Chính sách văn hóa và quyền chủ thể của người Dao trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

Cultural policy and the agency of the Dao people in preserving ethnic cultural identity

Đặng Thị Kim Ngân
NCS Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) Bài viết tập trung phân tích chính sách bảo tồn văn hóa đối với cộng đồng người Dao tại Việt Nam dưới góc nhìn khoa học chính sách công. Thông qua đánh giá cách thức tổ chức thực thi, các kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu, bao gồm cả những hạn chế về thể chế, cơ chế tham vấn, năng lực thực hiện và công cụ giám sát. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất 3 nhóm giải pháp chính sách, gồm: (1) Hoàn thiện khung pháp lý công nhận quyền văn hóa cộng đồng; (2) Thiết lập cơ chế đồng quản trị giữa chính quyền và người Dao; (3) Phát triển hệ thống chỉ số đánh giá dựa trên mức độ tham gia và năng lực tự tổ chức của cộng đồng. Nghiên cứu góp phần thúc đẩy một mô hình quản trị văn hóa đa dân tộc công bằng, hiệu quả và hội nhập.

Từ khóa: Người Dao, chính sách văn hóa, quyền chủ thể văn hóa, bảo tồn di sản, quản trị văn hóa, chính sách dân tộc.

Abstract: This article analyzes cultural preservation policies for the Dao community in Vietnam from the perspective of public policy governance. It evaluates the implementation mechanisms, achievements, existing challenges, and key causes, including institutional limitations, consultation mechanisms, implementation capacity, and monitoring tools. Based on this analysis, the article proposes three main policy solutions: (1) Improving the legal framework to recognize the community’s cultural rights; (2) Establishing a co-governance mechanism between the government and the Dao people; (3) Developing an evaluation index system based on the community’s level of participation and self-organizing capacity. This study contributes to the promotion of a fair, effective, and inclusive model of multi-ethnic cultural governance.

Keywords: Dao people, cultural policy, cultural agency, heritage preservation, cultural governance, ethnic policy.

1. Đặt vấn đề

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số là một chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu và động lực của phát triển bền vững đất nước. Trong hệ giá trị văn hóa đa dạng của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng, đòi hỏi được bảo vệ bằng các chính sách thiết thực, phù hợp với bối cảnh hiện nay.

Trong các dân tộc thiểu số, người Dao là một cộng đồng có dân số đáng kể, phân bố rộng ở nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Theo Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, người Dao ở Việt Nam có 891.151 người, chiếm 0,93% dân số cả nước và cư trú tại 61/63 tỉnh, thành phố1. Cộng đồng này sở hữu nền văn hóa đặc sắc với các nghi lễ như lễ cấp sắc, tín ngưỡng thờ Bàn Vương, hệ thống chữ Nôm Dao, nghề thủ công truyền thống và trang phục dân tộc riêng biệt. Tuy nhiên, dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa và kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Dao đang đứng trước nguy cơ mai một. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là sự tham gia của cộng đồng trong quá trình bảo tồn chưa được thể chế hóa đầy đủ, dẫn đến hiệu quả chính sách chưa như mong đợi.

Mối quan hệ giữa chính sách văn hóa của Nhà nước và quyền chủ thể văn hóa của người Dao đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm. Bài viết tiếp cận từ góc độ phân tích chính sách công, tập trung đánh giá cơ chế thiết kế và triển khai chính sách văn hóa đối với người Dao, đồng thời phân tích mức độ tham gia của cộng đồng trong quá trình này. Phạm vi nghiên cứu bao gồm một số địa phương tiêu biểu, những nơi có đông người Dao sinh sống. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu chính sách, khảo sát thực địa và tổng hợp nghiên cứu thứ cấp để đưa ra đánh giá toàn diện. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp chính sách lấy “trao quyền văn hóa” làm trọng tâm, góp phần hiện thực hóa Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/20212.

