Kỷ nguyên mới, cơ hội và thách thức đổi mới quản trị công ở Việt Nam

New era: opportunities and challenges for public governance innovation in Vietnam

TS. Nguyễn Đức Thắng
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Kỷ nguyên mới đang làm thay đổi sâu sắc môi trường vận hành của nhà nước và khu vực công. Sự phát triển nhanh của công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, cùng với yêu cầu phát triển bền vững, quản trị minh bạch và chất lượng phục vụ ngày càng cao đã đặt quản trị công trước những yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Đối với Việt Nam, quá trình đó diễn ra đồng thời với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia và sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Bài viết tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm của kỷ nguyên mới, phân tích bối cảnh quản trị công ở Việt Nam, nhận diện những cơ hội và thách thức chủ yếu đối với quản trị công trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị công ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới. 

Từ khóa: Kỷ nguyên mới; quản trị công; Việt Nam; chuyển đổi số; tinh gọn bộ máy; cải cách hành chính.

Abstract: The new era is profoundly transforming the operational environment of the state and the public sector. The rapid advancement of digital technologies, big data, and artificial intelligence, together with increasing demands for sustainable development, transparent governance, and higher-quality public services, has created a strong impetus for innovation in public governance. In Vietnam, these developments are taking place alongside ongoing efforts to advance administrative reform, promote national digital transformation, and streamline the organizational apparatus to enhance effectiveness, efficiency, and performance. This article clarifies the concept and key characteristics of the new era, analyzes the context of public governance in Vietnam, and identifies the major opportunities and challenges facing public governance in the current period. The study highlights opportunities arising from technological innovation, data-driven governance, enhanced citizen participation, and improved public service delivery, while also addressing challenges related to institutional adaptation, digital capacity, cybersecurity, data governance, and human resource development in the public sector. Based on this analysis, the article proposes several recommendations aimed at strengthening public governance capacity in Vietnam, thereby contributing to the development of a modern, effective, accountable, and citizen-centered public administration in the new era.

Keywords: New era; public governance; Viet Nam; digital transformation; organizational streamlining; administrative reform.

1. Kỷ nguyên mới và bối cảnh quản trị công ở Việt Nam

Kỷ nguyên mới không chỉ là một cách gọi mang tính thời điểm mà là một giai đoạn phát triển mới của đời sống quốc gia và thế giới, trong đó những biến đổi về công nghệ, kinh tế, xã hội, môi trường và quan hệ quốc tế diễn ra nhanh hơn, sâu rộng hơn và có tác động đồng thời đến mọi lĩnh vực của quản trị quốc gia. Trong giai đoạn này, công nghệ số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), đổi mới sáng tạo, kết nối toàn cầu sâu rộng và yêu cầu phát triển bền vững cùng lúc làm thay đổi căn bản môi trường phát triển, phương thức điều hành và tiêu chuẩn của một nền quản trị hiện đại. Chính vì vậy, kỷ nguyên mới phải được hiểu như một trạng thái phát triển mới, buộc Nhà nước chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị công hiện đại, linh hoạt, liên thông hơn, dựa nhiều hơn vào dữ liệu và hướng mạnh hơn tới chất lượng phục vụ người dân. Định hướng phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia của Việt Nam phản ánh khá rõ tinh thần đó. Có thể nhận diện kỷ nguyên mới qua một số đặc điểm nổi bật.

Trước hết, tri thức, công nghệ và dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực phát triển có ý nghĩa quyết định. Trong thực tiễn Việt Nam, dữ liệu đang từng bước trở thành một nguồn lực quan trọng phục vụ quản trị quốc gia và chuyển đổi số. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu phát triển, kết nối và khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử nhằm phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Quyết định cũng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thực hiện nguyên tắc “không yêu cầu người dân khai báo lại các thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia” (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Báo cáo của Chính phủ về kết quả triển khai Đề án 06 cho thấy, việc cấp tài khoản định danh điện tử và mở rộng ứng dụng VNeID đã tạo điều kiện để nhiều dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu và tiện ích số được thực hiện trên môi trường điện tử; đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân phải xuất trình và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương (Chính phủ, 2025). Những kết quả này cho thấy, quản trị công ở Việt Nam đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa chủ yếu trên hồ sơ giấy sang tăng cường khai thác dữ liệu số trong hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ công.

