Improving the institutional framework of the socialist-oriented market economy in line with the spirit of the 14th Party Congress
TS. Phạm Văn Bái
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết tập trung phân tích quan điểm trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, bài viết làm rõ sự cấp thiết của việc tháo gỡ “điểm nghẽn” để khơi thông nguồn lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Từ khóa: Thể chế kinh tế; Đại hội XIV; kỷ nguyên vươn mình; kiến tạo phát triển; tự chủ chiến lược.
Abstract: This article focuses on analyzing the viewpoints presented in the Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam regarding the completion of socialist-oriented market economy institutions. Amidst the national transition into the “Era of the Nation’s Rising”, the paper clarifies the urgency of removing “bottlenecks” to unlock resources, aiming to realize the goal of transforming Vietnam into a developed nation by 2045. By emphasizing the spirit of development-enabling governance and strategic autonomy, the article proposes institutional breakthrough orientations to foster a transparent, synchronous, and modern environment that serves as a solid foundation for the country’s rapid and sustainable growth in the new period.
Keywords: Economic institutions; 14th National Congress; era of the nation’s rising; development-enabling governance; strategic autonomy.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang đứng trước thời điểm lịch sử quan trọng, chuyển mình từ giai đoạn tích lũy sang giai đoạn bứt phá để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong hành trình này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ mà còn mở ra một tư duy phát triển mới cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội khẳng định, để giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực và thích ứng với biến động phức tạp của thế giới hiện đại, việc đột phá về thể chế là yếu tố tiên quyết.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không đơn thuần là việc điều chỉnh các quy định pháp lý mà đã trở thành một cuộc cách mạng về quản trị quốc gia. Đó là quá trình chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, từ tháo gỡ khó khăn sang thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tự chủ chiến lược.
2. Sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, thể chế luôn đóng vai trò là “hệ điều hành” quyết định sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế. Bước vào giai đoạn mới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình; phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả”1. Việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không còn là nhiệm vụ thường xuyên mà đã trở thành một cuộc cách mạng về tư duy quản trị để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Một là, tháo gỡ các “điểm nghẽn” để khơi thông nguồn lực quốc gia. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải quyết những rào cản đang kìm hãm các nguồn lực xã hội. Văn kiện Đại hội XIV xác định rõ nhiệm vụ: “Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới”2. Thực trạng hiện nay cho thấy, mặc dù chúng ta đã có nhiều cải cách, nhưng hệ thống thể chế vẫn tồn tại những “điểm nghẽn” nghiêm trọng, đặc biệt là sự thiếu đồng bộ và chồng chéo của các quy định pháp luật.
Hiện nay, vẫn còn nhiều quy định mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu khiến các địa phương và doanh nghiệp rơi vào tình trạng lúng túng trong thực thi3. Tình trạng “đùn đẩy, né tránh, sợ sai” trong một bộ phận cán bộ, công chức không chỉ là vấn đề trách nhiệm cá nhân mà gốc rễ nằm ở sự chưa rõ ràng của thể chế. Đại hội XIV đã chỉ ra: “Một bộ phận cán bộ thực thi còn chưa quyết liệt, kịp thời, còn có tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm trong thực thi công vụ”4. Hệ quả là tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công nhiều năm qua vẫn gặp khó khăn, nguồn lực đất đai bị lãng phí do các dự án treo và niềm tin của nhà đầu tư bị ảnh hưởng do chi phí tuân thủ pháp luật còn quá cao. Để đạt mục tiêu huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt khoảng 40% GDP trong giai đoạn 2026 – 2030, đột phá thể chế là con đường duy nhất để biến các nguồn lực “đóng băng” thành dòng vốn lưu thông, tạo ra của cải cho xã hội.
Hai là, thúc đẩy năng lực sản xuất mới và làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Thế giới đang bước vào cuộc đua về công nghệ với tốc độ chưa từng có. Hiện nay, các mô hình kinh tế mới, như: kinh tế chia sẻ, thương mại điện tử xuyên biên giới, tài sản số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển nhanh hơn rất nhiều so với khả năng điều chỉnh của pháp luật. Việc thiếu các “khung pháp lý thử nghiệm” (Sandbox) khiến doanh nghiệp công nghệ Việt Nam gặp khó khăn trong việc triển khai các sản phẩm tiên phong, dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám” và mất cơ hội làm chủ các chuỗi giá trị toàn cầu. Hoàn thiện thể chế chính là tạo ra một môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ sở hữu trí tuệ và thúc đẩy chuyển đổi xanh. Nếu không có hệ thống thể chế linh hoạt và hiện đại, Việt Nam sẽ lỡ nhịp với xu thế xanh hóa và số hóa, vốn là “vé thông hành” để tiến vào nhóm các quốc gia phát triển.