2. Chính sách văn hóa và vai trò của nhà nước

Chính sách văn hóa là hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp do Nhà nước thiết kế nhằm định hướng, quản lý và phát triển đời sống văn hóa xã hội, bao gồm các quy định pháp lý, chương trình hành động và cơ chế phân bổ nguồn lực để bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, thúc đẩy sáng tạo các giá trị mới, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của mọi công dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh Việt Nam, chính sách văn hóa không chỉ thể hiện qua các văn bản pháp quy như Hiến pháp năm 2013, Luật Di sản văn hóa năm 2024, Nghị quyết số 33-NQ/TW và Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 mà còn được triển khai thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Điểm then chốt của các chính sách này là kết hợp bảo vệ bản sắc văn hóa với nâng cao đời sống, phát triển du lịch văn hóa và tăng cường sự tham gia chủ động của cộng đồng.

Chính sách văn hóa đóng vai trò then chốt trong hệ thống chính sách công của Việt Nam, thể hiện qua việc Nhà nước xây dựng khung pháp lý và cơ chế quản lý nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Các văn bản chính sách hiện hành cho thấy Nhà nước vừa giữ vai trò định hướng, hỗ trợ nguồn lực, vừa đặt ra yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể di sản, cộng đồng quản lý di sản và nghệ nhân di sản văn hóa phi vật thể. Đặc biệt, trong bối cảnh đa dân tộc, chính sách văn hóa còn mang sứ mệnh bảo vệ quyền văn hóa và bản sắc của các cộng đồng thiểu số, trong đó có người Dao.

Vai trò của Nhà nước được thể hiện rõ nét qua việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách cụ thể. Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình mục tiêu quốc gia, tiêu biểu là Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Các chính sách này không chỉ tập trung vào bảo tồn di sản mà còn hướng đến phát triển du lịch văn hóa và nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đặt ra yêu cầu tăng cường cơ chế tham vấn, bảo đảm phân bổ nguồn lực minh bạch và tránh tình trạng hoạt động bảo tồn chỉ dừng ở hình thức.

Để khắc phục những tồn tại này, cần có sự đổi mới căn bản trong cách tiếp cận. Nhà nước nên chuyển từ vai trò quản lý hành chính sang kiến tạo thể chế, tạo điều kiện để cộng đồng người Dao thực sự trở thành chủ thể trong quá trình bảo tồn văn hóa. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập và minh bạch, bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả.

Tuyên bố của UNESCO năm 2001 về đa dạng văn hóa và Công ước UNESCO năm 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đều nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc nhận diện, bảo vệ, truyền dạy và phát huy giá trị di sản văn hóa3. Do đó, trong giai đoạn tới, cần đẩy mạnh việc trao quyền cho người Dao trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa của họ. Cùng với đó là sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển kinh tế bền vững. Như vậy, để nâng cao hiệu quả chính sách văn hóa đối với người Dao, cần có sự điều chỉnh cả về thể chế và cách thức triển khai. Trong đó, yếu tố then chốt là tăng cường sự tham gia của cộng đồng và bảo đảm tính minh bạch trong quản lý nguồn lực. Chỉ khi nào người Dao thực sự trở thành chủ thể của quá trình bảo tồn và phát huy văn hóa, các chính sách mới phát huy được giá trị bền vững.

3. Quyền chủ thể văn hóa của người Dao

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, quyền chủ thể văn hóa ngày càng được khẳng định là nguyên tắc cốt lõi trong quản trị văn hóa hiện đại. Từ cách tiếp cận của UNESCO về đa dạng văn hóa và di sản phi vật thể, quyền chủ thể văn hóa có thể được hiểu là quyền của cộng đồng trong việc nhận diện, thực hành, truyền dạy, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của mình3. Đối với người Dao – cộng đồng dân tộc thiểu số có dân số 891.151 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019- quyền này cần được hiểu toàn diện, bao gồm: quyền thực hành văn hóa truyền thống (ngôn ngữ, tín ngưỡng, lễ hội); quyền tham gia hoạch định chính sách và quyền tiếp cận, quản lý các nguồn lực văn hóa phù hợp với quy định pháp luật.

Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5, Điều 42) và Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã ghi nhận các quyền văn hóa cơ bản của công dân, cộng đồng và các dân tộc thiểu số4. Luật Di sản văn hóa năm 2024 cũng nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng quyền của chủ thể di sản văn hóa phi vật thể và nghệ nhân trong việc quyết định những yếu tố cần được bảo vệ, hình thức và mức độ phát huy của di sản. Tuy nhiên, trong thực tiễn thực thi, quyền tham gia của cộng đồng vẫn cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng quy trình tham vấn, cơ chế đại diện và phương thức phân bổ nguồn lực trực tiếp, minh bạch hơn.

Nguyên nhân chính xuất phát từ ba rào cản thể chế: (1) Thiếu cơ chế pháp lý đủ cụ thể để công nhận tư cách chủ thể của cộng đồng trong từng chương trình bảo tồn; (2) Mô hình quản lý văn hóa ở cơ sở vẫn còn thiên về hành chính hóa; (3) Năng lực tự quản và năng lực tổ chức hoạt động bảo tồn của cộng đồng chưa được đầu tư đúng mức. Để khắc phục, cần triển khai đồng bộ ba giải pháp: (1) Xây dựng khung pháp lý về quyền chủ thể văn hóa; (2) Thí điểm mô hình hội đồng văn hóa cộng đồng người Dao tại các địa phương trọng điểm và (3) Thiết lập cơ chế tài chính đặc thù hỗ trợ trực tiếp cho các sáng kiến bảo tồn do cộng đồng khởi xướng.

Việc hiện thực hóa quyền chủ thể văn hóa không chỉ là yêu cầu bức thiết để bảo tồn di sản người Dao trước nguy cơ mai một mà còn là minh chứng cho cam kết của Việt Nam trong thực hiện Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.

4. Thực trạng thực thi chính sách bảo tồn văn hóa người Dao

Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành và triển khai nhiều chính sách nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có cộng đồng người Dao. Tiêu biểu là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg, trong đó Dự án 6 tập trung vào bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch5. Ngoài ra, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Luật Di sản văn hóa năm 2024 và chính sách xét tặng danh hiệu nghệ nhân trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể đã tạo thêm căn cứ pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn ở địa phương.

Về phương thức tổ chức thực thi, các chính sách được triển khai thông qua cơ chế phân cấp từ trung ương đến địa phương, kết hợp với lồng ghép trong kế hoạch phát triển văn hóa – xã hội hằng năm. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giữ vai trò chủ trì chuyên môn về di sản và văn hóa; Ủy ban Dân tộc phối hợp trong các nội dung liên quan đến chính sách dân tộc; các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Ở cấp huyện, xã và thôn bản, cán bộ văn hóa cơ sở, nghệ nhân và người có uy tín trong cộng đồng là lực lượng quan trọng trong tổ chức lớp truyền dạy, phục dựng nghi lễ, sưu tầm tri thức dân gian và duy trì sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Trên thực tế, việc thực thi chính sách đã mang lại một số kết quả đáng ghi nhận. Một số địa phương có đông người Dao sinh sống đã quan tâm phục dựng và duy trì nghi lễ cấp sắc – một biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của người Dao. Các hoạt động truyền dạy chữ Nôm Dao, dân ca, tri thức dân gian, nghề thủ công và trang phục truyền thống được triển khai ở nhiều mô hình khác nhau, chủ yếu dựa vào sự tham gia của nghệ nhân và cộng đồng. Một số nghệ nhân người Dao được đề nghị xét tặng hoặc phong tặng danh hiệu trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể theo quy định của pháp luật. Hệ thống nhà văn hóa thôn bản tại một số khu dân cư người Dao cũng được sử dụng làm không gian tổ chức lễ hội, lớp học và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều hoạt động văn hóa được tổ chức mang tính trình diễn, thiếu chiều sâu truyền thống, chưa phản ánh đúng bản sắc gốc. Các mô hình tổ chức còn nặng về hành chính – mệnh lệnh, trong khi sự tham gia của người Dao chủ yếu ở vai trò thụ hưởng, không phải là đồng kiến tạo chính sách. Hệ thống thiết chế được đầu tư nhưng thiếu nội dung hoạt động thực chất, chủ yếu phục vụ các sự kiện nhất thời. Chưa có cơ chế hỗ trợ ổn định cho đội ngũ truyền dạy văn hóa dân tộc tại cộng đồng, dẫn đến nguy cơ đứt gãy giữa các thế hệ. Một số lễ hội truyền thống bị lồng ghép, pha trộn hoặc bị thương mại hóa quá mức làm giảm tính linh thiêng và tính cộng đồng vốn có.

