Women’s participation in Commune-level People’s Councils: current situation, barriers, and policy implications
TS. Nguyễn Tuấn Anh
Nguyễn Thanh Tín
Trường Đại học Quy Nhơn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích sự tham gia của phụ nữ trong Hội đồng nhân dân cấp xã trên hai phương diện: mức độ hiện diện trong cơ quan dân cử và khả năng chuyển hóa hiện diện đó thành vị thế trong cấu trúc quyền lực ở cơ sở. Trên cơ sở phân tích số liệu cho thấy, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tăng từ 26,59%(nhiệm kỳ 2016 – 2021) lên 28,48% (nhiệm kỳ 2021 – 2026) và 31,55% (nhiệm kỳ 2026 – 2031). Tuy nhiên, gia tăng về số lượng chưa đi liền với sự mở rộng tương ứng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt. Bài viết chỉ ra các rào cản về thể chế, công tác cán bộ, định kiến giới và gánh nặng kép “gia đình – công vụ”. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự tham gia thực chất của phụ nữ ở Hội đồng nhân dân cấp xã.
Từ khóa: Phụ nữ; tham gia chính trị; Hội đồng nhân dân cấp xã; bình đẳng giới.
Abstract: This article examines women’s participation in commune-level People’s Councils in Vietnam from two perspectives: their level of representation in elected bodies and the extent to which that representation is translated into status within local power structures. Based on document analysis and a comparison of official data across three terms, the study shows that the proportion of women deputies in commune-level People’s Councils increased from 26.59% (in the 2016-2021) term to 28.48% (in 2021-2026) and 31.55% (in 2026-2031). However, numerical gains have not been accompanied by a corresponding expansion of women’s presence in key leadership positions. The article identifies four main groups of barriers: institutional constraints, shortcomings in cadre work, gender stereotypes, and the double burden of family and public responsibilities. On that basis, it proposes policy implications to strengthen women’s substantive participation at the commune level.
Keywords: Women; political participation; Commune-level People’s Councils; gender equality.
1. Đặt vấn đề
Trong cấu trúc chính quyền địa phương của Việt Nam, cấp xã là không gian quyền lực công gần dân nhất. Ở cấp này, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực ở địa phương. Vì vậy, tỷ lệ nữ trong HĐND cấp xã không chỉ là chỉ báo về sự hiện diện mô tả của phụ nữ trong cơ quan dân cử, mà còn là mắt xích đầu vào của quá trình chuyển hóa sự hiện diện ấy thành ảnh hưởng trong quyết định, điều hành và giám sát ở cơ sở. Nếu xem quyền tham gia chính trị của phụ nữ là một chuỗi liên tục từ đại diện tới quyền lực, thì HĐND cấp xã là mắt xích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Khung chính sách hiện hành của Việt Nam đã thể hiện khá rõ mục tiêu mở rộng sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2025 có 60% và đến năm 2030 có 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong lĩnh vực bầu cử, hướng dẫn cơ cấu ứng cử HĐND nhiệm kỳ 2026 – 2031 tiếp tục giữ yêu cầu ít nhất 35% phụ nữ trong danh sách chính thức người ứng cử ở từng cấp và phấn đấu đạt khoảng 30% nữ trúng cử1. Điều này cho thấy, chính sách của Nhà nước đã đi theo logic “đầu vào bắt buộc – đầu ra khuyến khích”, tức là hạn ngạch ứng cử là điều kiện tối thiểu phải đạt, còn kết quả trúng cử vẫn chủ yếu được thiết kế theo hướng phấn đấu.
Tuy nhiên, trên thực tế, khoảng cách giữa hiện diện và quyền lực vẫn còn khá rõ. Theo Báo cáo số 300/BC-CP ngày 03/5/2025 của Chính phủ, đến năm 2024, trong nhóm chỉ tiêu về chính trị, cấp tỉnh vượt đích năm 2025. Riêng cấp xã mới đạt 45,39% chính quyền địa phương có lãnh đạo chủ chốt là nữ, thấp hơn 14,61 điểm phần trăm so với mục tiêu năm 20252. Điều này cho thấy, vấn đề không còn dừng ở việc tăng số lượng phụ nữ hiện diện trong cơ quan công quyền mà là năng lực của hệ thống trong việc chuyển sự hiện diện đó thành sự tham gia thực chất vào trung tâm ra quyết định.
