Communication of cultural policy in the context of digital transformation in Vietnam today
Dương Hoa Lê
Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, truyền thông chính sách nói chung và truyền thông chính sách văn hóa nói riêng đang đứng trước những cơ hội và thách thức chưa từng có. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp và tiếp cận liên ngành, bài viết chỉ ra hoạt động truyền thông chính sách văn hóa vẫn còn mang nặng tính hành chính, thiếu tính tương tác và chưa tận dụng hiệu quả công nghệ số; từ đó, đề xuất các giải pháp trọng tâm, như: đổi mới nhận thức, nâng cao năng lực đội ngũ, đa dạng hóa nền tảng truyền thông và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thích ứng với môi trường số.
Từ khóa: Truyền thông chính sách; chính sách văn hóa; chuyển đổi số; nền tảng truyền thông.
Abstract: With the rapid progression of digital transformation, policy communication in general and cultural policy communication in particular, is facing unprecedented opportunities and challenges. Through analysis, synthesis, and an interdisciplinary approach, this article points out that cultural policy communication activities remain heavily administrative in nature, lack interactivity, and have not effectively leveraged digital technologies. On that basis, the article proposes several key solutions, including renewing awareness, enhancing the capacity of communication staff, diversifying communication platforms, and improving mechanisms and policies to adapt to the digital environment.
Keywords: Policy communication; cultural policy; digital transformation; communication platforms.
1. Mở đầu
Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trong quản trị quốc gia, làm thay đổi sâu sắc phương thức vận hành của bộ máy nhà nước cũng như cách thức tương tác giữa Nhà nước và xã hội. Trong bối cảnh đó, truyền thông chính sách không còn đơn thuần là hoạt động truyền đạt thông tin mà trở thành một công cụ quan trọng để định hướng dư luận, tạo dựng niềm tin và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội. Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có quy định độc lập về truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra cơ sở pháp lý cho hoạt động truyền thông chính sách.
Đối với lĩnh vực văn hóa, truyền thông chính sách càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi văn hóa không chỉ là một lĩnh vực quản lý xã hội mà còn là không gian giá trị, bản sắc và niềm tin xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy truyền thông chính sách văn hóa ở Việt Nam vẫn chưa theo kịp yêu cầu của chuyển đổi số, còn thiếu tính chuyên nghiệp, sáng tạo và hiệu quả.
2. Truyền thông chính sách văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số
2.1. Truyền thông chính sách văn hóa
Chính sách là tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng (khoản 2 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025).
Chính sách văn hóa là hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp do Nhà nước thiết kế nhằm định hướng, quản lý và phát triển đời sống văn hóa xã hội, bao gồm các quy định pháp lý, chương trình hành động và cơ chế phân bổ nguồn lực để bảo tồn di sản văn hóa truyền thống (vật thể và phi vật thể), thúc đẩy sáng tạo các giá trị mới, đồng thời, bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của mọi công dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số1.
Truyền thông chính sách là quá trình cơ quan nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức cung cấp, trao đổi, định hướng thông tin về chính sách (từ khâu đề xuất, soạn thảo, lấy ý kiến, ban hành đến thực thi) nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao nhận thức, huy động sự tham gia và giám sát của người dân, bảo đảm chính sách được xây dựng và thực hiện hiệu quả2.
Truyền thông chính sách văn hóa là quá trình truyền tải, giải thích, phổ biến và tương tác về các chủ trương, đường lối, pháp luật và chính sách trong lĩnh vực văn hóa tới các nhóm công chúng mục tiêu nhằm giúp họ hiểu đúng, đồng thuận và tham gia thực hiện các chính sách đó trong đời sống xã hội.
Như vậy, truyền thông chính sách văn hóa không chỉ đơn thuần là hoạt động phổ biến thông tin, mà là một quá trình có chủ đích nhằm chuyển tải nội dung, giá trị và định hướng của chính sách văn hóa tới các nhóm công chúng khác nhau, từ đó tạo ra sự thấu hiểu, đồng thuận và tham gia tích cực của xã hội. Khác với các lĩnh vực chính sách khác, chính sách văn hóa tác động trực tiếp đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc và hành vi xã hội. Vì vậy, truyền thông trong lĩnh vực này mang tính đặc thù, vừa mang tính định hướng, vừa mang tính thuyết phục và lan toả lâu dài.
