Ho Chi Minh’s ideology on democracy and the role of democracy in ensuring public service ethics in Vietnam today
Nguyễn Thị Hương
NCS Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ và vai trò của dân chủ trong bảo đảm đạo đức công vụ như một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Trên cơ sở phân tích các luận điểm về dân chủ với tư cách là nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, đồng thời là cơ chế kiểm soát quyền lực, bài viết chỉ ra rằng, dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện và phương thức bảo đảm cho việc hình thành và thực thi các chuẩn mực đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ, theo đó, phải được đặt trên nền tảng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, gắn với nguyên tắc “lấy dân làm gốc” và bản chất “công bộc của dân” của đội ngũ cán bộ, công chức. Từ đó, đề xuất định hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam nhằm bảo đảm đạo đức công vụ gắn với phát huy dân chủ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền công vụ liêm chính, phục vụ Nhân dân.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; dân chủ; đạo đức công vụ; kiểm soát quyền lực; Việt Nam.
Abstract: Ho Chi Minh’s ideas on democracy and the role of democracy in ensuring public ethics constitute an important aspect of his ideological system. Based on an analysis of the arguments regarding democracy as both a principle for organizing state power and a mechanism for controlling power, this article demonstrates that democracy is not only a goal but also a condition and a means of ensuring the establishment and implementation of standards of public ethics. Public ethics, therefore, must be grounded in the exercise of the people’s sovereignty, aligned with the principle of “putting the people first” and the nature of the cadre and civil servant corps as “public servants of the people.” Consequently, the article proposes guidelines for applying Ho Chi Minh’s ideology in the Vietnamese context to ensure that public service ethics are integrated with the promotion of democracy, thereby meeting the requirements for building a socialist rule-of-law state and a clean, people-serving public service.
Keywords: Ho Chi Minh Thought; democracy; public service ethics; power control; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của nền hành chính nhà nước hiện đại, dân chủ và đạo đức công vụ không chỉ là những giá trị chuẩn mực mà còn là các yếu tố cấu thành trực tiếp chất lượng quản trị quốc gia. Mức độ hiện thực hóa dân chủ trong hoạt động của bộ máy công quyền, cùng với chuẩn mực đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, phản ánh rõ nét bản chất của chế độ chính trị, hiệu lực thực thi quyền lực nhà nước và mức độ phục vụ Nhân dân. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách hành chính và chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải bảo đảm dân chủ, minh bạch và liêm chính trong hoạt động công vụ. Điều đó đặt ra vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cấp thiết là: làm thế nào để dân chủ trở thành nền tảng và cơ chế bảo đảm cho việc hình thành, củng cố và phát triển đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện mới.
Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, dân chủ được xác định là bản chất của chế độ mới, đồng thời là nguyên tắc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước. Người khẳng định, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân; cán bộ, công chức là “công bộc của dân”, có trách nhiệm phục vụ Nhân dân với tinh thần tận tụy, liêm chính, chí công vô tư. Từ góc độ đó, dân chủ không chỉ là mục tiêu hướng tới mà còn là phương thức kiểm soát quyền lực, hạn chế nguy cơ tha hóa và nâng cao trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và làm rõ vai trò của dân chủ trong bảo đảm đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ góp phần bổ sung, phát triển cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa dân chủ và đạo đức công vụ, nghiên cứu còn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính, hiện đại.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng đạo đức công vụ thể hiện một chỉnh thể thống nhất, phản ánh bản chất của nhà nước kiểu mới, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã luận giải sâu sắc vai trò của dân chủ như một nền tảng chính trị – xã hội và là cơ chế vận hành quyền lực nhà nước, qua đó định hướng việc hình thành và củng cố đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập dân chủ là bản chất của chế độ mới và là nền tảng trực tiếp của đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”1. Luận điểm này không chỉ xác định vị trí trung tâm của Nhân dân trong đời sống chính trị mà còn đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức phải nhận thức rõ bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực được Nhân dân ủy quyền. Vì vậy, đạo đức công vụ trước hết phải là đạo đức của người phục vụ Nhân dân, chứ không phải đạo đức của chủ thể đứng trên Nhân dân.
Thứ hai, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ gắn chặt với nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, là chuẩn mực cốt lõi của đạo đức công vụ. Người chỉ rõ: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”2. Đây không chỉ là phương châm hành động mà còn là tiêu chuẩn đạo đức căn bản của cán bộ, công chức. Theo đó, dân chủ không dừng lại ở việc xác lập quyền của Nhân dân mà phải được hiện thực hóa trong hành động phục vụ Nhân dân; đạo đức công vụ được xác định bằng việc đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết.