Về cơ sở lý thuyết, bài viết vận dụng lý thuyết khối lượng tới hạn (critical mass theory) của Dahlerup (1988)3, theo đó, phụ nữ cần đạt tối thiểu khoảng 30% trong cơ quan đại diện để chuyển từ vị thế “đại biểu biểu tượng” sang khả năng tác động thực chất vào chính sách. Childs và Krook (2008)4 bổ sung phân biệt quan trọng giữa đại diện mô tả (descriptive representation – hiện diện về số lượng) và đại diện thực chất (substantive representation – tác động đến chính sách vì lợi ích của nhóm được đại diện), theo đó, vượt ngưỡng 30% là điều kiện cần nhưng không đủ; điều quyết định là phụ nữ có nắm giữ các vị trí có thực quyền và có không gian phát huy tiếng nói trong các quyết sách quan trọng hay không.
Trên cơ sở phân tích tài liệu và đối sánh số liệu thứ cấp, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: thực trạng tham gia của phụ nữ trong HĐND cấp xã; các rào cản chủ yếu hạn chế sự tham gia này và đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự tham gia thực chất của phụ nữ ở cấp xã.
2. Thực trạng tham gia của phụ nữ trong Hội đồng nhân dân cấp xã
2.1. Mức độ hiện diện của phụ nữ trong Hội đồng nhân dân cấp xã
Nếu xem tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp xã là chỉ báo trực tiếp nhất của mức độ tham gia chính trị ở cơ sở, xu hướng trong 10 năm qua là xu hướng tăng rõ rệt. Ở nhiệm kỳ 2016 – 2021, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp xã đạt 26,59%5. Sang nhiệm kỳ 2021 – 2026, tỷ lệ này tăng lên 28,48%, tương ứng 68.265 nữ đại biểu, cao hơn 1,89 điểm phần trăm so với nhiệm kỳ trước6. Nhiệm kỳ 2026 – 2031, tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu HĐND cấp xã đạt 31,55%, tương ứng 22.853 người trên tổng số 72.437 đại biểu được bầu7. Như vậy, sau hai lần chuyển nhiệm kỳ liên tiếp, tỷ lệ nữ trong HĐND cấp xã đã tăng tổng cộng 4,96 điểm phần trăm và lần đầu tiên vượt ngưỡng mục tiêu phấn đấu là 30%.
Tỷ lệ này có ý nghĩa hơn khi đặt trong so sánh liên cấp. Ở Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu từ (khóa XIV) là 26,8% tăng lên 30,26% khóa XV nhưng khóa XVI chỉ còn 30%. Với HĐND cấp tỉnh, tỷ lệ nữ tăng từ 26,56% ở nhiệm kỳ 2016 – 2021 lên 29% và 29,7% nhiệm kỳ 2026 – 2031. Đặt trong tương quan đó, HĐND cấp xã có mức tăng mạnh nhất, tăng 3,07 điểm phần trăm so với mức tăng 0,7 điểm phần trăm ở HĐND cấp tỉnh và mức giảm 0,26 điểm phần trăm ở Quốc hội. Điều này cho thấy, cấp xã đang dần trở thành cấp mở hơn cho sự tham gia chính trị của phụ nữ.
Mặt khác, theo UN Women, tính đến ngày 01/01/2025, Việt Nam có 77.666 phụ nữ là thành viên các cơ quan dân cử địa phương, tương ứng với 29% tổng số ghế địa phương8. Đối chiếu với 68.265 nữ đại biểu HĐND cấp xã của nhiệm kỳ 2021 – 2026, có thể ước tính, riêng cấp xã chiếm khoảng 88% tổng số phụ nữ trong các cơ quan dân cử địa phương. Nói cách khác, nếu đánh giá thực chất sự hiện diện chính trị của phụ nữ ở cấp địa phương, không thể bỏ qua HĐND cấp xã, đây là nơi số lượng nữ đại biểu tập trung lớn nhất trong toàn bộ hệ thống dân cử địa phương. Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan quốc tế, vị trí của Việt Nam vẫn chưa thuộc nhóm có mức đại diện nữ cao trong chính quyền địa phương.