Nếu ở các giai đoạn trước, quản trị công chủ yếu dựa vào hồ sơ hành chính, quy trình và kinh nghiệm quản lý, thì hiện nay việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và cung ứng dịch vụ công ngày càng đòi hỏi thông tin đầy đủ, dữ liệu chuẩn xác và khả năng phân tích nhanh.

Thứ hai, môi trường quản trị trở nên biến động nhanh hơn, khó dự báo hơn và tiềm ẩn nhiều rủi ro phi truyền thống hơn, từ an ninh mạng, biến đổi khí hậu, già hóa dân số đến các cú sốc kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, các vấn đề công ngày càng mang tính liên ngành, liên vùng, liên cấp, làm cho quản trị công không thể vận hành hiệu quả nếu tiếp tục theo lối chia cắt hành chính khép kín. Đồng thời, người dân và doanh nghiệp ngày càng đòi hỏi cao hơn về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, tốc độ xử lý công việc và chất lượng phục vụ.

Thứ ba, phát triển trong kỷ nguyên mới không chỉ hướng đến tăng trưởng mà còn phải gắn với bền vững, bao trùm, công bằng và khả năng chống chịu thể chế. Những năm gần đây, môi trường quản trị quốc gia chịu tác động ngày càng mạnh của các rủi ro toàn cầu như biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, xung đột địa chính trị, mất an toàn không gian mạng, thông tin sai lệch và những biến động do sự phát triển nhanh của các công nghệ mới, trong đó có AI. Theo World Economic Forum, trong The Global Risks Report 2026, các rủi ro được đánh giá có mức độ nghiêm trọng cao trong ngắn hạn bao gồm xung đột giữa các quốc gia, đối đầu địa kinh tế, thông tin sai lệch và mất an toàn không gian mạng; trong khi về dài hạn, các rủi ro môi trường như hiện tượng thời tiết cực đoan, suy giảm đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu tiếp tục được xếp trong nhóm rủi ro toàn cầu có tác động lớn nhất. Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng sự phát triển nhanh của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời làm gia tăng các rủi ro về an ninh mạng, tính toàn vẹn của thông tin và quản trị công nghệ (World Economic Forum, 2026, Chapter 1, Figures 1.3, 1.4 và 1.5). Trong bối cảnh đó, yêu cầu nâng cao năng lực quản trị nhà nước theo hướng chủ động, thích ứng và dựa trên dữ liệu ngày càng trở nên cấp thiết. Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc đối với mọi nền quản trị công, trong đó có Việt Nam.

Thực tiễn hiện nay, quản trị công ở Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi có ý nghĩa chiến lược. Một mặt, Việt Nam đã có những nền tảng quan trọng về cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia và thúc đẩy các nền tảng quản trị hiện đại. Quản trị công ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cải cách hành chính và chuyển đổi số. Theo Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của Bộ Nội vụ, kết quả cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tiếp tục được cải thiện; nhiều địa phương đạt kết quả cao trong các tiêu chí về cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền điện tử và chính quyền số (Bộ Nội vụ, 2025 a, Chương II; Phụ lục kết quả PAR INDEX năm 2024). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 cho thấy, mức độ hài lòng của người dân tiếp tục duy trì ở mức cao; người dân đánh giá tích cực hơn về khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công, thái độ phục vụ của công chức và kết quả giải quyết thủ tục hành chính (Bộ Nội vụ, 2025 b, Chương III).

Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024 cũng ghi nhận nhiều địa phương có cải thiện về công khai, minh bạch, kiểm soát tham nhũng trong khu vực công, trách nhiệm giải trình với người dân và chất lượng cung ứng dịch vụ công, mặc dù vẫn còn sự khác biệt giữa các địa phương (CECODES, UNDP, 2025). Những kết quả này cho thấy, quá trình đổi mới quản trị công ở Việt Nam đã tạo dựng được những nền tảng quan trọng cho việc xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ. Tuy nhiên, các kết quả này cũng đồng thời gợi mở rằng quá trình đổi mới quản trị công vẫn cần được tiếp tục đẩy mạnh theo hướng hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm và nâng cao năng lực thực thi của bộ máy công quyền.

Mặt khác, quản trị công ở Việt Nam hiện nay diễn ra đồng thời với quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao trách nhiệm người đứng đầu; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ (Chính phủ, 2026). Chủ trương này thống nhất với định hướng của Đại hội XIV của Đảng về tiếp tục xây dựng bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.

Điều đó có nghĩa là quản trị công ở Việt Nam hiện nay không chỉ thay đổi bởi tác động của công nghệ hay môi trường phát triển mới, mà còn đang được định hình lại từ bên trong bởi một quá trình cải tổ tổ chức và phương thức vận hành của cả hệ thống công quyền. Điểm mới của giai đoạn hiện nay là việc đổi mới quản trị công được triển khai đồng thời với cuộc cải cách tổ chức bộ máy trên quy mô lớn nhất trong nhiều năm qua. Sau Đại hội XIV của Đảng, việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trung gian, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức vận hành của hệ thống hành chính nhà nước. Đây vừa là cơ hội để tái cấu trúc nền hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả, vừa đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực điều phối, quản trị chuyển đổi và kiểm soát quyền lực.

Bối cảnh quản trị công của Việt Nam hiện nay đang chịu tác động đồng thời của ba quá trình lớn: (1) chuyển đổi số quốc gia, (2) cải cách tổ chức bộ máy, (3) hội nhập sâu rộng vào môi trường quản trị toàn cầu. Ba quá trình này diễn ra song song, có mối quan hệ tương hỗ và đang làm thay đổi cả phương thức xây dựng chính sách, tổ chức thực thi, cung ứng dịch vụ công và đánh giá hiệu quả quản trị. Vì vậy, yêu cầu đổi mới quản trị công không chỉ xuất phát từ những biến đổi của môi trường quốc tế mà còn từ chính yêu cầu phát triển nội tại của Việt Nam trong giai đoạn mới. Như vậy, bối cảnh quản trị công ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới có thể được nhìn nhận qua ba điểm cốt lõi: (1) Môi trường quản trị đã thay đổi nhanh hơn, mở hơn và phức tạp hơn; (2) Hệ thống công quyền Việt Nam đã có nền tảng cải cách đáng kể nhưng vẫn đang ở giữa quá trình chuyển đổi từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị công hiện đại; (3) Sự chuyển đổi ấy đang gắn trực tiếp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ và đổi mới phương thức vận hành trong toàn hệ thống chính trị. Đây là tiền đề quan trọng để nhận diện đúng những cơ hội và thách thức đối với quản trị công ở Việt Nam hiện nay.

2. Cơ hội và thách thức đối với quản trị công ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trước hết, kỷ nguyên mới mở ra cơ hội lớn để hiện đại hóa quản trị công ở Việt Nam. Sự phát triển của công nghệ số, dữ liệu lớn, định danh điện tử, nền tảng số dùng chung và các cơ sở dữ liệu quốc gia tạo điều kiện để nhà nước rút ngắn quy trình xử lý công việc, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính công khai, minh bạch và cải thiện độ chính xác trong điều hành. Trong thực tiễn Việt Nam, dữ liệu đang từng bước trở thành một nguồn lực quan trọng phục vụ quản trị quốc gia và chuyển đổi số. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu phát triển, kết nối và khai thác hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử nhằm phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Quyết định cũng yêu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thực hiện nguyên tắc “không yêu cầu người dân khai báo lại các thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia” (Thủ tướng Chính phủ, 2022, Mục III, Phần II).