2.2. Bối cảnh chuyển đổi số
Đối với lĩnh vực văn hóa và truyền thông chính sách văn hóa, bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức, đòi hỏi phải nhận diện rõ những đặc điểm nổi bật sau:
Chuyển đổi số ở Việt Nam không phải là quá trình tự phát mà được dẫn dắt bởi các chiến lược và chương trình cấp quốc gia, tiêu biểu, như: Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ). Theo báo cáo quý II/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, “Việt Nam đạt 104,7 triệu thuê bao Internet băng rộng di động tính đến tháng 4, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước”3. Tỷ lệ người dùng internet và thiết bị thông minh tại Việt Nam tăng nhanh, tạo nền tảng quan trọng cho truyền thông số. Sự phổ biến của các nền tảng, như: Facebook, YouTube, TikTok trong tiếp cận thông tin, bao gồm cả nội dung chính sách, chính sách văn hóa.
Sự hình thành nhanh chóng của xã hội số và công dân số cho thấy, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là sự thay đổi trong hành vi xã hội. Người dân ngày càng quen với việc tiếp nhận, tương tác và phản hồi thông tin trên môi trường số, từ đó, hình thành công dân số với khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội và góp ý chính sách. Đồng thời, dữ liệu trở thành tài nguyên quan trọng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu được xem là nguồn lực mới cho phát triển. Truyền thông chính sách văn hóa được dựa trên dữ liệu để hiểu công chúng và thiết kế thông điệp phù hợp.
Tuy nhiên, trên bình diện tổng thể vẫn tồn tại khoảng cách số và bất bình đẳng trong tiếp cận, đó là khoảng cách giữa khu vực đô thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa, sự chênh lệch về kỹ năng số giữa các nhóm dân cư và một bộ phận người dân khó tiếp cận thông tin số. Cùng với đó là không gian số mở rộng cũng kéo theo nhiều thách thức mới, như: tin giả, khó kiểm soát nội dung trên nền tảng xuyên biên giới, vấn đề nhạy cảm về văn hóa dễ bị tranh luận, cực đoan hóa… Những đặc điểm này tạo ra một môi trường mới cho truyền thông chính sách văn hóa, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện từ nội dung, phương thức đến tư duy quản trị truyền thông, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại số và nâng cao hiệu quả lan tỏa giá trị văn hóa trong xã hội.
2.3. Vai trò của truyền thông chính sách văn hóa
Thứ nhất, giúp làm rõ nội dung và ý nghĩa của chính sách văn hóa. Chính sách văn hóa bao gồm các quy định liên quan đến phát triển con người, bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, quản lý lễ hội, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở,… Những nội dung này thường mang tính khái quát, trừu tượng và có chiều sâu giá trị. Do đó, truyền thông đóng vai trò diễn giải chính sách, giúp chuyển hóa các quy định pháp lý thành những thông điệp dễ hiểu, gần gũi với đời sống.
Thứ hai, tạo sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin. Chính sách văn hóa muốn phát huy hiệu quả không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính mà cần sự đồng thuận xã hội rộng rãi. Truyền thông giúp giải thích vì sao cần chính sách? Chính sách phục vụ ai? Lợi ích lâu dài là gì?…, từ đó, tạo ra sự đồng thuận từ người dân, nghệ sĩ, doanh nghiệp văn hóa và các chủ thể sáng tạo khác. Khi công chúng mục tiêu hiểu rõ chính sách, họ không chỉ chấp hành mà còn ủng hộ, bảo vệ và lan tỏa chính sách đó. Ví dụ, nếu cộng đồng hiểu rõ giá trị của di sản văn hóa, họ sẽ chủ động tham gia bảo tồn thay vì khai thác ngắn hạn vì lợi ích kinh tế.