2.2. Mức độ chuyển hóa hiện diện của phụ nữ thành vị thế quyền lực ở cấp xã
Bên cạnh tỷ lệ đại biểu, mức độ chuyển hóa sự hiện diện của phụ nữ thành các vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp xã là một chỉ báo quan trọng về vị thế quyền lực của họ ở cơ sở. Dù không phản ánh trực tiếp chất lượng hoạt động của nữ đại biểu HĐND, tỷ lệ phụ nữ giữ các chức danh, như: chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND cấp xã cho thấy, mức độ phụ nữ tham gia vào những vị trí có khả năng tác động đáng kể đến quá trình ra quyết định ở địa phương.
Tuy nhiên, sự gia tăng hiện diện của phụ nữ trong HĐND cấp xã chưa đi kèm với sự mở rộng tương ứng của họ trong tầng nấc quyền lực điều hành ở cơ sở. Tỷ lệ chính quyền địa phương cấp xã có lãnh đạo chủ chốt là nữ đạt 45,39%, tăng mạnh so với mức 24,94% của năm 2021, tức tăng 20,45 điểm phần trăm. Như vậy, nếu xét theo biên độ thay đổi, cấp xã là một trong những cấp có mức cải thiện đáng kể về sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt; nhưng nếu xét theo khoảng cách tới mục tiêu 60% vào năm 2025, cấp xã vẫn chưa đạt ngưỡng chính sách.
Ở phương diện này, khung khối lượng tới hạn đặc biệt hữu ích để phân tích trường hợp HĐND cấp xã. Mức 31,55% ở nhiệm kỳ 2026 – 2031 cho thấy, phụ nữ ở cấp xã đã lần đầu vượt ngưỡng khoảng 30% – ngưỡng thường được xem là ranh giới giữa hiện diện quá mỏng và một mức hiện diện đủ lớn để có khả năng tác động rõ hơn đến đời sống chính trị. Thực tế ở cấp xã cho thấy, trong khi đại diện dân cử đã được mở rộng, sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt vẫn còn hạn chế. Khoảng cách đó phản ánh giới hạn trong quá trình chuyển từ đại diện mô tả sang đại diện có vị thế quyền lực.
3. Các rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ trong Hội đồng nhân dân cấp xã
Một là, rào cản thể chế trong thiết kế và thực thi chính sách.
Mặc dù khuôn khổ chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đã được hình thành khá đầy đủ, khoảng cách giữa cam kết và kết quả thực hiện ở cấp xã vẫn còn lớn do thiếu cơ chế ràng buộc đủ mạnh ở đầu ra. Trong bầu cử HĐND, tỷ lệ phụ nữ trong danh sách chính thức ứng cử được quy định ở mức ít nhất 35%, trong khi tỷ lệ trúng cử lại chỉ dừng ở mức phấn đấu khoảng 30%. Cấu trúc chính sách như vậy làm cho sự hiện diện của phụ nữ ở khâu giới thiệu ứng cử có thể được bảo đảm về mặt hình thức nhưng kết quả cuối cùng vẫn thiếu một cơ chế bảo đảm đủ mạnh. Khoảng cách này không chỉ là vấn đề của kỹ thuật bầu cử, mà còn phản ánh hạn chế chung của thiết kế chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, khi cơ chế giám sát, lồng ghép giới và phân bổ nguồn lực vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực thi ở cấp cơ sở9. Tức là, các mục tiêu về cán bộ nữ hiện vẫn chủ yếu mang tính phấn đấu, trong khi trách nhiệm giải trình, giám sát, đánh giá và nguồn lực thực hiện chưa được thiết kế tương xứng, nên chỉ tiêu đặt ra khó chuyển hóa thành kết quả thực tế một cách ổn định10. Vì vậy, trở ngại không nằm ở chỗ thiếu chỉ tiêu cho phụ nữ, mà ở chỗ các chỉ tiêu đó vẫn chưa được thể chế hóa thành những bảo đảm đủ mạnh cho cạnh tranh công bằng và kết quả đầu ra.
Hai là, rào cản trong công tác cán bộ và phân bổ cơ hội thăng tiến.
Rào cản này xuất hiện trong chính quy trình cán bộ, tức là quá trình đưa phụ nữ từ vị trí công tác thông thường vào diện quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, từ đó, tham gia cạnh tranh trong cơ quan dân cử cũng như các vị trí chủ chốt ở cấp xã.
