Nâng cao chất lượng công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết ở đảng ủy xã, phường, đặc khu trong điều kiện mới

Improving the quality of mid-term and final reviews of resolution implementation by commune, ward, special zone level party committees in the new context

ThS. Trần Ngọc Thiện
Học viện Chính trị khu vực II

(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần đánh giá quá trình hiện thực hóa nghị quyết vào cuộc sống. Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết là cơ sở để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nghị quyết. Bài viết làm rõ vấn đề sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết ở đảng ủy xã, phường đặc khu trong điều kiện mới.

Từ khóa: Sơ kết; tổng kết; nghị quyết; đảng ủy; Đại hội XIV của Đảng.

Abstract: Mid-term and final reviews of the implementation of Party resolutions are among the important tasks contributing to assessing the process of translating Party resolutions into practice. Effectively conducting mid-term and final reviews provides a basis for proposing solutions to improve the quality of Party resolution implementation. This article clarifies issues relating to mid-term and final reviews, evaluates the results of Party resolution implementation, and proposes solutions to improve the quality of mid-term and final reviews of the implementation of Party resolutions by commune, ward, and special-zone-level Party Committees in the new context.

Keywords: Mid-term review; final review; Party resolution implementation; Party committees; 14th National Party Congress.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, xem đây là phương thức quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết của trung ương và cấp ủy cấp trên không chỉ giúp đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ mà còn góp phần kiểm nghiệm tính đúng đắn của chủ trương, phát hiện vấn đề mới, bổ sung và phát triển lý luận, hoàn thiện cơ chế, chính sách. Vì vậy, qua các kỳ Đại hội, Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, phục vụ phát triển đường lối đổi mới.

Đối với cấp xã, công tác sơ kết, tổng kết càng có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng lãnh đạo, cầm quyền của tổ chức đảng ở cơ sở. Tuy nhiên, ở một số nơi, công tác này vẫn còn hình thức, nặng về báo cáo thành tích, thiếu phân tích chiều sâu và chưa kịp thời đề xuất giải pháp từ thực tiễn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là kỹ năng của đội ngũ đảng ủy viên, nhất là đảng ủy viên phụ trách ngành, lĩnh vực còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, hệ thống hóa và nâng cao kỹ năng sơ kết, tổng kết cho đội ngũ đảng ủy viên cấp xã là yêu cầu cần thiết nhằm góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

2. Về sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết

Quy trình lãnh đạo của Đảng đối với một nhiệm vụ, vấn đề thường gồm các khâu: xây dựng và ban hành nghị quyết; quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết và bổ sung, phát triển chủ trương. Trong đó, sơ kết, tổng kết giữ vai trò “khâu bản lề”, vừa là bước đánh giá kết quả thực hiện, vừa là cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện và ban hành chủ trương mới.

Đối với cấp ủy cấp xã, sơ kết, tổng kết là nhiệm vụ thường xuyên của đảng ủy nhằm đánh giá thực tiễn tổ chức thực hiện nghị quyết và đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình địa phương. Đảng ủy viên cấp xã, nhất là những người phụ trách ngành, lĩnh vực có trách nhiệm trực tiếp tham mưu, tổ chức và phối hợp thực hiện công tác này.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Đã có nhiều đổi mới trong tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được coi trọng, gắn kết chặt chẽ với định hướng chính sách” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 55). Đồng thời, Đại hội cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, đó là: “Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển đột phá của đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 67).

Những năm qua, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết ở đảng ủy xã, phường, đặc khu đã đạt được những kết quả quan trọng, phản ánh sự trưởng thành trong năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng ở cơ sở.

Về nhận thức và tư duy, đa số đảng ủy viên cấp xã đã xác định đúng vị trí, vai trò của công tác sơ kết, tổng kết trong quy trình lãnh đạo của Đảng. Sơ kết, tổng kết không còn được nhìn nhận đơn thuần là thủ tục hành chính mà dần được coi là “khâu bản lề” quan trọng, vừa đánh giá kết quả thực hiện, vừa cung cấp cơ sở thực tiễn để điều chỉnh và hoàn thiện chủ trương. Sự chuyển biến về nhận thức này tạo nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng công tác sơ kết, tổng kết trong thực tiễn.

