Theory of the party’s reform line – scientific basis and refutation of wrong views
PGS.TS Trần Hồng Hải
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Đường lối đổi mới của Đảng thể hiện sự phát triển vượt bậc về tư duy lý luận trên nền tảng khoa học và thực tiễn Việt Nam. Quá trình hình thành và triển khai đường lối đã phản ánh sự nhận thức ngày càng đầy đủ về quy luật vận động của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã chứng minh đổi mới là lựa chọn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về đường lối đổi mới của Đảng đã bị thực tiễn lịch sử của 40 năm đổi với những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bác bỏ hoàn toàn. Vì vậy, việc tiếp tục kiên định, phát triển và bảo vệ đường lối đổi mới có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Lý luận về đường lối đổi mới; Đảng Cộng sản Việt Nam.
Abstract: The Party’s reform line represents a remarkable development in theoretical thinking based on the scientific and practical foundations of Vietnam. The process of forming and implementing this line reflects an increasingly comprehensive understanding of the laws governing the transitional period to socialism. Practice has proven that reform is the correct choice, appropriate to the country’s development requirements in the new context. The erroneous and distorted views of hostile and reactionary forces regarding the Party’s reform line have been completely refuted by the historical reality of 40 years of reform, with its tremendous achievements in all fields under the Party’s correct leadership. Therefore, continuing to steadfastly develop and protect the reform line is crucial for the stability and sustainable development of the country in the new era.
Key words: Theory of the reform line; Communist Party of Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Đại hội lần thứ XIV của Đảng (2026) lần đầu tiên khẳng định, đề cập lý luận về đường lối đổi mới. Đại hội nêu rõ: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới…”1. Như vậy, lần đầu tiên, Đảng chính thức đưa lý luận về đường lối đổi mới vào Văn kiện Đảng, được xem như một bộ phận cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Sự khẳng định lần đầu, ghi rõ trong Văn kiện Đại hội của Đảng lý luận về đường lối đổi mớivà những nội hàm có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt, cần thiết đối với việc thực hiện mục tiêu cơ bản, lâu dài, xuyên suốt là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước hết là thực hiện hai mục tiêu 100 năm trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XX.
2. Cơ sở khoa học của lý luận về đường lối đổi mới
2.1. Về lý luận
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được hình thành, phát triển trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cách mạng Việt Nam. Mỗi giai đoạn, thời điểm lịch sử lý luận về đường lối đổi mới không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Đó chính là quá trình kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đổi mới và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại để theo kịp với thực tiễn luôn vận động, biến đổi và chuyển hoá không ngừng, đòi hỏi lý luận phải theo sát để phản ánh, dẫn đường, chỉ đạo hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn, phải có tầm nhìn vượt trước; phải tạo được những bước đột phá về lý luận phát triển, khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm phục vụ cho việc hoàn thiện thể chế, xây dựng đường lối, chủ trương, định hướng, chính sách phát triển; khơi dậy khát vọng và phát huy ý chí quyết tâm của cả dân tộc2.
Lý luận về đường lối đổi mới được Đại hội XIV của Đảng đưa vào Văn kiện thể hiện tầm cao mới của bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, “Bản lĩnh: khả năng và ý chí kiên định vốn có ở con người trước mọi hoàn cảnh”; “Trí tuệ: khả năng nhận thức, suy xét bằng bộ óc”4. Bản lĩnh, trí tuệ của Đảng được hiểu là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng, sự vững vàng, không dao động và tài trí, tài năng, tài thao lược của Đảng trong nghiên cứu, đánh giá, đưa ra con đường, cách thức, những quyết sách tối ưu, biện pháp đúng đắn trong mỗi giai đoạn trước những diễn biến thay đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình. Khi bàn về những vấn đề tư tưởng, có thể khẳng định rằng tư tưởng có vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt trong hoạch định đường lối, chính sách của mỗi chính đảng, giai cấp cầm quyền.