Báo cáo của Chính phủ về kết quả triển khai Đề án 06 cho thấy, việc cấp tài khoản định danh điện tử và mở rộng ứng dụng VNeID đã tạo điều kiện để nhiều dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu và tiện ích số được thực hiện trên môi trường điện tử; đồng thời góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân phải xuất trình và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương (Chính phủ, 2025). Những kết quả này cho thấy, quản trị công ở Việt Nam đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý dựa chủ yếu trên hồ sơ giấy sang tăng cường khai thác dữ liệu số trong hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ công. Quá trình chuyển đổi từ nền hành chính giấy tờ sang nền hành chính số đang từng bước được hiện thực hóa.

Thứ hai, là nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi của bộ máy công quyền. Quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ và thực chất được kỳ vọng sẽ giúp giảm tầng nấc trung gian, khắc phục trùng lặp chức năng, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm, từ đó rút ngắn thời gian ra quyết định và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan. Trong điều kiện môi trường quản trị biến động nhanh, đây là một lợi thế có ý nghĩa quan trọng. Thực tiễn cải cách tổ chức bộ máy trong thời gian qua cho thấy, mục tiêu của việc sắp xếp không chỉ dừng ở việc giảm đầu mối, tinh giản biên chế mà còn hướng đến cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, giảm chồng chéo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ xác định tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao trách nhiệm người đứng đầu; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ.

Đồng thời, yêu cầu tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật; nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh như một trong những nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 (Chính phủ, 2026, Mục). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đẩy mạnh cải cách nền hành chính, tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”; đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân định rõ trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).

Thứ ba, là thúc đẩy mạnh hơn mô hình quản trị công lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Trong kỷ nguyên mới, các nền tảng số tạo điều kiện để cơ quan nhà nước tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân nhanh hơn, mở rộng khả năng đo lường mức độ hài lòng và theo dõi chất lượng thực thi chính sách, dịch vụ công. Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 cho thấy, mức độ hài lòng của người dân tiếp tục duy trì ở mức cao, phản ánh những chuyển biến tích cực trong chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, thái độ phục vụ của đội ngũ công chức và việc cung ứng dịch vụ hành chính công (Bộ Nội vụ, 2025). Đồng thời, Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024 tiếp tục đánh giá trải nghiệm của người dân đối với hiệu quả quản trị và hành chính công ở địa phương thông qua các nội dung như công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tham nhũng trong khu vực công và cung ứng dịch vụ công (CECODES, UNDP, 2025).

Những kết quả này cho thấy, quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận coi trọng quy trình hành chính sang chú trọng hơn đến chất lượng phục vụ và kết quả mang lại cho người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc mở rộng các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và các nền tảng số của địa phương đã giúp cơ quan nhà nước tiếp nhận phản hồi nhanh hơn và nâng cao trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ. Đây là một cơ hội có ý nghĩa quan trọng để làm sâu sắc hơn bản chất phục vụ của nền hành chính nhà nước.

Thứ tư, là tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực thích ứng phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gắn chặt với chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị, một nền quản trị công hiện đại, minh bạch, số hóa tốt và có năng lực điều hành linh hoạt sẽ tạo lợi thế lớn cho phát triển kinh tế – xã hội. Do đó, đổi mới quản trị công không chỉ là yêu cầu nội bộ của bộ máy nhà nước, mà còn là điều kiện trực tiếp để Việt Nam nâng cao chất lượng tăng trưởng, thu hút đầu tư, phát triển đổi mới sáng tạo và củng cố niềm tin xã hội. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều vào chất lượng thể chế và năng lực quản trị, hiệu quả quản trị công được coi là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho rằng chất lượng quản trị, bao gồm hiệu lực của Chính phủ, chất lượng điều tiết và pháp quyền, có mối quan hệ chặt chẽ với hiệu quả phát triển kinh tế và chất lượng môi trường thể chế (World Bank, 2024). OECD cũng nhấn mạnh rằng xây dựng Chính phủ số, quản trị dựa trên dữ liệu, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và lấy người dân làm trung tâm là những điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực quản trị và tạo giá trị công (OECD, 2025). Đối với Việt Nam, việc đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư trong những năm gần đây đã góp phần nâng cao niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và tăng cường khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động toàn cầu.

Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là những thách thức đáng kể.

Một là, thách thức về tư duy quản trị. Trong khi kỷ nguyên mới đòi hỏi quản trị công phải linh hoạt, liên thông, phối hợp đa chủ thể và dựa trên dữ liệu, thì ở không ít nơi vẫn còn dấu vết của tư duy quản lý thiên về chia cắt theo ngành, theo cấp, theo quy trình cứng. Khi môi trường thay đổi nhanh nhưng mô hình điều hành chậm thay đổi, nguy cơ lớn nhất là bộ máy phản ứng chậm hơn so với yêu cầu của thực tiễn. Thực tế cho thấy, ở một số lĩnh vực vẫn còn hiện tượng phối hợp liên ngành chưa hiệu quả, tâm lý e ngại trách nhiệm, xử lý công việc theo quy trình hành chính truyền thống và chưa khai thác đầy đủ dữ liệu trong hoạch định chính sách. Điều này làm giảm khả năng phản ứng chính sách trước những vấn đề mới phát sinh và ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị trong môi trường biến động nhanh.

Hai là, quản trị quá trình chuyển đổi tổ chức bộ máy. Tinh gọn tổ chức bộ máy là yêu cầu đúng đắn, song quá trình triển khai luôn tiềm ẩn những sức ép rất lớn về ổn định tổ chức, bố trí nhân sự, phân định thẩm quyền và duy trì hoạt động công vụ thông suốt. Nếu việc sắp xếp chỉ dừng lại ở thay đổi cơ học về đầu mối mà không đổi mới quy trình vận hành, không chuẩn hóa trách nhiệm và không gắn với nâng cao năng lực thực thi, thì hiệu quả cải cách sẽ bị hạn chế. Vì vậy, đây vừa là một cơ hội lớn, vừa là một thử thách không nhỏ đối với năng lực quản trị chuyển đổi của nhà nước. Thực tiễn cải cách tổ chức bộ máy cho thấy quá trình chuyển đổi luôn đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác quản trị thay đổi. Việc sáp nhập đơn vị, điều chỉnh chức năng, phân công lại nhiệm vụ và bố trí nhân sự nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể làm phát sinh khoảng trống trong thực thi công vụ hoặc ảnh hưởng đến tính liên tục của việc cung ứng dịch vụ công. Do đó, đổi mới tổ chức cần đi đôi với đổi mới quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ số và nâng cao năng lực của đội ngũ công chức.

Ba là, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều so với yêu cầu của kỷ nguyên mới. Quản trị công hiện đại đòi hỏi công chức không chỉ nắm quy định pháp luật, mà còn phải có năng lực số, tư duy dữ liệu, kỹ năng phối hợp liên ngành, kỹ năng phân tích chính sách và khả năng giải quyết vấn đề trong môi trường phức hợp. Trong khi đó, việc chuyển mạnh từ “làm theo kinh nghiệm” sang “làm theo bằng chứng”, từ “xử lý hồ sơ” sang “giải quyết vấn đề công” vẫn là thách thức thực chất đối với nhiều cơ quan, đơn vị trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay, nhất là ở cơ sở. Bên cạnh những kết quả tích cực của cải cách công vụ, sự chênh lệch về năng lực số, kỹ năng phân tích dữ liệu và khả năng thích ứng với công nghệ mới giữa các địa phương và giữa các cấp chính quyền vẫn còn khá lớn. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong khu vực công trên thế giới, yêu cầu nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức ở Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây cũng là một trong những nội dung được Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số quốc gia.