Bảng 1: Tổng hợp chính sách bảo tồn văn hóa người Dao

Chính sách/Chương trìnhPhương thức triển khaiKết quả/ý nghĩa chính sáchGiải pháp
Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 (Dự án 6)Phân bổ ngân sách trung ương và địa phương; tổ chức hoạt động bảo tồn, phục dựng, truyền dạy và phát triển du lịch cộng đồngTạo khuôn khổ chính sách cho bảo tồn văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịchCần tăng cường cơ chế tham vấn cộng đồng, giám sát nguồn lực và đánh giá chất lượng thay vì chỉ thống kê đầu ra
Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (Quyết định số 1909/QĐ-TTg)Lồng ghép mục tiêu phát triển văn hóa trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phươngKhẳng định định hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và nâng cao năng lực quản trị văn hóaCần cụ thể hóa thành chỉ tiêu và mô hình thực thi phù hợp với từng cộng đồng dân tộc thiểu số
Luật Di sản văn hóa năm 2024Quy định nguyên tắc quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản; xác định quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu, cộng đồng, nghệ nhân và chủ thể di sảnTạo cơ sở pháp lý để tôn trọng quyền của chủ thể di sản văn hóa phi vật thể và ưu tiên bảo vệ di sản của đồng bào dân tộc thiểu sốCần văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế đại diện cộng đồng, tham vấn và hỗ trợ trực tiếp cho sáng kiến bảo tồn
Nghị định số 62/2014/NĐ-CP về xét tặng danh hiệu nghệ nhânThẩm định, xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thểGóp phần ghi nhận vai trò của người nắm giữ, truyền dạy và phát huy tri thức văn hóa truyền thốngChính sách đãi ngộ và cơ chế truyền dạy sau phong tặng cần được tiếp tục hoàn thiện
Kế hoạch bảo tồn văn hóa cấp tỉnhCụ thể hóa các chính sách trung ương thành kế hoạch phục dựng nghi lễ, truyền dạy chữ viết, bảo tồn trang phục, dân ca, nghề thủ công và sinh hoạt văn hóa cộng đồngMột số mô hình dựa vào nghệ nhân, người có uy tín và cộng đồng đã tạo chuyển biến tích cực ở cơ sởNguồn lực duy trì còn hạn chế; mô hình tự quản văn hóa chưa có cơ sở pháp lý và cơ chế tài chính ổn định
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các văn bản chính sách: Quyết định số 1719/QĐ-TTg; Quyết định số 1909/QĐ-TTg; Luật Di sản văn hóa năm 2024; Nghị định số 62/2014/NĐ-CP và thực tiễn triển khai ở một số địa phương.

Nguyên nhân của những hạn chế trên đến từ nhiều yếu tố. Thể chế thực thi hiện tại còn thiếu cơ chế “trao quyền văn hóa” rõ ràng. Quyền chủ thể của cộng đồng người Dao trong bảo tồn văn hóa mới chỉ được khẳng định về mặt nguyên tắc, chưa được cụ thể hóa bằng cơ chế pháp lý và tổ chức đủ mạnh. Quy trình xây dựng kế hoạch còn thiếu sự tham vấn thực chất với đại diện cộng đồng, dẫn đến khoảng cách giữa thiết kế chính sách và nhu cầu thực tế. Năng lực của đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở còn hạn chế, thiếu kiến thức chuyên môn về văn hóa dân tộc và bảo tồn phi vật thể. Việc đánh giá hiệu quả thực thi vẫn dựa chủ yếu vào chỉ tiêu đầu ra (số lớp, số buổi, số công trình) mà chưa có công cụ đo lường mức độ tham gia, năng lực tự quản hay khả năng truyền tiếp của cộng đồng trong bảo tồn văn hóa lâu dài.