Ba là, nâng cao tự chủ chiến lược và khả năng thích ứng trong thế giới “phân tuyến”. Trong bối cảnh địa chính trị biến động phức tạp, thế giới đang hình thành các khối liên minh và sự đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu. Một hệ thống thể chế kinh tế vững mạnh, minh bạch và tương thích với các chuẩn mực quốc tế chính là “lá chắn” an ninh kinh tế hiệu quả nhất. Văn kiện nhấn mạnh việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Hiện nay, nước ta đã tham gia vào 16 FTA thế hệ mới, nhưng khả năng tận dụng ưu đãi và nội luật hóa các cam kết vẫn còn khoảng cách. Các rào cản kỹ thuật về môi trường, như: cơ chế điều chỉnh biên giới carbon – CBAM của EU và tiêu chuẩn lao động đang đặt ra thách thức lớn. Việc hoàn thiện thể chế không chỉ để tuân thủ các cam kết mà còn để tạo lập một nội lực mạnh mẽ, giúp doanh nghiệp nội địa đủ sức đứng vững trước các cú sốc bên ngoài. Tự chủ chiến lược về kinh tế bắt đầu từ một thể chế tự chủ, giúp Việt Nam tham gia sâu vào các chuỗi giá trị nhưng không bị lệ thuộc vào bất kỳ đối tác hay thị trường duy nhất nào.
Bốn là, giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước – thị trường – xã hội và hướng tới mục tiêu hạnh phúc của Nhân dân. Bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi thể chế kinh tế phải giải quyết được mối quan hệ tam giác giữa hiệu quả kinh tế, vai trò quản lý của Nhà nước và công bằng xã hội. Thực trạng những năm qua cho thấy, sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường đôi khi vẫn còn mang tính hành chính, cơ chế “xin – cho” chưa được xóa bỏ triệt để. Ngược lại, những mặt trái của thị trường như khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và trục lợi chính sách cũng đang đặt ra áp lực lớn cho công tác quản lý. Hoàn thiện thể chế theo tinh thần mới là phải lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách. Mục tiêu cuối cùng của thể chế kinh tế không chỉ là con số tăng trưởng GDP mà phải là nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI) và niềm hạnh phúc của Nhân dân. Hệ thống an sinh xã hội phải được pháp lý hóa để bao phủ toàn dân, bảo đảm mọi thành quả phát triển đều được chia sẻ công bằng.
Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Văn kiện Đại hội XIV là một yêu cầu tất yếu khách quan, có tính chất sống còn đối với sự phát triển của đất nước. Việc giải quyết các điểm nghẽn pháp lý, thúc đẩy năng lực sản xuất mới, nâng cao tự chủ chiến lược và bảo đảm công bằng xã hội chính là chìa khóa để giải phóng mọi tiềm năng của dân tộc.
3. Nội dung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Trong tư duy chiến lược của Đảng tại Đại hội XIV, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu bứt phá của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên mới. Trên tinh thần đó, nội dung hoàn thiện thể chế được định hình qua 5 nội dung sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa quy định pháp luật theo mô hình thể chế “kiến tạo phát triển”. Đây là nội dung mang tính nền tảng, thay đổi căn bản triết lý quản lý nhà nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo phát triển: “thúc đẩy quản trị quốc gia, quản trị địa phương, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra, thực sự gần dân, sát dân, phục vụ người dân tốt hơn, tháo gỡ điểm nghẽn, khai thông nguồn lực, tạo dư địa cho huy động các nguồn lực để thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển đất nước”5.
Nội dung hoàn thiện tập trung vào việc xác lập một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch và có tính dự báo cao. Điểm đột phá chính là nguyên tắc: Người dân và doanh nghiệp được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, trong khi Nhà nước chỉ thực hiện các chức năng mà pháp luật cho phép với tinh thần phục vụ. Điều này đòi hỏi phải xóa bỏ triệt để cơ chế “xin – cho”, giảm tối đa các thủ tục hành chính tiền kiểm rườm rà, chuyển mạnh sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu số. Mục tiêu là xây dựng một môi trường kinh doanh an toàn, nơi mà quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản được bảo hộ tuyệt đối, tạo động lực cho mọi chủ thể kinh tế tự tin đầu tư và sáng tạo.