Thứ ba, định hướng hành vi và chuẩn mực văn hóa. Một trong những vai trò quan trọng của chính sách văn hóa là định hướng hành vi xã hội theo các chuẩn mực giá trị mong muốn. Chính sách văn hóa không chỉ nhằm quản lý mà còn hướng tới xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Thông qua truyền thông, các giá trị, như: tôn trọng di sản, ứng xử văn minh nơi công cộng, gìn giữ bản sắc dân tộc, sáng tạo có trách nhiệm… được lan tỏa và thẩm thấu trong nhận thức của người dân. Khi hiểu rõ chính sách, các đối tượng công chúng sẽ tự điều chỉnh hành vi theo hướng phù hợp, thay vì bị áp đặt từ bên ngoài.
Thứ tư, tăng cường hiệu quả thực thi chính sách. Một chính sách dù được thiết kế tốt nhưng nếu không được truyền thông hiệu quả thì vẫn có nguy cơ thất bại trong thực tiễn. Truyền thông giúp bảo đảm các đối tượng thụ hưởng và thực thi chính sách (cán bộ quản lý, nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư…) đều nắm rõ quyền lợi, nghĩa vụ và cách thức thực hiện. Khi công chúng hiểu rõ chính sách sẽ giảm thiểu sai sót trong thực hiện do hiểu sai quy định và hạn chế tình trạng chống đối hoặc thực hiện hình thức. Đồng thời, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, truyền thông còn giúp tiếp cận nhanh chóng, đa dạng các nhóm công chúng, nâng cao hiệu quả lan tỏa của chính sách.
Thứ năm, thúc đẩy sự tham gia và đồng sáng tạo chính sách. Truyền thông chính sách văn hóa hiện đại không chỉ là truyền đạt một chiều mà còn là kênh tương tác hai chiều. Thông qua các nền tảng truyền thông, công chúng có thể phản hồi, góp ý và tham gia vào quá trình hoàn thiện chính sách. Khi hiểu rõ chính sách, các nhóm đối tượng như nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, cộng đồng địa phương… có thể đề xuất sáng kiến, phản ánh bất cập và đóng góp tri thức thực tiễn. Điều này giúp chính sách văn hóa trở nên linh hoạt, sát thực tiễn và có tính khả thi cao hơn.
Thứ sáu, tác động lan tỏa lâu dài đến phát triển văn hóa và con người. Tác động của truyền thông chính sách văn hóa không chỉ dừng lại ở việc biết chính sách mà sâu xa hơn là tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của xã hội. Khi các giá trị văn hóa được truyền thông hiệu quả sẽ hình thành ý thức tự giác trong bảo tồn và phát huy văn hóa, nâng cao vốn văn hóa của cộng đồng và góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia và chuẩn mực con người Việt Nam.
2.4. Đặc điểm truyền thông chính sách văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số
Trong bối cảnh chuyển đổi số, truyền thông chính sách văn hóa đang chuyển từ mô hình truyền thông tuyến tính (mô tả quá trình truyền thông một chiều từ người gửi đến người nhận, thông điệp được phát đi mà không cần phản hồi ngay lập tức) sang truyền thông đa nền tảng, nơi các giá trị văn hóa được tái cấu trúc thông qua công nghệ số. Theo UNESCO (2022)4, chuyển đổi số không chỉ thay đổi phương tiện truyền thông mà còn định hình lại cách thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận các biểu đạt văn hóa. Do đó, truyền thông trong giai đoạn này có những đặc điểm sau:
(1) Nội dung truyền thông cần chuyển từ tuyên truyền quy định sang truyền cảm hứng giá trị và cần số hóa để dễ tiếp cận. Chính sách văn hóa thường chứa đựng nhiều yếu tố trừu tượng như giá trị, bản sắc, chuẩn mực xã hội… Trong môi trường số, nếu vẫn truyền tải theo cách diễn đạt hành chính truyền thống sẽ khó tiếp cận công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Nội dung phải được chuyển hóa từ ngôn ngữ chính sách sang ngôn ngữ truyền thông số (ngắn gọn, trực quan, dễ chia sẻ), hình ảnh hóa, video hóa các giá trị văn hóa, trải nghiệm thực tiễn.