Bốn là, dữ liệu, hạ tầng số và an toàn quản trị số. Mặc dù Việt Nam đã đầu tư nhiều cho cơ sở dữ liệu và các nền tảng chuyển đổi số, song dữ liệu vẫn còn hiện tượng phân tán, mức độ chuẩn hóa và liên thông chưa đồng đều, trong khi năng lực khai thác dữ liệu để phục vụ dự báo và hoạch định chính sách còn hạn chế. Đi cùng với đó là áp lực ngày càng lớn về bảo mật, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều này cho thấy số hóa quy trình mới chỉ là bước đầu, thách thức lớn hơn là biến dữ liệu thành nguồn lực chính để nâng cao năng lực quản trị thực chất hơn, nhanh chóng hơn, thuận tiện hơn và an toàn hơn. Một thách thức khác là bảo đảm chất lượng dữ liệu. Trong thực tế, dữ liệu của nhiều cơ quan vẫn chưa được chuẩn hóa đồng bộ, còn tình trạng trùng lặp, thiếu cập nhật hoặc chưa sẵn sàng chia sẻ giữa các hệ thống thông tin. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng AI và hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng. Đồng thời, cùng với việc mở rộng kết nối dữ liệu là áp lực ngày càng lớn về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và bảo đảm an toàn hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước.

Năm là, bảo đảm hài hòa giữa phân cấp, phân quyền với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Phân cấp, phân quyền là xu hướng cần thiết để tăng tính chủ động, linh hoạt và rút ngắn khoảng cách giữa quản trị với thực tiễn. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả, thiếu chuẩn hóa trách nhiệm và thiếu công cụ kiểm soát quyền lực phù hợp thì nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm, lạm quyền hoặc cục bộ địa phương có thể gia tăng. Việc Nghị quyết số 01/NQ-CP nhấn mạnh gắn phân cấp, phân quyền với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực cho thấy đây là một thách thức đã được nhận diện khá rõ trong thực tiễn quản trị công ở Việt Nam hiện nay.

3. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện tư duy và khuôn khổ thể chế về quản trị công theo hướng hiện đại, phát triển và phục vụ. Điều quan trọng không chỉ là sửa đổi một số quy định riêng lẻ mà là chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính thiên về mệnh lệnh sang tư duy quản trị phát triển, quản trị dựa trên bằng chứng và quản trị tạo giá trị công. Trong cách tiếp cận này, Nhà nước không chỉ là chủ thể ban hành quy định mà còn là chủ thể thiết kế thể chế, điều phối nguồn lực, xử lý các vấn đề liên ngành, bảo đảm công bằng và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Việc tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm người đứng đầu cần được triển khai như một chỉnh thể cải cách, thay vì những điều chỉnh rời rạc. Thời gian qua nhiều cải cách quan trọng của Việt Nam, từ chuyển đổi số quốc gia, cải cách thủ tục hành chính đến sắp xếp tổ chức bộ máy, đều đòi hỏi sự thay đổi đồng thời về tư duy quản trị và khuôn khổ thể chế. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu xây dựng thể chế phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như những động lực mới của phát triển đất nước. Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế quản trị công cần được triển khai theo hướng đồng bộ, bảo đảm tính thống nhất giữa đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực.

