Phản bác các luận điệu xuyên tạc quan điểm “ổn định” và “phát triển” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Refuting distorted arguments regarding “stability” and “development” in the Documents of the 14th Party Congress

TS. Nguyễn Quang Vinh
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích quan điểm chỉ đạo trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển”, trong đó nhấn mạnh nhận thức mới: “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”, coi đây là định hướng có ý nghĩa phương pháp luận và thực tiễn sâu sắc trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở phân tích Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và một số công trình nghiên cứu liên quan, bài viết nhận diện các quan điểm sai trái thường gặp, như: đối lập hóa giữa ổn định với phát triển, đồng nhất ổn định với trì trệ, phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, bài viết sử dụng thực tiễn phát triển đất nước để phản bác các luận điệu xuyên tạc, thể hiện qua tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác trong tình hình hiện nay.

Từ khóa: Văn kiện Đại hội XIV; Đảng Cộng sản Việt Nam; ổn định; phát triển; quan điểm sai trái; phản bác; kỷ nguyên mới.

Abstract: The article analyzes the guiding viewpoint in the documents of the 14th National Congress of the Communist Party regarding the relationship between “stability” and “development,” emphasizing a new awareness: “using development to ensure stability, and maintaining stability to promote rapid and sustainable national development.” This is regarded as a principle with profound methodological and practical significance in the new era. Based on an analysis of the documents of the 14th Party Congress and related studies, the article identifies common incorrect viewpoints, such as: opposing stability and development, equating stability with stagnation, and denying the socialist orientation and the Party’s leadership role. At the same time, it uses the country’s development reality to refute distorted arguments, as reflected in Vietnam’s 2025 GDP growth of 8.02%, an economy size of approximately 514 billion USD, and a per capita GDP of 5,026 USD. From this, the article proposes several solutions to improve the effectiveness of counter-argument and ideological struggle in the current context.

Keywords: 14th Party Congress; Communist Party of Vietnam; stability; development; incorrect viewpoints; refutation; new era.

1. Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; trong nước, sau 40 năm Đổi mới, đất nước đã tích lũy được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao; đồng thời, đứng trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Trong bối cảnh đó, nhận thức đúng mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” không chỉ có ý nghĩa phương pháp luận trong hoạch định đường lối, mà còn giữ vai trò định hướng trực tiếp đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ mục tiêu, yêu cầu tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững”1; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”2.

Điểm mới nổi bật trong quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng là đặt “phát triển” ở vị trí dẫn dắt trong công thức định hướng. Nếu trước đây ổn định thường được nhấn mạnh như điều kiện trực tiếp của phát triển thì nay Đại hội XIV của Đảng phát triển nhận thức lên một bước mới: phát triển không chỉ là mục tiêu cần đạt tới mà còn là cơ sở căn bản để tạo lập và củng cố ổn định lâu dài. Một số công trình nghiên cứu đã coi đây là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt tư duy phát triển và tư duy an ninh quốc gia trong giai đoạn mới, bởi việc đặt “phát triển” lên trước “ổn định” phản ánh yêu cầu chủ động kiến tạo thế và lực mới cho đất nước bằng chính kết quả phát triển thực chất. Theo đó, ổn định không được hiểu như trạng thái tĩnh, càng không đồng nghĩa với bảo thủ hay trì trệ mà phải được xây dựng trên nền tảng phát triển đúng hướng, có chất lượng và vì Nhân dân3.

Nội hàm thứ nhất của quan điểm này là lấy phát triển để ổn định. Ổn định chính trị – xã hội, xét đến cùng, không thể chỉ dựa vào các biện pháp quản lý hành chính hay yêu cầu giữ gìn trật tự đơn thuần mà phải được bảo đảm bằng tăng trưởng kinh tế bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, phát triển văn hóa, củng cố niềm tin xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.

Thực tiễn nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đã minh chứng rõ ràng: tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm; năm 2025 đạt 8,02%; quy mô GDP đạt trên 514 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD4; HDI đạt 0,766; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 1,3%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%5. Những số liệu trên cho thấy, phát triển kinh tế – xã hội thực chất không chỉ cải thiện mức sống của Nhân dân mà còn trực tiếp củng cố đồng thuận xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho ổn định lâu dài.

Nội hàm thứ hai là ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. Theo tinh thần Đại hội XIV, ổn định trước hết là ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội và môi trường hòa bình để kiến tạo phát triển.