Về tổ chức thực hiện, nhiều đảng ủy cơ sở đã chủ động xây dựng kế hoạch sơ kết, tổng kết bài bản, có phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các đảng ủy viên phụ trách ngành, lĩnh vực. Quy trình tổ chức từng bước được chuẩn hóa, từ xây dựng kế hoạch, thu thập thông tin, dự thảo báo cáo đến tổ chức hội nghị và ban hành kết luận. Một số địa phương đã chủ động lồng ghép công tác sơ kết, tổng kết nghị quyết với đánh giá thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.

Về chất lượng báo cáo, so với giai đoạn trước, nhiều báo cáo sơ kết, tổng kết đã có sự cải thiện rõ rệt về cấu trúc và nội dung. Các báo cáo không chỉ phản ánh kết quả đạt được mà bước đầu đã chú trọng phân tích nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất phương hướng, giải pháp cho giai đoạn tiếp theo. Một số đảng ủy đã biết vận dụng số liệu thống kê, minh chứng thực tiễn để làm tăng tính thuyết phục và độ tin cậy của báo cáo.

Về gắn kết với tổng kết thực tiễn, nhiều cấp ủy đã quan tâm hơn đến việc gắn sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết với tổng kết thực tiễn địa phương. Từ kết quả sơ kết, tổng kết, một số đảng ủy đã kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, những mô hình hay, cách làm sáng tạo tại cơ sở để nhân rộng hoặc kiến nghị cấp trên bổ sung, điều chỉnh chủ trương cho phù hợp với thực tiễn. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc thực hiện nguyên tắc “từ thực tiễn mà phát triển lý luận” theo tinh thần chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng.

Về ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức, một số địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập, xử lý số liệu phục vụ công tác sơ kết, tổng kết, giúp rút ngắn thời gian, nâng cao độ chính xác và tính hệ thống của thông tin. Hình thức tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết cũng có nhiều đổi mới, tăng tính dân chủ, thảo luận thực chất, hạn chế dần lối tổ chức theo kiểu “hội nghị một chiều” thiếu tương tác.

Những kết quả trên là minh chứng cho sự nỗ lực của đội ngũ đảng ủy viên cấp xã trong đổi mới công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết ở cấp xã vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.

Một là, tình trạng hình thức, nặng về thành tích vẫn còn phổ biến. Nhiều báo cáo sơ kết, tổng kết chủ yếu liệt kê kết quả đạt được, thiếu phân tích chiều sâu về nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của những hạn chế, khuyết điểm. Việc “báo cáo đẹp” nhưng thiếu thực chất dẫn đến giá trị chỉ đạo thực tiễn của công tác sơ kết, tổng kết bị hạn chế.

Hai là, năng lực của đội ngũ đảng ủy viên trong thực hiện công tác này còn nhiều bất cập. Một bộ phận đảng ủy viên, đặc biệt là những đảng viên phụ trách ngành, lĩnh vực còn hạn chế về kỹ năng thu thập, phân tích thông tin và xây dựng báo cáo. Việc cụ thể hóa nghị quyết thành các tiêu chí định lượng rõ ràng để làm cơ sở đánh giá chưa được thực hiện tốt dẫn đến tình trạng đánh giá chung chung, thiếu căn cứ khoa học.

Ba là, công tác tham mưu, đề xuất giải pháp sau sơ kết, tổng kết chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nhiều kết luận hội nghị sơ kết còn mang tính chung chung, thiếu giải pháp cụ thể, khả thi; chưa xác định rõ trách nhiệm, thời gian và kết quả cần đạt được, làm giảm hiệu quả thực thi sau sơ kết. Tình trạng nghị quyết được ban hành nhưng việc theo dõi, kiểm tra triển khai thực hiện kết luận sơ kết còn lỏng lẻo vẫn diễn ra ở không ít địa phương.

Bốn là, việc gắn kết giữa sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết với tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận chưa được chú trọng đúng mức. Đây là hạn chế mà Đại hội XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra khi nhận định công tác tổ chức thực hiện nghị quyết “vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển đột phá của đất nước”. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết ở cấp cơ sở, coi đây là khâu then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của tổ chức đảng trong giai đoạn mới.