Nhìn lại lịch sử phát triển xã hội loài người, bất kỳ một giai cấp, chính đảng cầm quyền nào đều phải hoạch định đường lối, chính sách xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Sự thành bại của mỗi quốc gia phụ thuộc tiên quyết vào việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước, là điều kiện tiên quyết bảo đảm tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu chiến lược, sách lược của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, đường lối, chính sách của mỗi chính đảng, giai cấp cầm quyền phụ thuộc vào nền tảng tư tưởng và bản chất giai cấp đó để xác lập đường lối, chính sách. Có những chính đảng, giai cấp cầm quyền với nền tảng tư tưởng tiến bộ, đường lối, chính sách hướng tới phục vụ, bảo đảm lợi ích đại bộ phận quần chúng nhân dân; ngược lại có những đường lối, chính sách của chính đảng, giai cấp cầm quyền chỉ hướng tới, phục vụ, bảo vệ lợi ích một bộ phận của giai cấp cầm quyền, mà chưa có chú ý đúng mức tới phục vụ, bảo đảm lợi của đại bộ phận quần chúng nhân dân. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”5 và “Chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”6.
2.2. Về thực tiễn
trải qua các hình thái kinh tế, xã hội, từ khi xã hội phân chia giai cấp cho thấy, đường lối, chính sách của các chính đảng, giai cấp cầm quyền cơ bản dựa trên những nền tảng tư tưởng nhất định, được xem là “nền móng” để hoạch định đường lối, chính sách xây dựng, phát triển của quốc gia đó. Tại Trung Quốc, sau gần 50 năm, từ Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI) Đảng Cộng sảnTrung Quốc (1978) chủ trương thực hiện cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc có những phát triển mạnh mẽ, trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Để có được thành tựu đó, một trong nguyên nhân quan trọng hàng đầu là Đảng Cộng sản Trung Quốc đã hoạch định đường lối, chính sách dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc được bổ sung, phát triển qua các giai đoạn. Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định rõ: “Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “Ba đại diện”, quan điểm phát triển khoa học, tư tưởng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới của Tập Cận Bình làm kim chỉ nam cho hoạt động”7.
Tại Việt Nam, trong lịch sử cách mạng, ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991), lần đầu tiên chính thức được khẳng định và ghi trong Văn kiện Đại hội là Đảng đã lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động.
Tuy nhiên, thực tiễn đã có những ý kiến nêu ra, tại sao Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết cách mạng, khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn chỉ rõ cách thức, biện pháp cải tạo khách quan; vừa chỉ ra mục tiêu, con đường cách mạng, vừa chỉ ra cách thức, biện pháp xây dựng chế độ xã hội mới, tiến bộ hơn các hình thái kinh tế, xã hội đã có trước trong lịch sử.
Được tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình hoạt động, lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, quá trình đó đã dần hình thành ngày một rõ nét hơn tư tưởng của Người. Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) lần đầu tiên đề cập rõ, toàn diện hơn những nội dung căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là những vấn đề về chiến lược cách mạng Việt Nam. Với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với thực tiễn cách mạng, Đảng đã hoạch định đường lối lãnh đạo, chỉ đạo đưa cách mạng Việt Nam giành những thắng lợi vẻ vang.
Từ sự định hình, bổ sung lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới, Đảng đã xác định rõ: “Lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với ba trụ cột nền tảng: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”8. Việc đưa ra nội hàm lý luận về đường lối đổi mới đã chứng minh bản lĩnh, trí tuệ của Đảng bằng việc khái quát súc tích, cô đọng, toàn diện những nội dung cốt lõi từ những thực tiễn, lý luận phong phú, đa dạng sau 40 năm đổi mới.
3. Đấu tranh bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận lý luận về đường lối đổi mới của Đảng
Từ khi Đảng khởi xướng, lãnh đạo công công cuộc đổi mới từ năm 1986, các thế lực thù địch đã đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc, chống phá những nội dung liên quan lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Một số trang website, blog, tiktok, youtube của các thế lực thù địch đăng tải nhiều luận điệu xuyên tạc, cho rằng, Đảng đã “chệch hướng”, “không còn giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong công cuộc đổi mới”; Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế mà không có đổi mới chính trị, vì thế đất nước không phát triển được.
