Social housing in Hanoi: challenges in government management and directions for policy improvement
ThS. Nguyễn Ngọc Cẩm Anh
Đại học Thương mại
(Quanlynhanuoc.vn) – Thực hiện mục tiêu xây dựng 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội của Chính phủ, thành phố Hà Nội đã tích cực triển khai nhiều chính sách ưu đãi giúp hàng trăm nghìn hộ gia đình an cư, song thực tiễn quản lý vẫn bộc lộ những bất cập về cơ chế và sự thiếu quyết liệt ở một số địa phương. Bài viết tập trung đánh giá vai trò điều tiết của các cơ quan chức năng thành phố Hà Nội và xác định các điểm nghẽn trong quy trình quản lý, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người thu nhập thấp và người lao động.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; nhà ở xã hội; Thành phố Hà Nội; chính sách an sinh xã hội; rào cản cơ chế.
Abstract: In pursuit of the government’s goal of building 1 million social housing units, Hanoi has actively implemented numerous incentive policies to help hundreds of thousands of households secure stable housing; however, management practices continue to reveal shortcomings in mechanisms and a lack of decisive action in some localities. This article evaluates the regulatory role of Hanoi’s relevant authorities. It identifies bottlenecks in the management process and proposes policy improvements that better address the needs of low-income individuals and workers.
Keywords: State management; social housing; Hanoi City; social welfare policy; institutional barriers.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, việc bảo đảm các điều kiện an sinh xã hội bền vững đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược phát triển của quốc gia. Hiện nay, nhu cầu về chỗ ở ổn định cho nhóm đối tượng thu nhập thấp đang trở thành một thách thức cấp bách, đặc biệt đối với lực lượng công nhân và lao động nhập cư – nguồn nhân lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và các trung tâm đô thị lớn.
Khảo sát thực tiễn cho thấy, tỷ lệ lớn người lao động vẫn phải sinh hoạt trong các khu nhà trọ tự phát với không gian chật hẹp, thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ cơ bản, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn. Thực trạng này đặt ra yêu cầu mang tính chiến lược về việc phát triển hệ thống nhà ở xã hội, coi đây là công cụ trọng yếu để vừa cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng sản xuất, vừa tạo tiền đề hiện thực hóa mục tiêu quốc gia thịnh vượng vào năm 2045.
Nhằm tháo gỡ bài toán mang tính hệ thống này, Bộ Chính trị và Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ đạo, nghị quyết then chốt, khẳng định vị trí của nhà ở xã hội như một cấu phần không thể tách rời trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Những nỗ lực cải cách đột phá nhằm hoàn thiện thể chế đất đai, cơ cấu lại thị trường bất động sản và mở rộng các cơ chế tín dụng ưu đãi đã minh chứng cho sự gắn kết chặt chẽ giữa chính sách an sinh và đòn bẩy tăng trưởng. Tư duy chính sách này được cụ thể hóa bằng Đề án quy mô lớn với mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2030, một chỉ tiêu không chỉ mang tính định lượng thuần túy mà còn phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc giải quyết triệt để các nút thắt xã hội nhức nhối hiện nay.
2. Thực trạng quản lý nhà nước về nhà ở xã hội ở thành phố Hà Nội
Trong giai đoạn 2021–2025, tổng diện tích sàn nhà ở xã hội dự kiến lũy kế hoàn thành đạt khoảng 1.016.000m², tương đương khoảng 16.540 căn hộ. Đối với giai đoạn sau năm 2025, xu hướng mở rộng nguồn cung thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ với việc bổ sung dự kiến khoảng 1.462.000 m² sàn (tương đương 19.730 căn hộ) trong danh mục cập nhật kế hoạch. Tính chung cho toàn bộ tầm nhìn trung hạn sau năm 2025, tổng diện tích sàn hoàn thành dự kiến đạt 6.294.000 m², tương đương khoảng 91.450 căn hộ.
Thành phố Hà Nội định hướng triển khai đồng bộ các dự án tại các khu vực trọng điểm có mật độ nhu cầu cao nhằm bảo đảm tính hài hòa giữa phân bố dân cư và tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. Các dự án tiêu biểu mang tính dẫn dắt thị trường bao gồm: Dự án nhà ở xã hội Him Lam Phúc Lợi với quy mô trên 3.000 căn hộ; Dự án tại Khu đô thị mới Kim Chung cung ứng 1.104 căn hộ; và dự án nhà ở xã hội Uy Nỗ Đông Anh với quy mô gần 500 căn hộ. Tiến trình phát triển hệ thống cấu trúc nhà ở xã hội vận hành như một cơ chế bảo đảm an sinh xã hội, giữ chân nguồn lao động chất lượng cao, từ đó tạo nền tảng vững chắc phục vụ mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 8% vào năm 2025 và hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 của Thủ đô.
Tuy nhiên, thực tiễn vận hành thị trường đang bộc lộ những bất cập mang tính cấu trúc do chịu áp lực lớn từ sự lệch pha của thị trường nhà ở thương mại. Hiện tượng tăng giá phi mã của phân khúc nhà ở thương mại tại Hà Nội đã tạo ra một khoảng chênh lệch địa tô rất lớn, khi giá mua nhà ở xã hội chỉ bằng khoảng 1/3 so với nhà ở thương mại nhờ các chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất và trợ giá của Nhà nước.