Báo cáo rà soát pháp luật cho thấy, sự chênh lệch về tuổi nghỉ hưu, cùng với cách hiểu và áp dụng các quy định về quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm đã tạo ra bất lợi tích lũy đối với phụ nữ. Do thời gian công tác ngắn hơn, cơ hội tham gia đào tạo và chuẩn bị cho thăng tiến của cán bộ nữ bị thu hẹp so với nam giới; bất lợi này đặc biệt rõ từ sau tuổi 40, khi nhiều phụ nữ đã tương đối ổn định trách nhiệm gia đình và có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho phát triển nghề nghiệp. Trong khi đó, một số chính sách hỗ trợ cán bộ nữ vẫn chưa được hướng dẫn và thực hiện đầy đủ, như: hỗ trợ phụ nữ tham gia đào tạo, bồi dưỡng khi có con nhỏ đi cùng, hay chính sách riêng đối với cán bộ nữ ở vùng dân tộc thiểu số. Hệ quả là nguồn cán bộ nữ đủ điều kiện để tham gia cạnh tranh trong HĐND và đảm nhiệm các chức danh chủ chốt ở cấp xã bị hạn chế ngay từ các khâu chuẩn bị đầu vào11.
Sự thiếu hụt nguồn này không chỉ bắt nguồn từ quy định chính thức, mà còn được củng cố bởi cách phân bổ cơ hội thăng tiến trong thực tiễn. Theo khảo sát của Vụ Công tác thanh niên và bình đẳng giới tháng 8/2025, có tới 31,4% công chức tại các cơ quan hành chính nhà nước cho rằng “văn hóa giao lưu sau giờ làm như tiệc tùng, thể thao và hình thành quan hệ không chính thức là rào cản lớn đối với cơ hội thăng tiến của công chức nữ”12. Cơ chế này bất lợi cho phụ nữ ở chỗ họ vừa khó tham gia các mạng lưới nghề nghiệp phi chính thức, vừa phải gánh phần lớn trách nhiệm chăm sóc gia đình nên thiếu quỹ thời gian để duy trì các mạng lưới đó. Khi cơ hội tích lũy vốn quan hệ, kinh nghiệm quản lý và vị thế nghề nghiệp bị thu hẹp từ trước, con đường từ tham gia vào cơ quan dân cử đến nắm giữ các vị trí có thực quyền khó được mở rộng một cách tương xứng.
Ba là, rào cản định kiến giới và môi trường tham gia ở cơ sở.
Rào cản này nằm ở các chuẩn mực xã hội chi phối cách nhìn về năng lực lãnh đạo của phụ nữ. Hiệu ứng “nam trưởng, nữ phó” phản ánh khá rõ cơ chế này: phụ nữ thường được nhìn nhận như chủ thể phù hợp với vai trò hỗ trợ hơn là vai trò ra quyết định, trong khi nam giới dễ được mặc định là người có thẩm quyền lãnh đạo. Định kiến ấy tồn tại dưới nhiều dạng cụ thể, từ quan niệm cho rằng, phụ nữ thiếu tầm nhìn chiến lược, sức khỏe yếu hoặc không thật sự muốn làm lãnh đạo, đến cách đánh giá khiến họ kém lợi thế hơn trong quy trình tín nhiệm và giới thiệu nhân sự13. Khi các khuôn mẫu đó thẩm thấu vào lựa chọn chính trị ở cấp cơ sở, bất lợi của phụ nữ không còn dừng ở cấp độ nhận thức, mà chuyển thành bất lợi trong tiếp cận vị trí quyền lực.