(2) Tính đa chiều và sự tham gia của công chúng trong không gian số. Theo Manuel Castells (2010)5, mạng xã hội làm thay đổi cấu trúc quyền lực truyền thông, chuyển từ tập trung sang phân tán. Trong bối cảnh đó, công chúng không còn là đối tượng thụ động mà trở thành chủ thể tham gia. Các chiến dịch truyền thông về di sản trên TikTok như Chiến dịch hashtag challenge #DiSanVietNam6 giúp giới trẻ tiếp cận chính sách văn hóa thông qua nội dung sáng tạo hoặc nghệ sĩ, KOLs tham gia lan toả thông điệp về bảo tồn văn hóa, ứng xử lễ hội…
(3) Tính lan truyền nhanh gắn với rủi ro diễn giải sai nội dung của chính sách. Theo nghiên cứu của World Economic Forum (2023)7, môi trường số làm gia tăng nguy cơ thông tin sai lệch, đặc biệt với các vấn đề mang tính giá trị và bản sắc. Gần đây những tranh luận trên mạng xã hội về việc biến tướng lễ hội8, thương mại hóa di sản9 thường xuất phát từ việc hiểu chưa đầy đủ chính sách quản lý văn hóa. Hoặc một số nội dung cắt ghép trên Facebook gây hiểu sai về quy định quản lý biểu diễn nghệ thuật.
(4) Cá nhân hóa truyền thông dựa trên dữ liệu. Nội dung truyền thông về văn hóa truyền thống được “trẻ hóa” để phù hợp với Gen Z trên nền tảng số. Các chiến dịch truyền thông phân nhóm: học sinh, sinh viên, nghệ sĩ, cộng đồng địa phương… Với đặc điểm này truyền thông chính sách văn hóa cần chuyển sang mô hình “phân khúc công chúng”, không thể áp dụng một thông điệp chung cho tất cả.
3. Thực trạng truyền thông chính sách văn hóa ở Việt Nam
3.1. Những mặt đạt được
Một là, thể chế hóa chức năng truyền thông chính sách thuộc về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan ban hành chính sách. Năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027, xác định trách nhiệm truyền thông chính sách cho cơ quan ban hành chính sách.
Đến năm 2025, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP đã có quy định độc lập về truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra cơ sở pháp lý cho hoạt động truyền thông chính sách. Nghị định quy định cụ thể về thời điểm thực hiện truyền thông là từ thời điểm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông qua hoặc ban hành.
Nội dung truyền thông phải truyền tải được sự cần thiết ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; bao gồm: nội dung mới, sửa đổi, bổ sung của chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật10 và các nội dung khác nếu có, trong đó xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động truyền thông chính sách là cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo. Về thông điệp truyền thông phải bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu để đăng tải trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình và tổ chức truyền thông bằng hình thức phù hợp. Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 2835/QĐ-BVHTTDL ngày 07/8/2025 về kế hoạch tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội, trong quá trình xây dựng nghị định quy định một số chế độ, chính sách đối với viên chức, người lao động chuyên môn trong các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Hai là, về tổ chức thực hiện hoạt động truyền thông chính sách trong lĩnh vực văn hóa. Ðể thực hiện tốt những mục tiêu của Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 của Chính phủ đề ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai nhiều nội dung quan trọng, trong đó đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách, như: ban hành kế hoạch tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ về truyền thông chính sách. Hội nghị nhằm mục đích nâng cao trình độ nghiệp vụ, trang bị kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng về truyền thông chính sách cho cán bộ, công chức các cơ quan tham mưu quản lý nhà nước và các cơ quan báo chí11.