Văn kiện Đại hội XIV đặt ra ba yêu cầu có tính nguyên tắc: phải rất ổn định, phải phát triển để ổn định và phải không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân, trong đó, gồm: ổn định chính trị – xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định môi trường cho phát triển. Theo đó, phải “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững”. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc”6, bảo vệ an ninh chế độ, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, ngăn ngừa từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Như vậy, ổn định không phải là mục tiêu tự thân, mà là điều kiện để thu hút nguồn lực, cần phải “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng, thế và lực mới của đất nước, tạo động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững”7.

Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng còn thể hiện ở chỗ đặt mối quan hệ giữa ổn định và phát triển trong một chỉnh thể thống nhất, được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: Phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”8. Cách đặt vấn đề này khắc phục lối nhìn đơn tuyến, chỉ coi phát triển là tăng trưởng GDP hoặc chỉ coi ổn định là giữ yên trật tự xã hội. Ở bình diện cụ thể, quan điểm đó được lượng hóa bằng các mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030, như: tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, HDI đạt khoảng 0,8, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1 – 1,5 điểm phần trăm mỗi năm9. Điều này cho thấy, phát triển theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là phát triển theo chiều sâu, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng sống của Nhân dân.

Đại hội XIV của Đảng đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Đây là điểm mới có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong xử lý mối quan hệ giữa ổn định và phát triển trong kỷ nguyên mới. Bởi lẽ, khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần tới hạn, nếu không tạo được bứt phá về khoa học, công nghệ và thể chế thì tăng trưởng sẽ suy giảm, kéo theo rủi ro đối với ổn định lâu dài. Vì vậy, quan điểm của Đại hội XIV của Đảng không chỉ khẳng định tính biện chứng giữa ổn định và phát triển mà còn chỉ ra những động lực mới để hiện thực hóa mối quan hệ đó trong quản trị quốc gia và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chiến lược.

Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của Nhân dân. Do đó, khẳng định đúng đắn rằng phát triển là nền tảng của ổn định, còn ổn định là điều kiện của phát triển nhanh, bền vững, chính là cơ sở lý luận và thực tiễn để bác bỏ các cách hiểu siêu hình, cực đoan, cố tình đối lập ổn định với dân chủ, đổi mới hoặc định hướng xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm này vừa phục vụ phát triển đất nước, vừa góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.

2. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển”

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, việc nhận diện đúng các luận điệu sai trái về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” có ý nghĩa lý luận, chính trị và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Đây không phải là những phản biện học thuật thuần túy mà chủ yếu là các luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận tính đúng đắn của đường lối đổi mới, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội và làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Mức độ nguy hiểm của các luận điệu này càng gia tăng trong điều kiện truyền thông số phát triển mạnh, khi đến cuối năm 2025, Việt Nam có 85,6 triệu người sử dụng internet, tương đương 84,2% dân số và 79,0 triệu tài khoản mạng xã hội hoạt động, tương đương 77,6% dân số10. Trong môi trường đó, thông tin sai lệch về “ổn định” và “phát triển” có khả năng lan truyền nhanh, rộng, trực tiếp tác động đến dư luận xã hội.

Thứ nhất, luận điệu sai trái phổ biến là đối lập hóa “ổn định” với “phát triển”, coi đây là hai mục tiêu loại trừ lẫn nhau. Theo lập luận này, muốn phát triển nhanh thì phải nới lỏng ổn định chính trị – xã hội, giảm vai trò lãnh đạo của Đảng; ngược lại, nếu đặt ổn định lên trước thì tất yếu sẽ kìm hãm đổi mới và triệt tiêu động lực phát triển. Đây là lối tư duy nhị nguyên, siêu hình, cố tình tách rời hai mặt vốn có quan hệ biện chứng trong đường lối phát triển của Đảng. Trái lại, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nhiều nghiên cứu lý luận sau Đại hội đều khẳng định: “lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư duy phát triển và tư duy an ninh quốc gia trong giai đoạn mới11. Do đó, mọi cách hiểu biến “ổn định” thành lực cản của “phát triển”, hoặc biến “phát triển” thành cái cớ để phá vỡ ổn định đều sai lệch về phương pháp luận và hàm chứa dụng ý chính trị nguy hiểm12.

