh nghiệm hoạt động của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực đồng bằng sông Hồng đối với công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy và chỉ đạo của ủy ban kiểm tra Trung ương.
Nội dung lãnh đạo bao gồm việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm; bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ công tác kiểm tra; việc xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra và tổ chức hoạt động kiểm tra. Đảng bộ tỉnh, thành phố nào mà cấp ủy quan tâm lãnh đạo và coi trọng công tác kiểm tra thì những dấu hiệu vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng được phát hiện sớm, ngăn chặn được kịp thời; tỷ lệ đảng viên và tổ chức đảng vi phạm kỷ luật thấp; không có vụ việc nghiêm trọng. Thiếu sự chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy, ủy ban kiểm tra thường thụ động chạy theo giải quyết vụ việc, tác dụng giáo dục phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm kỷ luật sẽ kém hiệu quả. Mặt khác, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với công tác kiểm tra của các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy còn giúp các ủy ban kiểm tra nắm chắc chuyên môn, nghiệp vụ; vận dụng phương hướng, phương châm, phương pháp công tác kiểm tra linh hoạt; tổ chức hoạt động đều đặn, quá trình kiểm tra tiến hành có chất lượng và hiệu quả cao.
Thứ hai, phát huy tính chủ động, linh hoạt, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, phương pháp công tác kiểm tra.
Kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Bởi nó tác động trực tiếp đến tâm lý, tình cảm và hoạt động của đối tượng kiểm tra. Quá trình kiểm tra là quá trình đấu tranh giữa nhận thức, hành vi đúng và chưa đúng; giữa xu hướng tích cực và biểu hiện tiêu cực; thường gặp những chiều hướng tư tưởng đối lập, sự phát triển tâm lý phức tạp, có khi phải đối mặt với tiêu cực, mặt trái của xã hội. Mặt khác, đối tượng có dấu hiệu vi phạm, thường tìm mọi cách để che đậy, giấu giếm hành vi vi phạm, nên khó phát hiện. Nếu ủy ban kiểm tra không chủ động linh hoạt thì không thể kịp thời phát hiện được đối tượng có dấu hiệu vi phạm để kiểm tra.
Kinh nghiệm cho thấy, ở đảng bộ tỉnh, thành phố nào ủy ban kiểm tra luôn chủ động đề cao trách nhiệm, linh hoạt trong tổ chức hoạt động kiểm tra, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì ở đảng bộ đó công tác kiểm tra có nền nếp, hiệu quả và ít có đảng viên vi phạm kỷ luật. Cùng với đó, quá trình kiểm tra, ủy ban kiểm tra phải nắm vững nguyên tắc, phương pháp công tác kiểm tra của Đảng để tiến hành giải quyết từng việc, từng nội dung; kết hợp hài hòa giữa tính chủ động, linh hoạt với việc thực hiện tốt phương pháp công tác kiểm tra của Đảng.
Thứ ba, phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình trong quá trình kiểm tra.
Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm là quá trình đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nội bộ Đảng, được thực hiện thông qua sinh hoạt của các tổ chức từ chi bộ đến ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy dựa trên ý thức tự giác của đảng viên và tổ chức đảng. Điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở phát huy dân chủ trong Đảng, đề cao tự phê bình và phê bình trong suốt quá trình kiểm tra. Thông qua ý kiến của tập thể để làm rõ bản chất của sự việc, giúp ủy ban kiểm tra có được kết luận chính xác, khách quan. Đồng thời, nếu không đề cao tự phê bình và phê bình thì đối tượng được kiểm tra dễ tìm cách giấu giếm hoặc từ chối khuyết điểm (nếu có), chủ thể tiến hành kiểm tra nể nang, ngại va chạm, không dám đấu tranh phê bình với đối tượng được kiểm tra. Như vậy, sự việc không được làm rõ, dẫn đến kết luận thiếu chính xác, cuộc kiểm tra không đạt kết quả như mong muốn.
Kinh nghiệm công tác kiểm tra từ các đảng bộ tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, khi tính đảng được đề cao, dân chủ được thực hiện rộng rãi thì đối tượng được kiểm tra tự giác chấp hành, kiểm điểm nghiêm túc; cấp uỷ, đảng viên và quần chúng mạnh dạn đóng góp ý kiến, chỉ rõ vi phạm của đảng viên, tổ chức đảng (nếu có), giúp ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm tra nhanh chóng có kết luận chính xác, khách quan. Mặt khác, khi mà ý thức tự giác của đảng viên, tính chiến đấu trong Đảng còn hạn chế, nếu trong quá trình kiểm tra dân chủ không được phát huy, tự phê bình và phê bình không được đề cao thì không thể phát hiện được đối tượng có dấu hiệu vi phạm; không có đủ căn cứ đấu tranh với hành vi bao che, giấu giếm khuyết điểm, không có cơ sở kết luận rõ đối tượng đượckiểm tra có vi phạm hay không vi phạm, hoặc vi phạm đến mức độ nào dẫn đến bỏ sót, lọt đối tượng, nội dung vi phạm hoặc kết luận chung chung, kém tác dụng.
Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của các sở, ban, ngành, đoàn thể và Nhân dân trong tỉnh, thành phố, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong quá trình kiểm tra.
Mọi hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng đều được biểu hiện cụ thể trong thực tiễn. Những việc làm đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực, dù bộc lộ dưới hình thức nào, trực tiếp hay gián tiếp, trong hay ngoài cơ quan, đơn vị đều qua tai mắt của mọi người. Trong đó, các sở, ban, ngành, đoàn thể và Nhân dân trên địa bàn tỉnh, thành phố là lực lượngchủ yếu phản ánh các thông tin có độ tin cậy cao, đồng thời là thành phần quan trọng nhất có trách nhiệm trong việc cung cấp các nguồn thông tin đến với uỷ ban kiểm tra. Vì vậy, các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng phải dựa vào các tổ chức đảng, các sở, ban, ngành, đoàn thể và nhân dân… để nắm bắt tình hình thu thập, xử lý thông tin, đi đến quyết định kiểm tra đúng đối tượng, nội dung.
Thực tiễn công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm ở các đảng bộ tỉnh, thành phố những năm qua cho thấy, các thông tin mà ủy ban kiểm tra thu thập được đi đến quyết định kiểm tra phần lớn từ các tổ chức, các cơ quan chức năng, quần chúng trong cơ quan, đơn vị và nhân dân. Đồng thời, quá trình tổ chức kiểm tra đã sử dụng thành phần các cơ quan chức năng tham gia đoàn kiểm tra… Có trường hợp phải căn cứ vào ý kiến của cơ quan nghiệp vụ cấp trên, cùng với kếtquả thẩm tra xác minh để xem xét kết luận chính xác, khách quan. Kinh nghiệm cũng chỉ ra rằng, chưacó cuộc kiểm tra nào mà ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy không dựa vào các sở, ban, ngành, đoàn thể và Nhân dân và các cơ quan chức năng để kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm. Thứ năm, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đổi mới phương pháp tác phong công tác; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho các ủy viên ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra chuyên trách.
Phẩm chất đạo đức cách mạng và trình độ năng lực là hai yếu tố cơ bản quan trọng nhất đối với mỗi cán bộ đảng viên nói chung và đặc biệt là đối với cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng nói riêng. Do yêu cầu phát triển của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Hồng cùng với sự vận động, biến đổi của thực tiễn, đòi hỏi mọi ủy viên ủy ban kiểm tra, đặc biệt là (phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra) chuyên trách phải thường xuyên học tập tiếp thu kịp thời các quan điểm, tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; các nội dung cần thiết có liên quan của các ngành, các cơ quan chức năng; kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ công tác kiểm tra.
Đồng thời, thường xuyên rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, vô tư, tận tụy với công việc, không bị cám dỗ bởi vật chất hoặc dao động trước khó khăn; đổi mới phương pháp tác phong công tác, sẵn sàng tiếp thu ý kiến, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác kiểm tra. Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đổi mới phương pháp tác phong công tác; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho các ủy viên ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra chuyên trách là nhiệm vụ thường xuyên và có ý nghĩa thiết thực.
4. Kết luận
Công tác kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi
phạm là nhiệm vụ trọng tâm của ủy ban kiểm tra đảng ủy các cấp và đối với các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở đồng bằng sông Hồng. Do vậy, để tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi các tỉnh ủy, thành ủy và các ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực đồng bằng sông Hồng phải tiếp tục nghiên cứu, khảo sát thực tiễn hoạt động công tác này và vận dụng linh hoạt các kinh nghiệm nhằmkịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của từng tổ chức đảng, đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay.
Chú thích:
1, 4, 6, 8. Tác giả điều tra, khảo sát thực tế tại các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng. Tháng 7/2024 -8/2024.
2, 3, 5, 7, 9. Tác giả sử dụng số liệu của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội (2023). Báo cáo sơ kết công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật giữa nhiệm kỳ Đại hội lần thứ thứ XVII Đảng bộ Thành phố và định hướng nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ 2020 – 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư (2021). Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 09/12/2021 về thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
3. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra đảng các cấp ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/06/13/boi-duong-doi-ngu-can-bo-kiem-tra-dang-cac-cap-o-vung-dong-bang-song-hong-hien-nay.
4. Kinh nghiệm của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng trong lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/09/05/kinh-nghiem-cua-cac-tinh-uy-o-vung-dong-bang-song-hong-trong-lanh-dao-cai-cach-hanh-chinh-nha-nuoc.