3. Một số giải pháp

3.1. Tăng cường nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết

Quán triệt nghị quyết không chỉ dừng ở học tập, phổ biến văn bản mà phải làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để thống nhất ý chí, hành động. Cụ thể hóa nghị quyết là chuyển các định hướng chung thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn địa phương.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đảng ủy viên cấp xã cần tập trung rèn luyện một số kỹ năng cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ động nghiên cứu sâu, nắm vững nội dung nghị quyết.

Đây là kỹ năng nền tảng quyết định chất lượng quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết. Đảng ủy viên không chỉ đọc mà phải nghiên cứu, phân tích kỹ nội dung nghị quyết, làm rõ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và những điểm mới, đột phá; đồng thời, đối chiếu với thực tiễn địa phương để xác định những thuận lợi, khó khăn và yêu cầu đặt ra trong quá trình triển khai. Việc nắm chắc nội dung nghị quyết giúp xác định đúng trọng tâm, phân bổ nguồn lực hợp lý và đề xuất các giải pháp khả thi, hiệu quả.

Cụ thể: khi nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đảng ủy viên không nên dừng ở việc nghiên cứu nội hàm các biểu hiện suy thoái mà phải nghiên cứu để nắm rõ nguyên nhân phát sinh các biểu hiện, cách nhận diện, cơ chế kiểm soát, phòng, chống như thế nào trước tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay. Khi nghiên cứu nắm sâu, nắm kỹ thì sẽ xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cách phân bổ nguồn lực, từ đó, xác lập các giải pháp khoa học, thiết thực, hiệu quả thực thi cao.

Thứ hai, thường xuyên trau dồi, nâng cao khả năng truyền đạt mang tính thuyết phục cao. Đảng ủy viên cần biết lựa chọn phương pháp phù hợp với từng đối tượng (cán bộ, đảng viên, quần chúng), kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa “nói” và đưa “dẫn chứng”. Tập trung vào một số yêu cầu cơ bản: diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, tránh đọc chép; liên hệ sát với tình hình địa phương; đưa ví dụ cụ thể, dễ hiểu; gợi mở thảo luận để tạo sự tương tác. Chẳng hạn, khi triển khai chỉ thị về chuyển đổi số, thay vì trình bày những nội dung chung chung, đảng ủy viên có thể lấy ví dụ cụ thể như việc ứng dụng dịch vụ công trực tuyến ở xã hay việc sử dụng phần mềm quản lý dân cư để minh họa.

Thứ ba, nâng cao khả năng phân tích, lựa chọn những nội dung trọng tâm, phù hợp với địa phương. Một nghị quyết thường có phạm vi rộng và nhiều nội dung, vì vậy, đảng ủy viên cần có kỹ năng “lọc”, xác định đúng nhiệm vụ ưu tiên, khâu đột phá và những vấn đề sát với thực tiễn địa phương. Ví dụ, đối với xã nông thôn, khi triển khai nghị quyết phát triển kinh tế – xã hội cần tập trung vào xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế hợp tác, sản phẩm OCOP và làng nghề. Kỹ năng này giúp việc cụ thể hóa nghị quyết đúng trọng tâm, thuận lợi trong tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả.

Thứ tư, cụ thể hóa nghị quyết thành các tiêu chí cụ thể. Đảng ủy viên cần chuyển nội dung nghị quyết thành các chỉ tiêu định lượng và định tính rõ ràng, bảo đảm dễ đo lường, dễ thực hiện và sát với điều kiện địa phương. Việc cụ thể hóa phải theo hướng rõ mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian, trách nhiệm và kết quả thực hiện. Trên cơ sở đó, nghị quyết được xây dựng thành chương trình hành động hoặc kế hoạch với các chỉ tiêu cụ thể phù hợp nguồn lực của xã. Ví dụ, mục tiêu “nâng cao chất lượng đời sống nhân dân” có thể cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, như: tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế hoặc phát triển các mô hình kinh tế hiệu quả.