Thứ hai, cần gắn việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy với nâng cao năng lực thực thi. Tinh gọn bộ máy không nên chỉ được hiểu là giảm đầu mối hay giảm biên chế theo nghĩa cơ học mà phải hướng tới bộ máy tinh, gọn, mạnh, rõ chức năng, rõ trách nhiệm và vận hành hiệu quả hơn. Mỗi thay đổi về cơ cấu tổ chức cần đi kèm với thiết kế lại quy trình phối hợp, chuẩn hóa vị trí việc làm, đổi mới đánh giá công chức theo kết quả và bảo đảm hoạt động công vụ không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển tiếp. Cải cách tổ chức chỉ thực sự thành công khi người dân cảm nhận được thủ tục thuận lợi hơn, thời gian xử lý nhanh hơn và chất lượng phục vụ tốt hơn. Kinh nghiệm cải cách khu vực công ở nhiều quốc gia cho thấy việc tinh gọn tổ chức chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ với đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng lực thực thi và quản lý theo kết quả. OECD nhấn mạnh cải cách khu vực công cần được thực hiện theo cách tiếp cận toàn chính phủ, gắn với quản trị dựa trên dữ liệu, quản lý kết quả thực thi, chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công lấy người dân làm trung tâm (OECD, 2025). Đối với Việt Nam, trong bối cảnh tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần đặc biệt quan tâm đến việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, chuẩn hóa quy trình giải quyết công việc trên môi trường số và xây dựng hệ thống đánh giá kết quả thực thi dựa trên sản phẩm đầu ra thay vì chỉ dựa trên quy trình hành chính.

Thứ ba, cần đẩy mạnh quản trị số và quản trị dựa trên dữ liệu như một trụ cột của đổi mới quản trị công. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nền tảng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; đồng thời, nâng cao năng lực phân tích, khai thác dữ liệu để phục vụ dự báo, giám sát và hoạch định chính sách. Điều quan trọng là phải coi dữ liệu là tài nguyên chiến lược của quản trị công, chứ không chỉ là sản phẩm phụ của quy trình hành chính. Các chủ trương về phát triển chính phủ số và Đề án 06 đã đặt nền móng cho hướng đi này, nhưng để thành công cần tiếp tục đổi mới đồng bộ cả về thể chế, công nghệ và nhân lực. Trong giai đoạn tới, trọng tâm không chỉ là số hóa hồ sơ hay cung cấp dịch vụ công trực tuyến mà cần chuyển sang khai thác dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách theo thời gian thực. Điều này đòi hỏi các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hệ thống thông tin của các địa phương phải được chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ hiệu quả hơn. Đồng thời, cần từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, dự báo chính sách, giám sát thực thi và hỗ trợ ra quyết định hành chính, trên cơ sở bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, phải đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên mới. Đây là điều kiện then chốt để mọi cải cách thể chế và công nghệ có thể phát huy hiệu quả thực chất. Đội ngũ công chức trong giai đoạn tới cần được chuẩn hóa theo hướng vừa vững về phẩm chất, kỷ luật và đạo đức công vụ, vừa mạnh về năng lực số, tư duy dữ liệu, kỹ năng phối hợp và năng lực giải quyết vấn đề công. Đào tạo, bồi dưỡng cần chuyển mạnh từ nặng về bằng cấp sang nặng về năng lực thực thi và vị trí việc làm. Đồng thời, cần có cơ chế phát hiện, khuyến khích và bảo vệ những cán bộ dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đi đôi với sàng lọc những trường hợp yếu kém, né tránh trách nhiệm hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, nhất là ở cấp cơ sở. Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý công chức theo hướng lấy năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Trong bối cảnh chuyển đổi số và ứng dụng AI ngày càng sâu rộng, việc xây dựng khung năng lực số đối với cán bộ, công chức và lồng ghép các nội dung về dữ liệu, AI, an ninh mạng, phân tích chính sách và quản trị đổi mới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào khu vực công, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ số và phân tích dữ liệu.