Theo Quyết định số 2835/QĐ-BVHTTDL, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã sử dụng các phương thức truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, như: Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trang thông tin điện tử của Cục Nghệ thuật biểu diễn, báo điện tử; cơ quan thông tin, báo chí ở Trung ương, địa phương; xây dựng, đăng tải tài liệu truyền thông phù hợp để cung cấp thông tin dự thảo Nghị định cho người dân, tổ chức, trọng tâm là cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động trực tiếp của chính sách; thực hiện việc tích hợp, chia sẻ để đăng tải thông tin, nội dung; kế hoạch tổ chức truyền thông dự thảo nghị định trên Cổng Thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia, các ứng dụng phần mềm về phổ biến giáo dục pháp luật, bảo đảm thống nhất, liên thông, cập nhật, tăng cường tương tác với người dân, tổ chức; tổ chức truyền thông thông qua các ứng dụng mạng xã hội và hình thức truyền thông phù hợp khác; huy động nguồn lực xã hội tham gia công tác truyền thông dự thảo chính sách; tổ chức hội thảo xin ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý…
Ba là, nhận thức xã hội về một số chính sách văn hóa được nâng cao. Đối với công tác truyền thông chính sách đa dạng văn hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Theo thống kê, “đến nay, đã có 27 trong số 53 dân tộc thiểu số ở nước ta có bộ chữ viết riêng được bảo tồn. Một số ngôn ngữ được sử dụng chính thức trên các kênh truyền thông của Nhà nước và các địa phương, đồng thời được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới… Việc tổ chức dạy, học ngôn ngữ dân tộc thiểu số cũng được triển khai ở 30 tỉnh, thành phố với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số”12.
3.2. Hạn chế, bất cập
Nội dung truyền thông chủ yếu vẫn mang tính thông báo, phổ biến chính sách. Ngôn ngữ hành chính, khó tiếp cận, thiếu yếu tố kể chuyện văn hóa. Trong khi đó, các hình thức hiện đại, như: video ngắn, infographic, podcast chưa được khai thác hiệu quả.
Truyền thông trong quá trình xây dựng chính sách vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Cụ thể: nhận thức của nhiều tổ chức, cá nhân chưa cao, truyền thông chưa kịp thời, thiếu tính sáng tạo, năng lực của đội ngũ cán bộ truyền thông chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn13.
Trong truyền thông, các hoạt động văn hóa cũng chưa đạt được kỳ vọng, như việc truyền thông lĩnh vực di sản vẫn còn nặng tính mô tả, chủ yếu được truyền thông dưới dạng bài viết, video tài liệu hay chương trình truyền hình về yếu tố lịch sử, kiến trúc, lễ nghi hay giá trị biểu tượng của di sản. Cách tiếp cận này chủ yếu mang tính thông tin một chiều, ít tạo ra kết nối cảm xúc hoặc diễn giải chiều sâu văn hóa gắn với đời sống xã hội đương đại14.
Thiếu chiến lược truyền thông dài hạn, tương tác với người dân còn hạn chế, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số do thiếu trang thiết bị kết nối internet, đặc biệt ở các dân tộc, như: Si La, Chứt, La Hủ, Xinh mun, Kháng, Khơ mú, Rơ Măm… tỷ lệ hộ gia đình có máy tính hoặc có kết nối internet rất thấp. Điều này khiến cộng đồng dân tộc thiểu số khó tiếp cận với các thông tin từ truyền thông chính sách và để thực hiện truyền thông đến nhóm đối tượng này cũng cần đầu tư nguồn lực tốn kém hơn15.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách văn hóa
Thứ nhất, đổi mới nhận thức về truyền thông chính sách.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, việc đổi mới nhận thức về truyền thông chính sách văn hóa không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết. Điểm cốt yếu của sự thay đổi này nằm ở việc chuyển dịch từ tư duy truyền đạt thông tin một chiều, khô cứng, áp đặt sang tư duy tương tác và thuyết phục. Thay vì chỉ thông báo những gì cơ quan quản lý có, truyền thông hiện đại đòi hỏi sự lắng nghe và phản hồi từ phía người dân – chủ thể thụ hưởng văn hóa. Khi coi truyền thông là một phần không thể tách rời của chính sách, nó không còn là khâu cuối cùng sau khi chính sách đã ban hành mà phải đồng hành ngay từ khâu ý tưởng. Chỉ khi tạo được sự thấu hiểu và đồng thuận thông qua sự tương tác đa chiều, chính sách văn hóa mới thực sự đi vào đời sống, có sức lay động và thuyết phục công chúng.
Ví dụ, trong lĩnh vực di sản văn hóa, thay vì chỉ truyền đạt, người dân cần giữ gìn áo dài, các chiến dịch truyền thông đã thuyết phục bằng cách tạo ra các cuộc thi ảnh tương tác, các xu hướng trên mạng xã hội, biến di sản thành một biểu tượng thời thượng và niềm tự hào cá nhân. Khi đó, chính sách không còn nằm ở thông báo hành chính mà đã thâm nhập vào nhận thức thông qua sự trải nghiệm và cảm xúc.