3.2. Kỹ năng tiến hành sơ kết, tổng kết

Công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ nhằm đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo mà còn góp phần tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng. Đối với cấp xã, yêu cầu đối với đảng ủy và từng đảng ủy viên ngày càng cao. Vì vậy, đảng ủy viên cần nhận thức rõ sơ kết, tổng kết không chỉ là tổng hợp tình hình mà phải bảo đảm tính phân tích, khái quát và đề xuất giải pháp có cơ sở khoa học, qua đó, làm rõ mức độ phù hợp và hiệu quả của nghị quyết trong thực tiễn.

Để công tác sơ, tổng kết thực hiện nghị quyết đạt chất lượng cao cần thực hiện đầy đủ, chặt chẽ các khâu sau:

Một là, xây dựng kế hoạch tổ chức sơ kết, tổng kết. Việc xây dựng kế hoạch tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết của cấp trên là khâu định hướng, quyết định trực tiếp đến chất lượng báo cáo và hiệu quả rút kinh nghiệm thực tiễn. Nếu kế hoạch xây dựng sơ sài, hình thức thì công tác sơ kết, tổng kết dễ rơi vào đối phó, thiếu chiều sâu. Vì vậy, kế hoạch cần bám sát nội dung nghị quyết của cấp trên, xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung trọng tâm và sản phẩm đầu ra. Đồng thời, phải bảo đảm tính khoa học, logic, khả thi; phân công rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp và nội dung kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện.

Hai là, thu thập thông tin, số liệu, phân tích, đánh giá. Đảng ủy viên cần khai thác đa dạng nguồn thông tin từ cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể, tổ chức đảng trực thuộc, cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời, đối chiếu với văn bản chỉ đạo của cấp trên và các ngành chức năng. Trên cơ sở đó, tiến hành tổng hợp, phân loại, so sánh với mục tiêu nghị quyết và thực tiễn địa phương để đưa ra nhận định khách quan, chính xác, tránh tình trạng “báo cáo đẹp” nhưng thiếu thực chất. Đây là kỹ năng cốt lõi, đòi hỏi tư duy logic và khả năng phân tích sâu nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của hạn chế, khuyết điểm. Từ kết quả đánh giá, cần xác định rõ các yếu tố tác động và dự báo tình hình để đề xuất giải pháp phù hợp, khả thi và hiệu quả.

Ba là, tiến hành xây dựng dự thảo báo cáo. Kỹ năng dự thảo báo cáo sơ kết, tổng kết là kỹ năng quan trọng của cán bộ tham mưu ở cơ sở, phản ánh năng lực phân tích, tổng hợp và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy. Một báo cáo chất lượng không chỉ đúng thể thức mà còn phải đúng thực chất, trúng vấn đề và có giá trị chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy, đảng ủy viên cần tập trung rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như:

(1) Xác định rõ mục tiêu báo cáo: báo cáo nhằm đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm hay phục vụ ban hành chủ trương mới; đánh giá toàn diện hay chuyên đề; phục vụ cấp ủy, cấp trên hay hội nghị phối hợp;

(2) Xây dựng đề cương khoa học, logic, bám sát yêu cầu của nghị quyết và nội dung cần sơ kết, tổng kết;

 (3) Chọn lọc thông tin, số liệu phù hợp và biết “biến số liệu thành luận điểm”, tránh liệt kê dàn trải hoặc thiếu phân tích, đánh giá;

(4) Chú trọng kỹ năng phân tích, đánh giá – “linh hồn” của báo cáo, làm rõ mức độ hoàn thành, xu hướng phát triển và tác động thực tiễn của từng nội dung. Ví dụ, không chỉ nêu “thu ngân sách đạt 100%” mà cần phân tích mức tăng, nguyên nhân và ý nghĩa thực tiễn của kết quả đó;

(5) Thẳng thắn chỉ ra hạn chế, khuyết điểm, xác định đúng nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan để rút kinh nghiệm và phát hiện những “điểm nghẽn” trong tổ chức thực hiện;

(6) Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ bám sát yêu cầu mới của nghị quyết, phù hợp tình hình địa phương và nguồn lực thực tế;

(7) Đề xuất giải pháp cụ thể, khả thi, gắn với nguyên nhân và yêu cầu thực tiễn; xác định rõ trách nhiệm, thời gian thực hiện và kết quả cần đạt được;

(8) Kiến nghị đúng trọng tâm đối với cấp trên hoặc cơ quan chức năng về cơ chế, chính sách, nguồn lực và thẩm quyền nhằm tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện nghị quyết.