Để nâng cao chất lượng thực thi chính sách cần sớm thiết kế lại cấu trúc thể chế theo hướng tăng cường đồng quản trị giữa chính quyền và cộng đồng; công nhận và hỗ trợ vai trò của các thiết chế văn hóa tự quản; thiết lập bộ chỉ số giám sát dựa trên quyền văn hóa và mức độ chủ động của cộng đồng thay vì chỉ tập trung vào số liệu hành chính.

5. Giải pháp chính sách

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách bảo tồn văn hóa người Dao trong giai đoạn tới cần định hướng điều chỉnh theo hướng củng cố quyền văn hóa của cộng đồng, tái cấu trúc cơ chế thực thi và hoàn thiện công cụ đánh giá dựa trên mức độ chủ thể hóa. Ba nhóm giải pháp được đề xuất với mục tiêu hình thành một hệ thống chính sách không chỉ hỗ trợ cộng đồng người Dao trong bảo tồn di sản mà còn khẳng định họ là chủ thể trung tâm trong tiến trình gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa.

Thứ nhất, về thể chế, xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý công nhận quyền văn hóa cộng đồng.

Việc thể chế hóa quyền chủ thể văn hóa cần được cụ thể hóa thông qua các quy định của Luật Di sản văn hóa năm 2024 và các văn bản hướng dẫn theo hướng công nhận vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó có người Dao, là chủ thể trực tiếp của hoạt động bảo tồn. Cần nghiên cứu bổ sung cơ chế vận hành cho các “thiết chế văn hóa tự quản”, tạo cơ sở pháp lý cho hội nghệ nhân, nhóm gìn giữ nghi lễ truyền thống, câu lạc bộ văn hóa dân gian hoặc tổ cộng đồng bảo tồn di sản. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp cho các sáng kiến bảo tồn do cộng đồng đề xuất, có sự đồng giám sát giữa chính quyền, nghệ nhân và đại diện cộng đồng.

Thứ hai, về tổ chức thực hiện, thiết lập cơ chế đồng quản trị văn hóa giữa chính quyền và cộng đồng.

Chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc Dao cần chuyển từ mô hình “triển khai từ trên xuống” sang mô hình “đồng thiết kế – đồng thực hiện – đồng kiểm soát”. Theo đó, cần xây dựng quy trình tham vấn chính thức trong các chương trình bảo tồn có liên quan đến cộng đồng người Dao, đặc biệt tại giai đoạn xác định nhu cầu, lựa chọn mô hình và tổ chức thực hiện. Khuyến khích hình thành các “hội đồng văn hóa cộng đồng” cấp thôn, xã với sự tham gia của người Dao có vai trò đề xuất chương trình, theo dõi tiến độ và kiểm tra tính phù hợp về văn hóa – xã hội. Việc phân cấp ngân sách cũng cần được cải thiện theo hướng tăng tính linh hoạt cho địa phương trong việc sử dụng quỹ văn hóa theo đề án cộng đồng được phê duyệt.

Thứ ba, về giám sát và đánh giá, xây dựng bộ chỉ số dựa trên quyền văn hóa và mức độ tham gia cộng đồng.

Hệ thống đánh giá hiệu quả chính sách bảo tồn cần chuyển từ cách đo lường thiên về số lượng hoạt động sang cách đánh giá kết hợp giữa chỉ tiêu đầu ra và chỉ tiêu chất lượng, nhấn mạnh các yếu tố như: mức độ tham gia của người Dao trong xây dựng và tổ chức hoạt động; tính nguyên bản và liên tục của các thực hành văn hóa; năng lực tự tổ chức của cộng đồng; mức độ kế thừa giữa các thế hệ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì xây dựng khung chỉ số đánh giá thực thi chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số dựa trên quyền cộng đồng để áp dụng thí điểm tại các địa phương có đông đồng bào Dao cư trú, làm cơ sở điều chỉnh chính sách kịp thời, sát thực tế.