Đáng chú ý, một số thế lực thù địch thông qua các trang mạng xã hội, lập các trang web, blog cá nhân, kênh YouTube, tài khoản Facebook, TikTok… cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không xây dựng được nền tảng tư tưởng riêng, mà hoàn toàn “bắt chước”, “dập khuôn” chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hoặc cho rằng, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là sự “sao chép mô hình” của một số nước trên thế giới, Đảng không có khả năng hoạch định, xây dựng lý luận về đường lối đổi mới độc lập; hoặc cho rằng, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là “nửa vời”, “chắp vá”, không có tính bền vững.
Sau khi Đại hội lần thứ XIV của Đảng thành công (2026) và xác định lý luận về đường lối đổi mới, một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng, các thế lực thù địch như “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”,… đã lợi dụng internet, nhiều trang mạng xã hội để chống phá lý luận về đường lối đổi mới của Đảng và đã đưa ra một số luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ cần “lấy nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ”, “không cần đưa ra cái gọi là “lý luận đường lối đổi mới”, bởi theo lý giải của các thế lực thù địch cho rằng, “cái gọi là lý luận về đường lối đổi mới” chỉ là sao chép chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không có gì mới, sáng tạo gì cả!
Đồng thời, với chống phá chung xoay quanh lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, các thế lực thù địch cũng tìm mọi cách chống phá lý luận về đường lối đổi mới trên các lĩnh vực. Điển hình về lý luận mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, các thế lực thù địch cho rằng, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng lý luận mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “chung chung”, không rõ ràng; chẳng qua là đề cập đời sống vật chất, tinh thần người dân được nâng cao giống như chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà thôi.
Trong lịch sử cách mạng, ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình lãnh đạo, đường lối của Đảng dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ VII của Đảng (1991), lần đầu tiên chính thức được khẳng định và ghi trong Văn kiện Đại hội là Đảng đã lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động. Tuy nhiên, cả V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều căn dạy, học chủ nghĩa Mác là học cái tinh thần và cần vận dụng sáng tạo, phù hợp hoàn cảnh cụ thể.
Chủ nghĩa Mác – Lênin nảy sinh từ hiện thực ở châu Âu, những năm thế kỷ trước, đến những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tình hình có nhiều biến đổi sâu sắc nên cần có sự bổ sung, hình thành lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là tất yếu và đặc biệt cần thiết. Đồng thời, thực tiễn cũng cho thấy, trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới trong 40 năm qua, Đảng không chỉ dựa “hoàn toàn” vào chủ nghĩa Mác – Lênin mà không có sự bổ sung, phát triển lý luận mà trái lại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt quan tâm nghiên cứu xác lập, từng bước bổ sung, hình thành những nội dung cốt lõi lý luận về đường lối đổi mới về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… được khái quát những nội hàm căn bản lý luận về đường lối đổi mới tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
4. Kết luận
Đường lối đổi mới của Đảng là kết tinh của tư duy lý luận khoa học và bản lĩnh chính trị vững vàng, được hình thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là sự điều chỉnh về phương thức lãnh đạo mà còn là bước tiến trong nhận thức về quy luật vận động của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn, nhất quán và sáng tạo của đường lối này, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng.
Đổi mới là quá trình kế thừa có chọn lọc và phát triển liên tục, không xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy trở nên hiện thực và sinh động hơn. Những thành tựu đạt được là cơ sở thực tiễn vững chắc để khẳng định giá trị khoa học của đường lối đổi mới. Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hay bóp méo bản chất của đổi mới đều thiếu căn cứ lý luận và trái với thực tiễn khách quan. Vì vậy, việc kiên định, phát triển và bảo vệ đường lối đổi mới là yêu cầu mang tính nguyên tắc. Đồng thời, cần nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Qua đó, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào Đảng và con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng… trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc, thực hiện nhất quán “4 kiên định” về chính trị, tư tưởng… Đó là kiên định đường lối đổi mới của Đảng9.
Chú thích:
1, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 81, 76.
2. Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 277 – 278.
3, 4. Nguyễn Như Ý (2003). Từ điển tiếng Việt thông dụng. H. NXB Giáo dục, tr. 35, 815.
5, 6. V.I. Lênin toàn tập (2005). Tập 6, H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 30, 32.
7. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2022). Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XX. https://www.12371.cn/special/zggcdzc/zggcdzcqw/.
9. Toàn văn bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm. https://baolaodong.vn.