Thứ hai, xây dựng thông điệp chính sách văn hóa.
Về nội dung thông điệp chính sách phải bảo đảm các nội dung của chính sách, như: vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn đề; mục tiêu cần đạt được khi giải quyết các vấn đề; các giải pháp để giải quyết từng vấn đề; đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện chính sách; giải pháp tối ưu được lựa chọn (Điều 28 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP).
Đồng thời các nội dung trên, cần chuyển hóa thành các dạng biểu đạt phong phú, đa dạng, như: kể chuyện, thực tiễn hóa và đơn giản hóa ngôn ngữ (vì các văn bản chính sách thường khô khan, tạo ra khoảng cách nhận thức với người dân). Cách thức thực hiện là gắn chính sách với cuộc sống, lấy người dân làm trung tâm để giải thích rằng chính sách này thay đổi cuộc sống của họ ra sao, thay vì chỉ thông báo chính sách này có nội dung gì. Đồng thời, việc sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, lược bỏ thuật ngữ chuyên môn.
Thứ ba, đa dạng hóa nền tảng truyền thông chính sách văn hóa.
Hiện nay, đa phần công chúng hiện đại, đặc biệt là người trẻ, đã rời xa các kênh truyền thống để hiện diện trên các nền tảng số, như: TikTok, Facebook hay YouTube. Cơ quan quản lý cần chuyển đổi từ định dạng văn bản sang sản phẩm truyền thông số trực quan, như: infographic hay video ngắn, giúp mềm hóa, hiện đại hóa cách thể hiện các quy định khô khan. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích dữ liệu và cá nhân hóa nội dung sẽ giúp chính sách đến đúng đối tượng, mục tiêu, vào đúng thời điểm họ cần.
Thứ tư, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu chính sách văn hóa
Để truyền thông chính sách thoát khỏi lối mòn truyền thống, việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu chính sách văn hóa chính là giải pháp cốt lõi mang tính bền vững. Để thực hiện, cần tập trung đào tạo kỹ năng truyền thông số(từ thiết kế đồ họa đến quản trị mạng xã hội) giúp đội ngũ làm công tác truyền thông biết biến những số liệu khô khan thành những thông điệp có hồn và đúng thời điểm. Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng định kỳ theo mô-đun (truyền thông số, phân tích dữ liệu, quản trị khủng hoảng), gắn với tiêu chuẩn vị trí việc làm và đánh giá đầu ra rõ ràng. Sử dụng phương pháp học qua thực tiễn thông qua các dự án truyền thông chính sách cụ thể, kết hợp mời chuyên gia, nhà báo, doanh nghiệp công nghệ tham gia huấn luyện. Đồng thời, hình thành mạng lưới cán bộ truyền thông chính sách trong toàn ngành Văn hóa để chia sẻ kinh nghiệm, dữ liệu và kịch bản xử lý tình huống. Bên cạnh đó, có chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao (truyền thông, công nghệ, sáng tạo nội dung) tham gia khu vực công theo cơ chế linh hoạt.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế, chính sách truyền thông chính sách văn hóa.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách là giải pháp then chốt để đưa truyền thông thoát khỏi tình trạng manh mún, chuyển sang mô hình vận hành chuyên nghiệp và thống nhất. Để thực hiện, trước hết cần chuẩn hoá quy trình truyền thông chính sách theo “vòng đời” chính sách (từ xây dựng, ban hành đến thực thi và đánh giá), trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, bảo đảm truyền thông đi trước một bước và xuyên suốt. Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý văn hoá, cơ quan báo chí, nền tảng số và chính quyền địa phương, hình thành mạng lưới truyền thông thống nhất, tránh chồng chéo, phân tán nguồn lực. Xây dựng chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong truyền thông văn hóa, bao gồm cơ chế đặt hàng, đấu thầu sản phẩm truyền thông chất lượng cao; đồng thời, khuyến khích khu vực tư nhân và các chủ thể sáng tạo tham gia. Ngoài ra, việc thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả truyền thông dựa trên dữ liệu và phản hồi xã hội, gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu lực quản trị nhà nước.