Ba nhóm giải pháp nêu trên không chỉ hướng tới khắc phục những bất cập trong thực tiễn thực thi hiện nay mà còn góp phần xây dựng một mô hình quản trị văn hóa hiện đại – nơi cộng đồng dân tộc không chỉ là người gìn giữ di sản mà còn là đối tác chính thức của Nhà nước trong việc duy trì sự đa dạng và phát triển văn hóa bền vững. Trong bối cảnh hội nhập, phát huy vai trò chủ thể văn hóa của người Dao cũng chính là khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam đa tộc người trong một quốc gia dân chủ, pháp quyền và văn hóa.

6. Kết luận

Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số, trong đó có người Dao, không chỉ là một lĩnh vực chuyên môn của ngành Văn hóa mà còn là biểu hiện cụ thể của cam kết chính trị, thể hiện vai trò kiến tạo và bảo đảm công bằng văn hóa của Nhà nước đối với các cộng đồng yếu thế trong quá trình phát triển. Qua phân tích thực tiễn thực thi chính sách trong thời gian qua, có thể thấy Nhà nước đã bước đầu xây dựng được hệ thống thể chế, chương trình và nguồn lực tương đối đầy đủ cho công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Dao. Tuy nhiên, những hạn chế về cơ chế tham gia, phương thức tổ chức thực hiện và đặc biệt là thiếu khung pháp lý công nhận quyền văn hóa cộng đồng vẫn đang cản trở hiệu lực và tính bền vững của các chính sách hiện hành.

Để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần chuyển hướng từ tiếp cận “hành chính – cấp phát” sang mô hình “quản trị văn hóa đồng kiến tạo”, trong đó cộng đồng người Dao được công nhận và tạo điều kiện đầy đủ để trở thành chủ thể văn hóa, có quyền tự quyết, tự tổ chức và tự đánh giá quá trình bảo tồn của chính mình. Việc xây dựng khung pháp lý cho các thiết chế văn hóa tự quản, thiết lập cơ chế đồng giám sát giữa chính quyền và cộng đồng cũng như thiết kế lại hệ thống đánh giá theo tiêu chí dựa trên quyền văn hóa là những điều kiện cần thiết để tạo ra đột phá trong giai đoạn tiếp theo.

Từ góc độ học thuật, vấn đề quyền chủ thể văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và người Dao nói riêng, cần được tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống, đặc biệt trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền văn hóa, quyền bản địa, cũng như các mô hình quản trị văn hóa đa dân tộc trong khu vực và thế giới. Từ góc độ chính sách, cần có những đánh giá tác động độc lập đối với các chương trình đã thực hiện nhằm điều chỉnh chiến lược can thiệp, nâng cao năng lực thể chế ở cấp địa phương và xây dựng hành lang pháp lý cho sự tham gia chủ động, bình đẳng và bền vững của cộng đồng trong đời sống văn hóa.

Bảo tồn văn hóa người Dao không thể chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật, mà phải được nhìn nhận như một tiến trình chính trị – xã hội dài hạn, trong đó quyền làm chủ văn hóa là yếu tố trung tâm. Khi cộng đồng được trao quyền thực sự, di sản văn hóa không chỉ được gìn giữ, mà còn trở thành nền tảng nội sinh cho sự phát triển tự cường, hội nhập và bền vững của chính cộng đồng đó trong một quốc gia đa dạng và đoàn kết.

Chú thích:
1. Tác giả tổng hợp kết quả từ các nguồn: Tổng cục Thống kê; Ủy ban Dân tộc. Người Dao. Cổng thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc.
2. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
3. UNESCO (2001). UNESCO Universal Declaration on Cultural Diversity, adopted by the 31st session of the General Conference of UNESCO, Paris, 2 November 2001; UNESCO (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, adopted in Paris on 17 October 2003.
4. Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
5. Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Chính phủ (2014). Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014 quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
2. Chính phủ (2014). Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31/12/2014 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014.
3. Chính phủ (2014). Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25/6/2014 quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
8. UNESCO (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, adopted in Paris on 17 October 2003.