Thứ hai, thể chế hóa quan hệ sở hữu đa dạng và vị thế động lực của kinh tế tư nhân. Một trong những nội dung trọng tâm và mạnh mẽ nhất trong Văn kiện Đại hội XIV là việc hoàn thiện thể chế về sở hữu và các thành phần kinh tế. Đảng ta khẳng định tiếp tục kiên trì mô hình kinh tế nhiều thành phần nhưng có sự tái định vị quan trọng về vai trò của từng khu vực.
Văn kiện xác lập nội dung đột phá: kinh tế tư nhân không chỉ là “một động lực quan trọng” mà đã trở thành “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”6. Thể chế mới phải bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận các nguồn lực chiến lược, như: đất đai, vốn và công nghệ. Đặc biệt, Văn kiện nhấn mạnh giải pháp: “Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam lớn, mạnh, ngang tầm khu vực và thế giới”7.
Đối với kinh tế nhà nước, nội dung hoàn thiện tập trung vào việc thực hiện tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa thực chất, bảo đảm kinh tế nhà nước chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, mang tính mở đường và dẫn dắt đầu tư xã hội. Nghị quyết số 79 NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước xác định: “Chú trọng xây dựng, phát triển một số tập đoàn kinh tế dân tộc có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế, giữ vai trò dẫn dắt trong một số ngành, lĩnh vực then chốt, nhất là những ngành có lợi thế cạnh tranh, các ngành công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, các ngành có khả năng tạo ra các giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa mạnh mẽ, dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ”8. Việc hoàn thiện thể chế sở hữu còn bao hàm cả các loại tài sản mới, như: sở hữu trí tuệ và tài sản số, coi đây là vốn quý để thúc đẩy nền kinh tế tri thức.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất theo chuẩn mực hiện đại. Để nguồn lực xã hội chảy vào những nơi có hiệu quả cao nhất, Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu phải hoàn thiện đồng bộ và vận hành thông suốt hệ thống các loại thị trường. Trọng tâm của nội dung này là tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong phân bổ nguồn lực đất đai, vốn và chất xám.
(1) Thị trường quyền sử dụng đất: đây là nội dung cấp bách. Văn kiện xác định phải thương mại hóa quyền sử dụng đất sâu rộng, xây dựng cơ chế giá đất theo nguyên tắc thị trường để khắc phục tình trạng lãng phí và khiếu kiện.
(2) Thị trường khoa học, công nghệ: Phải thể chế hóa cơ chế chuyển giao công nghệ, khuyến khích các viện nghiên cứu và trường đại học liên kết với doanh nghiệp.
(3) Thị trường vốn: hoàn thiện hành lang cho thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp vận hành lành mạnh, trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho nền kinh tế, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Việc vận hành các yếu tố này theo cơ chế thị trường chính là chìa khóa để đạt chỉ tiêu đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% vào năm 2030.
Thứ tư, thiết lập hành lang pháp lý cho kinh tế số và kinh tế xanh. Đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên vươn mình, Văn kiện Đại hội XIV dành không gian lớn cho các nội dung thể chế về kinh tế số và xanh. Đây là hai động lực trung tâm để Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Nội dung hoàn thiện tập trung vào việc xây dựng khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) cho các mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới, như: tài chính số, AI, bán dẫn.
Về kinh tế xanh, nội dung thể chế gắn liền với cam kết Net Zero. Văn kiện xác định phải hoàn thiện thị trường tín chỉ carbon, luật hóa các tiêu chuẩn về kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Thể chế lúc này đóng vai trò điều hướng dòng vốn đầu tư vào các ngành sản xuất sạch, tiết kiệm năng lượng, biến các thách thức về môi trường thành cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững.
Thứ năm, gắn kết thị trường với tiến bộ, công bằng xã hội và mục tiêu hạnh phúc của con người. Bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa trong thể chế kinh tế theo tinh thần Đại hội XIV được thể hiện rõ nhất ở nội dung này. Hoàn thiện thể chế kinh tế không thể tách rời việc nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Văn kiện xác định: “phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu”9.
Nội dung hoàn thiện tập trung vào việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bền vững và bao phủ toàn dân. Thể chế hóa các quy định về tiền lương, thu nhập để người lao động thực sự được hưởng thành quả của tăng trưởng. Thể chế phải tạo ra cơ chế để Nhân dân thực sự là trung tâm của mọi quá trình phát triển, đảm bảo chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao (khoảng 0,8) và mọi người dân đều có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ công cơ bản.