Thứ ba, Hồ Chí Minh làm rõ dân chủ là cơ chế kiểm soát quyền lực và qua đó trực tiếp bảo đảm đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Chính phủ là công bộc của dân”3, đồng thời, nhấn mạnh Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát và phê bình bộ máy nhà nước. Trong điều kiện đó, cán bộ, công chức không phải là chủ thể nắm giữ quyền lực một cách tuyệt đối mà là người thực thi quyền lực được giao, phải chịu trách nhiệm giải trình trước Nhân dân. Dân chủ vì vậy trở thành cơ chế ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực, góp phần hình thành các phẩm chất đạo đức như trách nhiệm, liêm chính và chí công vô tư trong hoạt động công vụ.
Thứ tư, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong nhà nước dân chủ, cán bộ phải tuyệt đối tránh khuynh hướng “quan cách mạng”. Người nhấn mạnh: “Cán bộ là đầy tớ của Nhân dân, chứ không phải là quan cách mạng”4. Luận điểm này đặt ra yêu cầu đạo đức rất rõ ràng: cán bộ, công chức phải tận tụy, trung thực, khiêm tốn, không được lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Như vậy, dân chủ không chỉ là nguyên tắc tổ chức quyền lực mà còn là chuẩn mực đạo đức buộc người cán bộ phải tự giới hạn quyền lực của mình trong khuôn khổ phục vụ Nhân dân.
Thứ năm, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hành dân chủ và xây dựng đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”5. Trong môi trường dân chủ, sự nêu gương của cán bộ có ý nghĩa quyết định trong việc lan tỏa các giá trị đạo đức công vụ, tạo niềm tin và sự đồng thuận xã hội.
Thứ sáu, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của Nhân dân trong tham gia xây dựng và giám sát đạo đức công vụ. Người chỉ rõ: “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”6. Khi quyền giám sát của Nhân dân được bảo đảm, các hành vi vi phạm đạo đức công vụ sẽ bị phát hiện và xử lý kịp thời, qua đó nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Thứ bảy, Hồ Chí Minh khẳng định việc xây dựng đạo đức công vụ phải gắn liền với quá trình giáo dục, rèn luyện và tự tu dưỡng của đội ngũ cán bộ trong môi trường dân chủ. Đạo đức không phải là yếu tố tự có mà được hình thành trong thực tiễn công tác và trong mối quan hệ mật thiết với Nhân dân. Việc thực hành dân chủ tạo điều kiện để cán bộ tiếp xúc, lắng nghe và thấu hiểu Nhân dân, từ đó hoàn thiện phẩm chất đạo đức của mình.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ vừa là mục tiêu chính trị, vừa là phương thức và cơ chế bảo đảm cho việc xây dựng đạo đức công vụ. Dân chủ định hướng giá trị, kiểm soát quyền lực, nâng cao trách nhiệm và tạo môi trường để hình thành các chuẩn mực đạo đức trong hoạt động công vụ; ngược lại, đạo đức công vụ là điều kiện bảo đảm để dân chủ được thực hiện một cách thực chất, hiệu quả.
3. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ có giá trị lý luận sâu sắc, thể hiện ở việc làm rõ bản chất, cơ chế và điều kiện bảo đảm của đạo đức công vụ trong nhà nước kiểu mới.
Một là, Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và đạo đức công vụ. Khi Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”7, thì không chỉ xác lập bản chất của chế độ chính trị mà còn đặt nền tảng cho việc hiểu đạo đức công vụ như đạo đức của người phục vụ Nhân dân. Trong điều kiện đó, cán bộ, công chức không thể đứng ngoài hoặc đứng trên Nhân dân, mà phải hành động trong khuôn khổ chịu sự giám sát xã hội. Đây là điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh khi đưa đạo đức công vụ từ phạm vi luân lý cá nhân sang phạm vi của quan hệ quyền lực trong chế độ dân chủ.
Hai là, Hồ Chí Minh phát triển một cách sâu sắc lý luận về kiểm soát quyền lực thông qua dân chủ. Người chỉ rõ: “Chính phủ là công bộc của dân”8 và “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”9. Những luận điểm này cho thấy dân chủ không chỉ là quyền tham gia mà còn là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo đó, đạo đức công vụ không thể chỉ dựa vào sự tự giác của cán bộ mà phải được đặt trong thiết chế dân chủ, nơi quyền lực luôn chịu sự giám sát của Nhân dân. Nhiều nghiên cứu hiện nay cũng khẳng định rằng việc bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình là điều kiện cốt lõi để duy trì đạo đức công vụ và hạn chế sự tha hóa quyền lực.
Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh xác lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với dân chủ. Người nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”10. Đây là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của cán bộ, công chức, thể hiện rõ mối quan hệ giữa dân chủ và đạo đức công vụ. Khi chuẩn mực này được thực hiện, quyền và lợi ích của Nhân dân được bảo đảm, niềm tin xã hội được củng cố và hiệu lực quản lý nhà nước được nâng cao. Theo Trương Thị Phương Thảo, đạo đức công vụ chính là “thước đo phản ánh”11 chất lượng nền công vụ và hình ảnh của Nhà nước trong mắt Nhân dân.
Bốn là, tư tưởng Hồ Chí Minh còn làm rõ sự thống nhất giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật trong hoạt động công vụ. Dân chủ không phải là sự tùy tiện, mà phải gắn với trách nhiệm và trật tự. Như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, thực hành dân chủ đúng đắn chính là “cái chìa khoá vạn năng”12 để phát huy tính tích cực, sáng tạo và đồng thời khắc phục tình trạng độc đoán, quan liêu trong bộ máy nhà nước.
Năm là, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị phương pháp luận sâu sắc trong việc kiểm soát quyền lực và phòng, chống tha hóa. Người cảnh báo rõ ràng: “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân, chứ không phải là quan cách mạng”13. Đây không chỉ là yêu cầu đạo đức mà còn là nguyên tắc chính trị, nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích và phục vụ Nhân dân.
Bên cạnh giá trị lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở định hướng trực tiếp cho quá trình cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ phục vụ; tư tưởng của Người về xây dựng nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân vẫn còn vẹn nguyên giá trị thời sự, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc14. Điều này cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có thể chuyển hóa thành tiêu chí cụ thể trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị thực tiễn nổi bật trong phòng, chống tham nhũng và kiểm soát quyền lực. Khi Nhân dân được trao quyền giám sát như Người đã khẳng định: “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”15 thì các hành vi vi phạm đạo đức công vụ sẽ bị phát hiện và xử lý kịp thời. Đây chính là cơ chế quan trọng để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động công vụ. Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Khi cán bộ thực sự là “công bộc của dân” và hành động vì lợi ích của Nhân dân, thì niềm tin xã hội được tăng cường, tạo nền tảng cho sự ổn định chính trị và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và quản trị hiện đại, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục có giá trị định hướng quan trọng. Việc mở rộng sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước thông qua các nền tảng số góp phần hiện thực hóa dân chủ, nâng cao trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần định hình văn hóa công vụ dân chủ, hiện đại. Khi cán bộ thực hiện đúng chuẩn mực đạo đức và hành động vì Nhân dân, nền công vụ sẽ chuyển từ mô hình quản lý sang mô hình phục vụ, phù hợp với yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại.
4. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và hoàn thiện nền quản trị quốc gia theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ là yêu cầu vừa có tính nguyên tắc, vừa có tính cấp thiết. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ “thật sự có đức, có tài” và nền công vụ “chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”. Điều đó cho thấy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này không chỉ là kế thừa tư tưởng của Người mà còn là cụ thể hóa trực tiếp định hướng lớn của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về địa vị làm chủ của Nhân dân trong tổ chức và thực thi công vụ. Khi Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”16, thì đây không chỉ là một mệnh đề chính trị khái quát mà còn là nguyên tắc nền tảng để xác định bản chất của hoạt động công vụ. Vận dụng tư tưởng này hiện nay chính là làm cho mọi hoạt động của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức phải thực sự lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân làm điểm quy chiếu cho quyết định hành chính, cho thái độ phục vụ và cho chuẩn mực đạo đức công vụ. Nói cách khác, điều cần vận dụng trước hết không phải là những khẩu hiệu chung về dân chủ, mà là nguyên lý: quyền lực công bắt nguồn từ Nhân dân, vì Nhân dân và phải chịu sự đánh giá của Nhân dân.
Thứ hai, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất phục vụ của nền công vụ. Người chỉ rõ: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân”17. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt trực tiếp đối với xây dựng đạo đức công vụ hiện nay. Vận dụng tư tưởng này là chuyển từ tư duy hành chính cai quản sang tư duy hành chính phục vụ; từ chỗ coi người dân là đối tượng quản lý sang chỗ xác định người dân là chủ thể được phục vụ. Đạo đức công vụ vì vậy phải được biểu hiện cụ thể ở tinh thần tận tụy, thái độ tôn trọng dân, gần dân, lắng nghe dân, không gây phiền hà, sách nhiễu, không lấy quyền lực công làm công cụ vụ lợi cá nhân. Đây cũng là hướng cải cách đang được các văn kiện và chương trình hành động sau Đại hội XIV nhấn mạnh khi yêu cầu lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và sự hài lòng của xã hội làm thước đo.