Thứ hai, đồng nhất “ổn định” với bảo thủ, trì trệ, khép kín, né tránh đổi mới. Các thế lực thù địch thường dựa vào một số hạn chế trong thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức thực hiện hoặc khó khăn nội tại của nền kinh tế để quy kết: nhấn mạnh ổn định tức là sợ thay đổi, không dám cải cách. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của đất nước cho thấy điều ngược lại: giai đoạn 2021 – 2025, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khoảng 6,3%/năm, quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng khoảng 47%13. Những số liệu đó cho thấy, ổn định ở Việt Nam không phải là trạng thái “đứng yên” mà là điều kiện để đổi mới có định hướng, cải cách có kiểm soát và phát triển có chất lượng14.

Thứ ba, tuyệt đối hóa phát triển kinh tế thị trường thuần túy, từ đó phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển. Kiểu lập luận này cho rằng, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa tự mâu thuẫn nhau, không thể cùng tồn tại; muốn phát triển thì phải tuyệt đối hóa sở hữu tư nhân, tuyệt đối hóa thị trường, xem nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Về bản chất, đây là thủ pháp đánh tráo khái niệm, lấy mô hình thị trường tư bản chủ nghĩa làm khuôn mẫu duy nhất để phủ nhận sáng tạo lý luận của Đảng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xét đến cùng, đích đến của kiểu xuyên tạc này không chỉ là phủ nhận con đường phát triển của đất nước, mà còn là gián tiếp bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam15.

Thứ tư, cố tình đối lập “ổn định” với dân chủ, nhân quyền và quyền làm chủ của Nhân dân. Theo đó, việc giữ vững ổn định chính trị – xã hội bị bóp méo thành “hạn chế dân chủ”; việc tăng cường kỷ cương, pháp luật bị quy chụp là “siết quyền tự do”; còn việc xử lý các hành vi tung tin giả, thông tin sai sự thật, kích động chống phá lại bị mô tả như “đàn áp tiếng nói phản biện”. Cách lập luận này lợi dụng các khái niệm có tính phổ quát để áp đặt nhận thức phi lịch sử, phi cụ thể vào điều kiện Việt Nam. Trong khi đó, nhiều công trình lý luận đã khẳng định dân chủ và nhân quyền luôn gắn với chế độ chính trị và điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia; dân chủ không thể tách rời pháp quyền, trật tự và trách nhiệm xã hội16. Vì vậy, việc đồng nhất ổn định với “thiếu dân chủ” thực chất là sự đánh tráo bản chất, làm mờ nguyên tắc phát huy dân chủ phải đi đôi với tăng cường pháp chế, kỷ cương và bảo vệ lợi ích chung của quốc gia, cộng đồng17.

Thứ năm, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong xử lý mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển”. Các luận điệu này thường quy kết rằng, chính sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân của “điểm nghẽn phát triển”, hoặc cố tình khoét sâu những hạn chế trong quản lý, tổ chức thực hiện, công tác cán bộ, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để suy diễn thành “khủng hoảng mô hình”. Từ đó, đòi hỏi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Trái lại, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 40 năm Đổi mới là kết tinh sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam18. Vì vậy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo đảm ổn định và kiến tạo phát triển thực chất là phủ nhận nhân tố quyết định thành tựu của công cuộc đổi mới, đồng thời, phủ nhận nền tảng chính trị của sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Thứ sáu, xuyên tạc thổi phồng khó khăn, khuyết điểm, vụ việc đơn lẻ hoặc các hiện tượng tiêu cực để quy chụp thành bản chất của chế độ, từ đó gieo rắc tâm lý bi quan về mối quan hệ giữa ổn định và phát triển. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những tồn tại khách quan của quá trình phát triển, những hạn chế trong thực thi chính sách, thậm chí cả những nỗ lực chấn chỉnh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hay sắp xếp tổ chức bộ máy để xuyên tạc rằng đất nước “mất ổn định từ bên trong”, “không còn dư địa phát triển” hoặc “phát triển càng mạnh thì bất ổn càng lớn”.

Tuy nhiên, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã chỉ ra cả thành tựu và hạn chế; đồng thời, khẳng định rõ cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, năng lực điều hành và hiệu quả quản lý nhà nước được cải thiện, nhiều quyết sách chiến lược về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, y tế đang tạo xung lực mới cho phát triển. Vì vậy, việc tuyệt đối hóa khó khăn, lấy hiện tượng thay cho bản chất, lấy hạn chế cục bộ để phủ nhận xu thế phát triển chủ đạo của đất nước là thủ pháp tuyên truyền sai trái, không có cơ sở khoa học.