4. Một số giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới
Để hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bứt phá, đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ≥ 10,0%/năm và đưa GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, việc thực thi các giải pháp thể chế cần được tiến hành với tinh thần “tốc lực” và “đột phá”, bao gồm các giải pháp trọng tâm:
Một là, tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc hoàn thiện thể chế. Đây là giải pháp nền tảng, giữ vai trò quyết định chính trị. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là đối với Nhà nuớc, gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nuớc”10. Sự lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới tập trung vào việc hoạch định các chủ trương chiến lược “mở đường” cho các mô hình kinh tế mới. Đảng lãnh đạo bằng việc thiết lập kỷ luật, kỷ cương trong thực thi thể chế, đồng thời nêu cao vai trò tiền phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc xóa bỏ lợi ích nhóm và tư duy cục bộ. Sự kiên định của Đảng trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa chính là “neo giữ” sự ổn định để thị trường vận hành hiệu quả, bảo đảm mọi thành quả phát triển đều vì lợi ích của Nhân dân.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp và quy trình xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo. Văn kiện chỉ rõ: “Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách”11. Giải pháp này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong lập pháp, kiên quyết từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” hoặc “cài cắm” quyền lợi của các bộ, ngành vào văn bản luật. Cần chuyển mạnh sang cơ chế “hậu kiểm”, cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính “tiền kiểm” gây nghẽn dòng vốn. Thể chế phải tạo ra một môi trường an toàn, minh bạch để huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt 40% GDP, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo của toàn dân.
Ba là, thực hiện phân cấp, phân quyền thực chất gắn với trách nhiệm giải trình. Văn kiện Đại hội XIV đặt ra yêu cầu triệt để thực hiện nguyên tắc: “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”12. Giải pháp này nhằm giải phóng sự chủ động của các địa phương trong việc tháo gỡ khó khăn đặc thù. Trung ương tập trung vào quản trị chiến lược, xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia và tăng cường giám sát bằng dữ liệu. Việc trao quyền tự chủ thực chất trong quản lý đất đai và đầu tư sẽ là động lực để các địa phương đạt được mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50% và hình thành các vùng kinh tế động lực mạnh mẽ.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số quản trị quốc gia và liên thông dữ liệu toàn diện. Trong kỷ nguyên vươn mình, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là giải pháp bắt buộc để nâng cao hiệu lực quản lý. Giải pháp này tập trung vào việc số hóa toàn bộ các dịch vụ công, xây dựng chính phủ số hoạt động dựa trên dữ liệu thực tế. Mục tiêu là triệt tiêu các tầng nấc trung gian, công khai minh bạch hóa mọi quy trình để “không thể tham nhũng”, đồng thời thúc đẩy năng suất lao động đạt mức tăng trưởng 8,5%/năm. Đây cũng là nền tảng để kinh tế số chiếm 30% GDP, tạo ra không gian phát triển mới cho các doanh nghiệp công nghệ trong nước.
Năm là, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Đây là giải pháp mang tính “then chốt của then chốt” để vận hành bộ máy thể chế. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”13. Giải pháp này đòi hỏi việc pháp lý hóa các quy định để tạo “lá chắn” an toàn cho những người dám bứt phá khỏi những quy định cũ lỗi thời để tìm ra cách làm mới hiệu quả. Khi cán bộ không còn tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm”, nguồn lực con người sẽ được giải phóng, đưa đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55%, tạo nên sức mạnh nội sinh đưa dân tộc vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới.
5. Kết luận
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIV là chìa khóa mở cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Để hiện thực hóa các chỉ tiêu phát triển khát vọng, Việt Nam cần một cuộc cách mạng về tư duy quản trị, chuyển mạnh từ kiểm soát sang kiến tạo, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo giá trị. Với sự lãnh đạo vững vàng của Đảng và vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước, việc khơi thông những “điểm nghẽn” thể chế sẽ tạo ra xung lực mới, giải phóng tối đa sức sản xuất và trí tuệ con người. Đây chính là nền tảng vững chắc để đất nước bứt phá, tự chủ chiến lược và khẳng định vị thế quốc gia hùng cường, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 0, 11, 12, 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 32, 118, 87, 121, 135, 136, 149, 152, 123, 124, 128.
8. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Tài liệu tham khảo:
1. Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (2025). Báo cáo rà soát các “điểm nghẽn” thể chế và giải pháp khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội.
2. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/08/12/hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam/
3. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới. https://baochinhphu.vn/tiep-tuc-doi-moi-manh-me-phuong-thuc-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-yeu-cau-cap-bach-cua-giai-doan-cach-mang-moi-102240916142015733.htm