Ở cấp xã, định kiến giới còn gắn trực tiếp với môi trường tham gia ở cơ sở. Báo cáo rà soát pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị cho thấy, pháp luật về dân chủ cơ sở vẫn chưa quy định cụ thể việc tách bạch theo giới về số lượng, mức độ tham gia thảo luận, quyết định và giám sát; đồng thời, cũng chưa có yêu cầu đủ rõ để các hoạt động tham vấn hướng tới phụ nữ, nhất là các nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương14. Dữ liệu PAPI cũng cho thấy, thiên lệch giới không chỉ tồn tại ở tầng thể chế, mà còn bộc lộ trong chính hành vi lựa chọn lãnh đạo ở cấp gần dân nhất, khi cử tri có xu hướng ưu tiên nam giới hơn trong các vị trí lãnh đạo cộng đồng15. Vì vậy, rào cản định kiến giới ở cấp xã không chỉ làm suy giảm khả năng phụ nữ được nhìn nhận như ứng viên lãnh đạo có triển vọng, mà còn thu hẹp chính không gian tham gia ở cơ sở, nơi uy tín xã hội và nền tảng chính trị của đại biểu nữ được hình thành.
Năm là, rào cản gánh nặng kép “gia đình – công vụ”.
Khác với nam giới, phụ nữ khi tham gia cơ quan dân cử thường phải đồng thời duy trì khối lượng lớn công việc nội trợ và chăm sóc gia đình. Phụ nữ dành trung bình 2,2 giờ mỗi ngày cho công việc nội trợ và chăm sóc gia đình, cao gấp 1,8 lần nam giới và cao hơn mức mục tiêu 1,7 lần đặt ra cho năm 202516. Điều này cho thấy, “gánh nặng kép” không chỉ là một nhận định định tính mà đã được phản ánh thành một chỉ tiêu quốc gia chưa đạt.
Trong bối cảnh địa bàn cấp xã được mở rộng sau sắp xếp đơn vị hành chính, chi phí thời gian và đi lại cho hoạt động dân cử càng tăng lên, khiến bất lợi này rõ hơn đối với phụ nữ, nhất là những người đang nuôi con nhỏ17. Vì vậy, trở ngại này không chỉ là hạn chế cá nhân của phụ nữ, mà là hệ quả của một cấu trúc phân công lao động theo giới còn bất bình đẳng. Khi chi phí xã hội của tham gia chính trị vẫn phân bổ nặng hơn lên phụ nữ, khả năng duy trì hiện diện và mở rộng ảnh hưởng của họ trong HĐND cấp xã khó có thể đạt mức tương xứng.
4. Hàm ý chính sách
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và quy trình bầu cử ở cấp xã.
Trước hết, cần hoàn thiện thể chế bảo đảm đại diện giới trong bầu cử và trong tổ chức quyền lực ở cấp xã. Kết quả phân tích cho thấy, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu mục tiêu hay thiếu chủ trương đối với phụ nữ mà nằm ở chỗ các mục tiêu đó mới chủ yếu bảo đảm ở đầu vào, trong khi chưa tạo được sức ràng buộc đủ mạnh đối với kết quả đầu ra. Bởi vậy, phụ nữ có thể hiện diện trong danh sách ứng cử với tỷ lệ tương đối cao nhưng khả năng trúng cử và khả năng tiếp cận các vị trí có ảnh hưởng lớn hơn vẫn chưa được bảo đảm tương xứng. Đây là vấn đề thuộc về thiết kế thể chế và quy trình bầu cử, nên cần được ưu tiên thực hiện trong ngắn hạn và trung hạn. Nếu không xử lý từ chính luật chơi và cách tổ chức cạnh tranh, thì việc tăng tỷ lệ nữ trong cơ quan dân cử vẫn có thể dừng lại ở ý nghĩa cơ cấu, chưa tạo được chuyển biến rõ về vị thế chính trị của phụ nữ ở cấp xã.
Theo hướng đó, trước mắt cần rà soát lại việc triển khai các quy định về cơ cấu nữ trong bầu cử đại biểu HĐND cấp xã, không chỉ ở khâu lập danh sách ứng cử mà cả trong quá trình hiệp thương, phân bổ ứng cử viên và sắp xếp tương quan cạnh tranh giữa các ứng cử viên trong từng đơn vị bầu cử. Vấn đề đặt ra không đơn thuần là đủ số lượng phụ nữ trong danh sách, mà là phải hạn chế tình trạng nữ ứng cử viên thường xuyên ở vào thế bất lợi khi cạnh tranh. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế theo dõi thống nhất từ khâu tạo nguồn, giới thiệu ứng cử, kết quả trúng cử đến việc bố trí và sử dụng cán bộ sau bầu cử, gắn với chế độ báo cáo, kiểm tra và trách nhiệm giải trình rõ hơn. Về lâu dài, việc hoàn thiện thể chế phải hướng tới chỗ làm cho mục tiêu bình đẳng giới trong bầu cử không chỉ là yêu cầu về cơ cấu, mà trở thành một yêu cầu về chất lượng đại diện và công bằng trong tiếp cận quyền lực chính trị ở cấp cơ sở.