Từ những biểu hiện trên có thể khái quát ba dấu hiệu cơ bản để nhận diện các quan điểm sai trái về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển”: (1) Về nội dung, chúng đều cố tình cắt rời hoặc tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề, từ đó phủ nhận tính biện chứng, thống nhất giữa ổn định và phát triển trong đường lối của Đảng. (2) Về logic, chúng thường sử dụng lối suy diễn giản đơn, lấy hiện tượng thay cho bản chất, lấy khó khăn nhất thời để phủ nhận xu hướng vận động cơ bản của đất nước. (3) Về mục đích chính trị, chúng hướng tới làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin xã hội và tạo cớ công kích chế độ. Do đó, nhận diện đúng các quan điểm sai trái không chỉ là yêu cầu của nghiên cứu lý luận, mà còn là tiền đề trực tiếp để đấu tranh phản bác hiệu quả, giữ vững đồng thuận xã hội và bảo vệ môi trường ổn định cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

3. Phản bác các luận điệu xuyên tạc về quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng và thực tiễn đất nước

Từ quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng có thể khẳng định, mọi luận điệu cố tình đối lập “ổn định” với “phát triển” đều sai về lý luận, thực tiễn và mục đích chính trị. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu: “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Điều đó cho thấy, ổn định và phát triển không phải là hai mục tiêu tách rời hay loại trừ nhau mà là hai mặt thống nhất trong một chiến lược phát triển quốc gia toàn diện. Vì vậy, quan điểm cho rằng, muốn phát triển thì phải “nới lỏng ổn định”, hoặc muốn ổn định thì phải “hy sinh phát triển”, thực chất là cách nhìn nhị nguyên, siêu hình, xuyên tạc tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Thực tiễn đất nước ta hiện nay đã bác bỏ trực tiếp luận điệu quy kết: ổn định là nguyên nhân của trì trệ, cản trở phát triển. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025 chứng minh, chính trong điều kiện giữ vững ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội và môi trường hòa bình, Việt Nam mới có thể duy trì đà tăng trưởng cao, mở rộng quy mô nền kinh tế và nâng cao sức chống chịu quốc gia. Nói cách khác, ổn định ở Việt Nam không phải trạng thái “đóng băng” mà là điều kiện nền tảng để đổi mới đúng hướng và phát triển có chất lượng19.

Luận điệu cho rằng, phát triển ở Việt Nam bị cản trở vì kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Điều đó cho thấy, Đảng không phủ nhận quy luật của kinh tế thị trường, mà xử lý mối quan hệ giữa thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng phát triển năng động, có điều tiết, có dẫn dắt chiến lược, gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội và lợi ích quốc gia – dân tộc. Do đó, quan điểm cho rằng kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa “tự mâu thuẫn”, “không thể tương dung” thực chất là sự đánh tráo khái niệm nhằm phủ nhận sáng tạo lý luận của Đảng.

Luận điệu sai trái là đối lập ổn định với dân chủ, quyền con người và lợi ích của Nhân dân. Cách lập luận này cố tình đồng nhất việc giữ vững kỷ cương, pháp luật, trật tự, an toàn xã hội với hạn chế dân chủ; đồng thời, bóp méo việc xử lý các hành vi lợi dụng tự do dân chủ để xuyên tạc, kích động chống phá thành “thu hẹp quyền”. Trong khi đó, cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, dân chủ và nhân quyền luôn gắn với điều kiện chính trị, pháp lý, xã hội cụ thể của mỗi quốc gia; dân chủ không thể tách rời pháp quyền, trật tự và trách nhiệm xã hội. Thực tiễn phát triển của Việt Nam đã khẳng định, ổn định gắn trực tiếp với mở rộng phúc lợi và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, thể hiện qua giảm nghèo đa chiều, mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế và tăng chi cho an sinh xã hội trong giai đoạn 2021 – 202520. Việt Nam không duy trì ổn định bằng cách hy sinh quyền lợi của người dân, mà lấy nâng cao đời sống, bảo đảm an sinh và củng cố đồng thuận xã hội làm nền tảng của ổn định bền vững21.

Luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí cho rằng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và sắp xếp tổ chức bộ máy đã làm “mất ổn định” cũng là một dạng xuyên tạc, cần kiên quyết bác bỏ. Thực tiễn nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng cho thấy điều hoàn toàn ngược lại: xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều thành tựu quan trọng; cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã tạo cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc cho triển khai nhiệm vụ phát triển. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy đã giảm mạnh đầu mối trực thuộc Trung ương, đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không kìm hãm mà góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó “lợi ích quốc gia – dân tộc sẽ tiếp tục được bảo vệ vững chắc, chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững”22.

Từ quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng và thực tiễn đất nước có thể khẳng định mọi luận điệu cố tình tách rời hoặc đối lập “ổn định” với “phát triển” đều sai về phương pháp luận, phiến diện về nhận thức và nguy hiểm về chính trị. Sai ở chỗ không thấy được tính biện chứng giữa phát triển với ổn định và giữa xây dựng với bảo vệ Tổ quốc; phiến diện ở chỗ lấy hiện tượng đơn lẻ, khó khăn nhất thời để phủ nhận xu thế phát triển cơ bản của đất nước. Nguy hiểm ở chỗ: làm xói mòn niềm tin, gây rối loạn nhận thức và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, phản bác các luận điệu sai trái về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” phải được tiến hành trên cơ sở kiên định quan điểm Đại hội XIV của Đảng; đồng thời, căn cứ  vào thành tựu phát triển, hiệu quả quản trị quốc gia, kết quả xây dựng Đảng, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng là yêu cầu nhất quán của Nghị quyết số 35-NQ/TW trong bảo vệ đường lối đổi mới, lợi ích quốc gia – dân tộc, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác hiện nay

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thống nhất nhận thức lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng làm công tác tuyên giáo, dân vận, báo chí, truyền thông, nghiên cứu lý luận và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, bởi không có nhận thức đúng thì khó đấu tranh đúng, càng khó tạo được sức thuyết phục xã hội. Cùng với đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài; lấy “chống” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách. Muốn vậy, phải chủ động lan tỏa thông tin chính thống, giá trị đúng đắn, thành tựu phát triển và các điển hình thực tiễn, qua đó, nâng cao sức đề kháng của xã hội trước thông tin xấu độc.

Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức và công nghệ đấu tranh trên không gian mạng. Coi chuyển đổi số là công cụ quan trọng để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong tình hình mới. Điều này đòi hỏi phải gắn truyền thông chính sách với nền tảng số, công cụ đa nền tảng và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các chủ thể công nghệ trong rà soát, cảnh báo, xử lý thông tin sai lệch; đồng thời, đổi mới cách thức truyền tải để bảo đảm tính kịp thời, dễ tiếp cận và tăng sức thuyết phục. Mặt khác, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý thông tin trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phản bác trong điều kiện thông tin xuyên biên giới và thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi.

Thứ ba, cần xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”. Xác định đây là nền tảng xã hội bền vững nhất của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Hiệu quả của đấu tranh phản bác không thể tách rời niềm tin của Nhân dân, do đó, phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, làm tốt công tác dân vận, đối thoại, giải trình và truyền thông chính sách để Nhân dân hiểu đúng, tin đúng và đồng hành cùng Đảng, Nhà nước. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác chính luận, báo chí, nghiên cứu lý luận và lực lượng tham gia đấu tranh trên mạng theo hướng vừa vững vàng về bản lĩnh chính trị, vừa sắc bén về tư duy khoa học, vừa thành thạo kỹ năng truyền thông số; phát huy vai trò của các nhà khoa học, giảng viên lý luận chính trị, nhà báo, văn nghệ sĩ, chuyên gia công nghệ và người có uy tín xã hội trong tạo lập các sản phẩm chính luận có chất lượng, có sức lan tỏa và khả năng thuyết phục cao.