Bốn là, lấy ý kiến góp ý và hoàn thiện dự thảo báo cáo trước hội nghị. Tùy mục đích, yêu cầu của đợt sơ kết, tổng kết, đảng ủy xác định phạm vi và đối tượng lấy ý kiến phù hợp, chủ yếu là Ban Thường vụ, Ban Chấp hành đảng bộ xã và các cơ quan, đơn vị liên quan. Các ý kiến góp ý cần được tổng hợp, tiếp thu có chọn lọc, bảo đảm cơ sở khoa học và đúng quan điểm, chủ trương của Đảng.

Năm là, kỹ năng tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết. Đây là khâu phản ánh tập trung kết quả thực hiện nghị quyết, đòi hỏi đảng ủy viên phải chuẩn bị kỹ nội dung, điều hành thảo luận khoa học, dân chủ, tránh hình thức. Trong tham luận và phát biểu cần bảo đảm ngắn gọn, trọng tâm, đánh giá khách quan, có tính khái quát và gắn với thực tiễn địa phương.

Sáu là, hoàn thiện báo cáo và kết luận hội nghị. Sau hội nghị, cần tiếp thu các ý kiến góp ý một cách khoa học, có chọn lọc để chỉnh sửa, hoàn thiện báo cáo và ban hành kết luận hội nghị. Nội dung kết luận phải ngắn gọn, rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, thời gian và phạm vi thực hiện; tránh lặp lại những nội dung đã nêu trong báo cáo hoặc văn bản cấp trên.

Bảy là, ban hành và tổ chức thực hiện báo cáo, kết luận. Đảng ủy viên cần chỉ đạo ban hành văn bản kịp thời, đúng đối tượng; đồng thời, theo dõi, kiểm tra việc triển khai thực hiện để kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh hoặc những nội dung còn chưa thống nhất trong quá trình thực hiện.

Đối với đảng ủy viên là người đứng đầu các đơn vị trực thuộc được đảng ủy cấp xã phân công phụ trách ngành, lĩnh vực có nghị quyết sơ, tổng kết. Ngoài những kỹ năng của đảng ủy viên nêu trên, cần nghiên cứu nắm rõ thuận lợi, khó khăn khi triển khai nghị quyết, dự báo những tác động và đánh giá rõ nguồn lực. Đây là những yếu tố rất quan trọng để khi tham mưu chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết và xây dựng dự thảo báo cáo sơ kết, tổng kết đạt chất lượng tốt nhất. Đảng ủy viên là người đứng đầu các đơn vị cần phải đặt mình vài vị trí của cấp ủy để chỉ đạo đơn vị thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết.

4. Kết luận

Công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết là khâu quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng, giúp đánh giá kết quả thực hiện, rút ra bài học kinh nghiệm và nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức đảng. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo ở cơ sở, chất lượng công tác này càng có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả triển khai nghị quyết tại xã, phường, đặc khu.

Thực tiễn cho thấy, những hạn chế trong công tác sơ kết, tổng kết chủ yếu xuất phát từ năng lực nghiên cứu, cụ thể hóa nghị quyết, thu thập và phân tích thông tin, đánh giá thực tiễn của đội ngũ đảng ủy viên. Vì vậy, cần chú trọng nâng cao năng lực, kỹ năng và trách nhiệm của đảng ủy viên trong toàn bộ quá trình từ quán triệt, tổ chức thực hiện đến sơ kết, tổng kết nghị quyết; đồng thời, rèn luyện tư duy tổng kết thực tiễn, khả năng phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp phù hợp.

Mỗi đảng ủy viên cần phát huy vai trò chủ động trong tổng kết thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng nghị quyết, hiệu quả lãnh đạo của Đảng ở cơ sở và xây dựng Đảng bộ xã, phường, đặc khu trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.