Thứ năm, cần kiên định nguyên tắc lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của cải cách quản trị công. Trong điều kiện mới, mọi đổi mới về thể chế, tổ chức bộ máy, công nghệ hay quy trình chỉ có ý nghĩa thực chất khi nâng cao được trải nghiệm, mức độ hài lòng và niềm tin của người dân đối với khu vực công. Điều này đòi hỏi nhà nước phải tăng cường công khai, minh bạch, đối thoại chính sách, mở rộng cơ chế phản hồi và coi trọng hơn nữa các công cụ đo lường từ góc nhìn người dân như SIPAS và PAPI. Đây không chỉ là công cụ đánh giá, mà còn là kênh phản hồi xã hội rất có giá trị để điều chỉnh quản trị công theo hướng thực chất hơn. Trong điều kiện phát triển chính phủ số, cần mở rộng hơn nữa các hình thức tham gia của người dân và doanh nghiệp vào quá trình xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách thông qua các nền tảng số. Việc khai thác dữ liệu từ các hệ thống phản ánh, kiến nghị trực tuyến, khảo sát mức độ hài lòng và các công cụ đánh giá độc lập như SIPAS và PAPI cần được coi là nguồn thông tin quan trọng để điều chỉnh chính sách, cải thiện chất lượng dịch vụ công và nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Thứ sáu, cần bảo đảm cân bằng giữa đổi mới, kỷ cương và an toàn hệ thống. Kỷ nguyên mới đòi hỏi tốc độ và tính linh hoạt cao hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là xem nhẹ kỷ luật, kỷ cương, chuẩn mực pháp lý hay cơ chế kiểm soát rủi ro. Càng chuyển đổi số sâu, càng phân cấp mạnh, càng phải tăng cường an ninh mạng, an toàn dữ liệu, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và giám sát thực thi. Đổi mới chỉ bền vững khi được đặt trên nền tảng pháp lý rõ ràng, đội ngũ công vụ có trách nhiệm và hệ thống giám sát đủ hiệu lực. Bên cạnh việc hoàn thiện các cơ chế giám sát truyền thống, cần phát huy vai trò của công nghệ số trong kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc mở rộng công khai dữ liệu, tăng cường kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan nhà nước, ứng dụng các công cụ phân tích dữ liệu trong giám sát thực thi công vụ sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, phát hiện sớm các rủi ro và củng cố niềm tin của người dân đối với bộ máy hành chính.

4. Kết luận

Kỷ nguyên mới đang tạo ra một môi trường phát triển mới, trong đó công nghệ số, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, yêu cầu phát triển bền vững và sức ép phục vụ người dân ngày càng cao đang làm thay đổi sâu sắc mô hình vận hành của nhà nước. Nhìn tổng thể, kỷ nguyên mới mở ra cơ hội lớn để Việt Nam hiện đại hóa quản trị công, nâng cao chất lượng phục vụ và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những thách thức ngày càng rõ nét về tư duy quản trị, tổ chức bộ máy, chất lượng đội ngũ, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Vì vậy, thành công của quản trị công trong kỷ nguyên mới sẽ phụ thuộc trước hết vào khả năng xây dựng một nền hành chính số, minh bạch, linh hoạt, lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời bảo đảm kỷ cương, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong mọi hoạt động quản trị. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục cải cách, mà là cải cách đồng bộ, có chiều sâu và đặt trong một tầm nhìn quản trị mới. Chỉ trên cơ sở đó, quản trị công ở Việt Nam mới có thể tận dụng được cơ hội của kỷ nguyên mới, vượt qua những sức ép chuyển đổi và góp phần xây dựng một nền hành chính hiện đại, phát triển, phục vụ và gần dân hơn.

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nội vụ (2025 a). Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024.
2. Bộ Nội vụ (2025 b). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024.
3. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021- 2030.
4. Chính phủ (2025). Báo cáo của Chính phủ về kết quả triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia (Đề án 06).
5. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Mục II, nhóm nhiệm vụ, giải pháp số 3.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
7. OECD (2025). Government at a Glance 2025, OECD Publishing, Paris, Chapter 2: Building Effective Public Institutions; Chapter 9: Digital Government.
8. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024
9. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
10. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022–2025, tầm nhìn đến năm 2030.
11. Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES), Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) (2025). Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2024.
12. World Bank (2024). Worldwide Governance Indicators (WGI): Methodology and Governance Indicators. World Bank, Washington, D.C.
13. World Economic Forum (2026). The Global Risks Report 2026 (21st Edition). World Economic Forum, Geneva, Chapter 1: “The Global Risks Landscape”, Figures 1.3, 1.4 và 1.5, tr. 9–19.