5. Kết luận

Từ quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng có thể khẳng định, mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại và bổ sung cho nhau trong toàn bộ tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIV của Đảng không quan niệm “ổn định” là trạng thái tĩnh tại, càng không đồng nhất với bảo thủ, trì trệ; đồng thời, cũng không hiểu “phát triển” theo nghĩa tăng trưởng đơn thuần, tách rời tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, văn hóa và con người. Trái lại, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”, coi đó là định hướng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Đây vừa là sự kế thừa nhất quán tư duy đổi mới của Đảng, vừa là bước phát triển mới trong nhận thức và tổ chức thực tiễn trước yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Thực tiễn phát triển của đất nước trong những năm qua là luận cứ sinh động bác bỏ các luận điệu sai trái cố tình đối lập “ổn định” với “phát triển”. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, mở rộng an sinh xã hội, cải thiện đời sống Nhân dân và nâng cao tiềm lực quốc gia cho thấy, ổn định ở Việt Nam không phải là lực cản của phát triển, mà là điều kiện để phát triển có định hướng, có chất lượng và có sức chống chịu; ngược lại, phát triển thực chất lại là cơ sở quan trọng để củng cố ổn định bền vững, tăng cường niềm tin xã hội và nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Mọi luận điệu cho rằng, giữ vững ổn định sẽ kìm hãm phát triển, hoặc muốn phát triển phải chấp nhận đánh đổi ổn định chính trị – xã hội… đều sai về lý luận, phiến diện về thực tiễn và nguy hiểm về chính trị. Trong giai đoạn hiện nay, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về mối quan hệ giữa “ổn định” và “phát triển” phải được tiến hành trên cơ sở kiên định quan điểm Đại hội XIV của Đảng, bám chắc thực tiễn đổi mới của đất nước, đồng thời, gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW. Chỉ trên cơ sở đó có thể củng cố đồng thuận xã hội, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Chú thích:
1, 2, 4, 5, 6, 7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 26, 84, 47, 51-52, 21, 119, 81 – 82.
3, 11, 12. Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/1219402/nhan-thuc%2C-tu-duy-moi-ve-an-ninh-trong-nghi-quyet-dai-hoi-xiv-cua-dang.aspx, ngày 08/02/2026.
9, 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 376, 245.
10.DataReportal (2026). Digital 2026: Vietnam.
13, 14. Phê phán luận điệu xuyên tạc: Đổi mới ở Việt Nam là “đổi mới nửa vời” vì “không đổi mới chính trị”, “không hiệu quả”. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/phe-phan-luan-dieu-xuyen-tac-doi-moi-o-viet-nam-la-doi-moi-nua-voi-vi-khong-doi-moi-chinh-tri-khong-hieu-qua-, ngày 20/02/2024.
15. Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc về định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/phe-phan-cac-quan-diem-sai-trai-xuyen-tac-ve-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-nen-kinh-te-thi-truong-o-viet-nam, ngày 17/10/2024.
16, 17, 20, 21. Cần hiểu đúng về bản chất dân chủ, nhân quyền và việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/can-hieu-dung-ve-ban-chat-dan-chu-nhan-quyen-va-viec-loi-dung-dan-chu-nhan-quyen-de-chong-pha-viet-nam, ngày 12/7/2021.
18. Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/nhan-dien-va-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-doi-xoa-bo-vai-tro-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-viet-nam, ngày 30/01/2024.
19. Chính phủ (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng(2025). Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới.
3. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
4. Chính phủ (2024). Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.
5. Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://baochinhphu.vn/tang-toc-but-pha-quyet-tam-thuc-hien-thang-loi-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-102260404212905204.htm, ngày 05/4/2026.
6. Không thể dung thứ các luận điệu xuyên tạc thành tựu của Việt Nam trong việc thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/khong-the-dung-thu-cac-luan-dieu-xuyen-tac-thanh-tuu-cua-viet-nam-trong-viec-thuc-thi-nen-dan-chu-xa-hoi-chu-nghia, ngày 08/9/2025.
7. Kiên trì – Quyết tâm – Đồng thuận – Toàn diện – Đột phá trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/kien-tri-quyet-tam-dong-thuan-toan-dien-dot-pha, ngày 11/12/2025.
8. Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/07/ly-luan-ve-duong-loi-doi-moi-cua-dang-co-so-khoa-hoc-va-bac-bo-cac-quan-diem-sai-trai/, ngày 07/4/2026.
9. Họp báo triển khai Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ sáu, năm 2026. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/05/hop-bao-trien-khai-cuoc-thi-chinh-luan-ve-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-lan-thu-sau-nam-2026/, ngày 05/02/2026.
10. Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/07/ly-luan-ve-duong-loi-doi-moi-cua-dang-co-so-khoa-hoc-va-bac-bo-cac-quan-diem-sai-trai/.