Thứ hai, tăng cường tạo nguồn và phát triển cán bộ nữ ở cấp cơ sở.
Thực trạng trên cho thấy, hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các vị trí có ảnh hưởng ở cấp xã không bắt đầu từ thời điểm bầu cử, mà hình thành từ sớm trong các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và bổ nhiệm. Nói cách khác, nếu nguồn cán bộ nữ đã mỏng ngay từ đầu vào, thì việc gia tăng số lượng phụ nữ trong HĐND cũng khó tạo ra một nền tảng đủ vững để chuyển hóa hiện diện thành quyền lực thực chất. Vì vậy, đây là vấn đề thuộc về công tác cán bộ và tổ chức thực hiện, có ý nghĩa quyết định trong trung hạn và dài hạn. Nếu không củng cố được nguồn cán bộ nữ ở cơ sở thì khoảng cách giữa đại diện về số lượng và đại diện theo nghĩa thực chất sẽ tiếp tục kéo dài.
Từ đó, trọng tâm chính sách cần đặt vào việc làm cho quá trình phát hiện, tạo nguồn, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ trở nên liên tục và ổn định hơn. Cần rà soát các quy định và cách thức thực hiện liên quan đến độ tuổi quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm để hạn chế những bất lợi tích lũy đối với phụ nữ trong quá trình phát triển nghề nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường bồi dưỡng có trọng tâm đối với nữ cán bộ ở cấp xã có triển vọng tham gia HĐND hoặc đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Cùng với đó, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với cán bộ nữ trong những giai đoạn dễ bị gián đoạn về nghề nghiệp do trách nhiệm gia đình để họ không bị đứt quãng cơ hội phát triển. Về lâu dài, chỉ khi nguồn cán bộ nữ đủ dày, đủ ổn định và được chuẩn bị tốt hơn, sự hiện diện của phụ nữ trong HĐND cấp xã mới có cơ sở để phát triển thành vị thế chính trị bền vững hơn.
Thứ ba, cải thiện điều kiện tham gia và thực hiện vai trò của phụ nữ ở cấp xã.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bất lợi của phụ nữ không chỉ xuất hiện ở khâu tạo nguồn hay bầu cử mà còn kéo dài trong chính quá trình thực hiện vai trò sau khi đã tham gia cơ quan dân cử. Những rào cản, như: định kiến giới, sự thiếu quan tâm đến khác biệt giới trong sinh hoạt cộng đồng, cũng như gánh nặng kép giữa gia đình và công vụ tiếp tục làm giảm khả năng duy trì tiếng nói và mở rộng ảnh hưởng của nữ đại biểu. Vì vậy, nếu chỉ tăng số lượng phụ nữ trong HĐND mà không cải thiện điều kiện tham gia thực tế thì sự hiện diện đó vẫn khó chuyển thành ảnh hưởng chính trị tương xứng.
Theo hướng đó, trước mắt cần điều chỉnh một số điều kiện tổ chức hoạt động ở cấp xã theo hướng tạo thuận lợi hơn cho phụ nữ tham gia. Thời gian họp, tập huấn, tiếp xúc cử tri và các hoạt động cộng đồng cần được bố trí hợp lý hơn, phù hợp hơn với trách nhiệm chăm sóc trong gia đình mà phụ nữ vẫn đang gánh vác nhiều hơn. Các hoạt động dân chủ ở cơ sở cũng cần quan tâm rõ hơn đến tiếng nói, nhu cầu và khả năng tham gia của phụ nữ. Cùng với đó, cần tăng cường truyền thông thay đổi định kiến giới trong cộng đồng và trong hệ thống chính trị cơ sở để vai trò lãnh đạo của phụ nữ được nhìn nhận như một năng lực chính trị bình thường, chứ không phải một ngoại lệ cần ưu tiên hình thức. Về lâu dài, chỉ khi điều kiện tham gia trở nên công bằng hơn và chi phí xã hội của tham gia chính trị không còn dồn nặng lên phụ nữ, sự hiện diện của họ trong HĐND cấp xã mới có thể được chuyển hóa thành vị thế và ảnh hưởng thực chất trong đời sống chính trị ở cơ sở.