Thứ ba, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ như một cơ chế kiểm soát quyền lực. Người viết: “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”18, cho thấy dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là giá trị chính trị mà còn là cơ chế để ngăn ngừa tha hóa quyền lực. Xây dựng đạo đức công vụ không chỉ bằng giáo dục, nhắc nhở hay kêu gọi tu dưỡng mà còn bằng cơ chế công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát của Nhân dân đối với hoạt động công vụ. Đây cũng là yêu cầu Đại hội XIV đặt ra về tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của bộ máy công quyền.
Thứ tư, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với lợi ích của Nhân dân. “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”19. Vận dụng tư tưởng này là làm cho các chuẩn mực như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư không dừng ở phẩm chất đạo đức chung mà trở thành chuẩn mực hành vi cụ thể trong giải quyết công việc công: đúng pháp luật, công tâm, minh bạch, không vụ lợi, không né tránh trách nhiệm, không vô cảm trước yêu cầu chính đáng của người dân.
Thứ năm, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu, trong thực hành dân chủ và xây dựng đạo đức công vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”20. Trong hoạt động công vụ, nhất là ở bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị, dân chủ chỉ có thể đi vào thực chất khi người lãnh đạo thật sự gương mẫu trong tôn trọng dân, lắng nghe dân, đối thoại với dân, chấp hành kỷ luật công vụ và chịu trách nhiệm trước dân. Vì vậy, điều cần vận dụng ở đây là biến yêu cầu nêu gương thành nguyên tắc tổ chức công vụ, nguyên tắc đánh giá cán bộ và nguyên tắc văn hóa lãnh đạo. Khi người đứng đầu không nêu gương, dân chủ dễ bị hình thức; khi người đứng đầu gương mẫu, dân chủ sẽ tạo thành áp lực tích cực để nâng chuẩn đạo đức trong toàn bộ hệ thống công vụ.
Thứ sáu, trong điều kiện hiện nay, cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ theo hướng gắn dân chủ với pháp luật, kỷ cương và công nghệ quản trị hiện đại. Dân chủ không đồng nghĩa với tùy tiện; trái lại, dân chủ chỉ có thể bền vững khi được bảo đảm bằng pháp luật, kỷ luật hành chính và cơ chế thực thi minh bạch. Bởi vậy, điều cần vận dụng hiện nay là đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng chính phủ số, chính quyền số, công khai dữ liệu, tiếp nhận phản ánh, đánh giá mức độ hài lòng và tăng cường trách nhiệm giải trình trên nền tảng số. Đây không phải là thêm một nội dung ngoài tư tưởng Hồ Chí Minh mà là hiện đại hóa cách thức thực hiện dân chủ trong hoạt động công vụ để bảo vệ đạo đức công vụ tốt hơn, thực chất hơn. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV cũng đi theo hướng đó khi nhấn mạnh xây dựng hệ thống quản lý nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ, kiến tạo phát triển.
5. Kết luận
Trong bối cảnh hiện nay, những định hướng của Đại hội XIV của Đảng về tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ “thật sự có đức, có tài” và phát triển nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ đã đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn đối với việc xây dựng đạo đức công vụ. Điều đó cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ mang giá trị nền tảng mà còn là cơ sở định hướng trực tiếp cho việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển và quản trị quốc gia trong giai đoạn mới. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng đạo đức công vụ không chỉ là yêu cầu mang tính kế thừa mà còn là giải pháp có ý nghĩa chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, kiểm soát quyền lực hiệu quả và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Chỉ khi dân chủ được thực hiện thực chất và đạo đức công vụ được bảo đảm trên nền tảng dân chủ, thì nền công vụ mới có thể vận hành đúng bản chất phục vụ, quyền lực nhà nước mới được sử dụng đúng mục đích, và quá trình phát triển đất nước mới có thể diễn ra theo hướng bền vững, vì con người và vì Nhân dân.
Chú thích:
1, 6, 9, 15, 18. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 376, 376, 30, 367, 30
2, 5, 7, 8, 14, 17. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 298, 299, 298, 299, 299, 299.
3, 12. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 499, 499
4, 19, 20. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 1. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 284, 284, 284.
10. Đạo đức công vụ và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay. https://lyluanchinhtri.vn/dao-duc-cong-vu-va-yeu-cau-dat-ra-doi-voi-xay-dung-dao-duc-cong-vu-o-viet-nam-hien-nay-6519.html.
11. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng với phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, đảng viên. https://lyluanchinhtri.vn/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-thuc-hanh-dan-chu-trong-dang-voi-phat-huy-tinh-nang-dong-sang-tao-cua-can-bo-dang-vien-6976.html
13. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân vào cải cách chế độ công vụ hiện nay. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/827045/van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nen-cong-vu-liem-chinh%2C-chuyen-nghiep%2C-phuc-vu-nhan-dan-vao-cai-cach-che-do-cong-vu-hien-nay.
16. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 4. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 64.