5. Kết luận
Bài viết làm rõ vai trò của truyền thông chính sách văn hóa như một công cụ quan trọng trong kết nối Nhà nước với xã hội, góp phần nâng cao tính minh bạch và đồng thuận xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở xác định nội hàm, vai trò của truyền thông chính sách văn hóa, phân tích thực trạng, bài viết chỉ ra những hạn chế về tư duy, cơ chế vận hành và năng lực đội ngũ làm công tác truyền thông đang cản trở hiệu quả truyền thông chính sách. Các giải pháp được đề xuất theo hướng đồng bộ, từ đổi mới nhận thức, hoàn thiện thể chế, xây dựng thông điệp chính sách, thúc đẩy chuyển đổi số đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những định hướng này không chỉ nhằm hiện đại hóa hoạt động truyền thông mà còn góp phần xây dựng nền quản trị văn hóa chuyên nghiệp, thích ứng với môi trường số. Qua đó, truyền thông chính sách văn hóa sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển văn hóa và củng cố niềm tin xã hội trong giai đoạn mới.
Chú thích:
1. Chính sách văn hóa và quyền chủ thể của người Dao trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/07/01/chinh-sach-van-hoa-va-quyen-chu-the-cua-nguoi-dao-trong-bao-ton-ban-sac-van-hoa-dan-toc/
2. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. https://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2810.
3. Việt Nam tăng 14% lượng người dùng internet di động. https://vnexpress.net/viet-nam-tang-14-luong-nguoi-dung-internet-di-dong-4894534.html.
4. UNESCO (2022). Re|Shaping Policies for Creativity: Addressing Culture as a Global Public Good.
5. Castells, M. (2010). The Rise of the Network Society. Wiley-Blackwell.
6. Tiktok khởi động chiến dịch đổi mới và bảo tồn di sản trong thế giới số. https://www.vietnamplus.vn/tiktok-khoi-dong-chien-dich-doi-moi-va-bao-ton-di-san-trong-the-gioi-so-post1023323.vnp
7. World Economic Forum (2023). Global Risks Report.
8. Ứng dụng công nghệ trong tổ chức lễ hội. https://phunuvietnam.vn/ung-dung-cong-nghe-trong-to-chuc-le-hoi-238260228104544813.htm
9. Phá di tích thu nghìn tỷ, nhưng giá trị văn hóa không thể tính bằng tiền. https://dantri.com.vn/giai-tri/pha-di-tich-thu-nghin-ty-nhung-gia-tri-van-hoa-khong-the-tinh-bang-tien-20251201233533956.htm.
10. Chính phủ (2025). Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
11. Cần có giải pháp hợp lý để nâng cao truyền thông chính sách trong văn hóa. https://bvhttdl.gov.vn/can-co-giai-phap-hop-ly-de-nang-cao-truyen-thong-chinh-sach-trong-van-hoa-20231013084326322.htm
12. Tuyên truyền báo chí xuất bản/ truyền thông đa văn hóa tăng sức mạng mềm quốc gia. http://tuyengiao.hagiang.gov.vn/thong-tin-chuyen-de/tuyen-truyen-bao-chi-xuat-ban/truyen-thong-da-van-hoa-tang-suc-manh-mem-quoc-gia.html
13. Cần có giải pháp hợp lý để nâng cao truyền thông chính sách trong văn hóa. https://bvhttdl.gov.vn/can-co-giai-phap-hop-ly-de-nang-cao-truyen-thong-chinh-sach-trong-van-hoa-20231013084326322.htm
14. Truyền thông di sản văn hóa trong kỷ nguyên số: thực trạng và giải pháp. https://vanhoanghethuat.vn/truyen-thong-di-san-van-hoa-trong-k-nguyen-so-thuc-trang-va-giai-phap-77760029.html
15. Thách thức trong truyền thông chính sách đến cộng đồng dân tộc thiểu số. https://mst.gov.vn/thach-thuc-trong-truyen-thong-chinh-sach-den-cong-dong-dan-toc-thieu-so-197250105041743798.htm