5. Kết luận
Sự tham gia của phụ nữ trong HĐND cấp xã ở Việt Nam đã vượt qua bình diện của một vấn đề cơ cấu đại biểu đơn thuần và cần được nhìn nhận như một vấn đề về vị thế chính trị trong thiết chế dân cử ở cơ sở. Sự gia tăng tỷ lệ nữ đại biểu qua các nhiệm kỳ là một chuyển biến tích cực, nhưng tự thân nó chưa đủ để bảo đảm sự dịch chuyển tương ứng về quyền lực. Điểm đáng lưu ý không nằm ở chỗ phụ nữ đã hiện diện nhiều hơn hay chưa, mà ở chỗ sự hiện diện đó vẫn bị giới hạn trong khả năng chuyển hóa thành ảnh hưởng thực chất trong quá trình quyết định, giám sát và tham gia vào cấu trúc lãnh đạo ở cấp xã.
Từ đó, bài viết cho rằng, giới hạn hiện nay của bình đẳng giới trong chính trị ở cấp xã không thể được khắc phục bằng một giải pháp đơn tuyến. Vấn đề này đòi hỏi một hướng tiếp cận đồng bộ hơn, trong đó hoàn thiện thể chế bầu cử, củng cố nguồn cán bộ nữ và cải thiện điều kiện tham gia phải được đặt trong cùng một logic chính sách. Chỉ khi ba phương diện đó được xử lý như những bộ phận gắn bó của cùng một quá trình, sự tham gia của phụ nữ trong HĐND cấp xã mới có thể vượt khỏi ý nghĩa hiện diện về số lượng và từng bước phát triển thành vị thế chính trị thực chất ở cơ sở.
Chú thích:
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
2, 16. Chính phủ (2025). Báo cáo số 300/BC-CP ngày 03/5/2025 về bổ sung, cập nhật thông tin cho Báo cáo số 102/BC-CP về thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2024.
3. Dahlerup, D. (1988). From a small to a large minority: Women in Scandinavian politics. Scandinavian Political Studies, 11(4), 275-298. https://doi.org/10.1111/j.1467-9477.1988.tb00372.x
4. Childs, S., & Krook, M. L. (2008). Critical mass theory and women’s political representation. Political Studies, 56(3), 725-736. https://doi.org/10.1111/j.1467-9248.2007.00712.x
5. Hội đồng bầu cử quốc gia (2016). Báo cáo số 695/BC-HĐBCQG ngày 19/7/2016 tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.
6. Bộ Nội vụ (2024). Báo cáo số 402/BC-BNV ngày 23/01/2024 về thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2023.
7. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Chất lượng đại biểu trúng cử tiếp tục được nâng lên rõ rệt. https://daibieunhandan.vn/ket-qua-bau-cu-dbqh-khoa-xvi-va-dai-bieu-hdnd-cac-cap-nhiem-ky-2026-2031-chat-luong-dai-bieu-trung-cu-tiep-tuc-duoc-nang-len-ro-ret-10412325.html
8. UN Women (2025). Women in local government: Viet Nam.
9. Trần Thị Minh Thi (2025). Thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới ở Việt Nam: thành tựu và những vấn đề đặt ra. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (210), tr. 104 -118. DOI: 10.56794/KHXHVN.6(210).104-118.
10, 17. UNDP (2025). Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền các cấp. Tóm tắt nghiên cứu chính sách, ngày 14/10/2025.
11, 14. Oxfam tại Việt Nam (2022). Báo cáo đánh giá, hoàn thiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam. Công bố ngày 17/5/2022.
12, 13. Tăng cường tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam. https://tcnnld.vn/news/detail/70897/Tang-cuong-ty-le-nu-lanh-dao-quan-ly-trong-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-o-Viet-Nam.html
15. Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (2022). Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2021.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030.
2. Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ vào Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2021 – 2026. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/10/31/nhan-to-anh-huong-den-su-tham-gia-cua-phu-nu-vao-hoi-dong-nhan-dan-cap-tinh-nhiem-ky-2021-2026/