Sự chênh lệch biên độ giá này đã làm xuất hiện xu hướng biến tính trong nhận thức của một bộ phận thị trường, chuyển hóa sản phẩm nhà ở xã hội từ một công cụ an sinh thuần túy thành một loại hình tài sản đầu tư có tỷ suất sinh lời cao. Động lực tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá dẫn đến các hiện tượng lệch trục trong tiếp cận chính sách: nhiều trường hợp lợi dụng mối quan hệ thân nhân để nhờ người khác đứng tên hồ sơ, hoặc xin xác nhận sai lệch, kết nối với “cò mồi” nhằm hợp thức hóa điều kiện đăng ký dù không thực sự có nhu cầu về chỗ ở. Hành vi này tạo ra áp lực kiểm duyệt khổng lồ lên chính quyền địa phương và các chủ đầu tư trong giai đoạn thẩm định.
Kết quả khảo sát thực tế tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội phản ánh một nghịch lý sâu sắc giữa nhu cầu danh nghĩa và nhu cầu thực tế. Trong tổng số lượng lớn hồ sơ đăng ký, chỉ có khoảng 20% trường hợp thực hiện đầy đủ các thủ tục xin xác nhận, chứng minh chính xác đối tượng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt về thu nhập, nhà ở. Ngược lại, khoảng 80% số lượng hồ sơ còn lại rơi vào trạng thái không hợp lệ hoặc không có nhu cầu thực (do không nắm rõ quy trình, xin xác nhận sai form mẫu, hoặc sử dụng tên tuổi người thân để thiết lập suất mua nhằm mục đích đầu cơ). Thực trạng này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải thắt chặt quy trình thanh tra, giám sát để bảo vệ quỹ nhà ở cho các đối tượng thực sự yếu thế.
Công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay căn cứ vào Luật Nhà ở năm 2023 và Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội giai đoạn 2021–2030” theo Quyết định số 388/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Xét về cấu trúc điều tiết, cơ chế hiện hành tập trung vào 2 nhóm giải pháp song hành: áp dụng gói chính sách ưu đãi cho chủ đầu tư và sàng lọc đối tượng thụ hưởng nhằm tạo kênh tiếp cận vốn vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tại Thủ đô cho thấy, tốc độ giải ngân và quy mô phát triển cung – cầu thực tế vẫn chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc tại các điểm nghẽn kỹ thuật trong quy trình thực thi.
Cơ chế quản lý biên độ lợi nhuận hiện tại đang bộc lộ hạn chế trong việc tạo động lực cho khu vực tư nhân. Quy định giới hạn lợi nhuận định mức ở mức 10% đối với các dự án nhà ở xã hội chưa tương xứng với suất đầu tư, rủi ro thị trường và quy trình thủ tục hành chính kéo dài. Nhằm khắc phục triệt để bất cập này, cơ quan quản lý cấp trung ương hiện đang xây dựng định hướng cải cách mang tính vĩ mô, trọng tâm là đề xuất nâng mức lợi nhuận tối đa của chủ đầu tư từ 10% lên 13%. Việc nới rộng thêm 3% biên độ lợi nhuận là một tín hiệu kinh tế mạnh mẽ, giúp nâng cao tỷ suất sinh lợi nội bộ của dự án, từ đó kích hoạt dòng vốn từ các tập đoàn tư nhân lớn. Song song đó, đề xuất thành lập Quỹ phát triển nhà ở xã hội quốc gia hướng tới cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp, tối ưu hóa lãi suất và thí điểm giải pháp cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp dựa trên xếp hạng tín nhiệm dự án, đóng vai trò là bộ giảm sốc tín dụng giúp khơi thông điểm nghẽn về vốn tại địa bàn có áp lực nhu cầu đặc biệt lớn như Hà Nội.
Rào cản lớn nhất trong công tác quản lý nhà ở xã hội thời gian qua là sự chồng chéo và kéo dài của quy trình phê duyệt thủ tục hành chính (đặc biệt là quy trình đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư theo các quy định cũ thường kéo dài từ 6 – 12 tháng). Để bẻ gãy chuỗi chậm trễ này, xu hướng cải cách hiện nay đang định hướng phân cấp tài khóa và ủy quyền hành chính mạnh mẽ. Một trong những giải pháp đột phá đang được đề xuất là trao quyền cho UBND cấp tỉnh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được giao đất và chỉ định trực tiếp chủ đầu tư đối với các dự án thuộc phạm vi quản lý mà không bắt buộc phải trải qua tiến trình đấu thầu thương mại nếu khu đất đó đã được xác định rõ công năng quy hoạch. Đồng thời, các dự thảo mới tập trung cắt giảm, tích hợp các bước phê duyệt quy hoạch phân khu, thẩm định thiết kế cơ sở; kết hợp với việc sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật trước khi bàn giao đất sạch nhằm giảm bớt gánh nặng tài chính và thời gian cho doanh nghiệp.
Các đề xuất cải cách thể chế, từ khía cạnh tài chính đến hành chính, phản ánh một tư duy quản lý nhà nước toàn diện. Sự thay đổi này đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng từ mô hình quản lý mang tính kiểm soát mệnh lệnh hành chính sang mô hình kiến tạo và hợp tác công – tư (PPP). Bằng cách sử dụng các đòn bẩy kinh tế để định hình lại hành vi của khu vực tư nhân, công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội sẽ chuyển từ thế bị động điều tiết sang chủ động điều phối, thiết lập một hệ sinh thái thị trường bền vững, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp và mục tiêu an sinh xã hội của quốc gia.
3. Một số giải pháp
3.1. Giải pháp về hoàn thiện thể chế
Để phá vỡ chuỗi thủ tục tiền kiểm đa tầng kéo dài vượt quá 500 ngày, vốn là rào cản hành chính lớn nhất, thành phố Hà Nội cần chủ động kiến nghị Chính phủ ban hành các cơ chế đặc thù, chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “kiểm soát” sang “kiến tạo, đồng hành”. Tối ưu hóa quy trình lựa chọn chủ đầu tư thông qua cơ chế chỉ định thầu đặc thù.
Đối với các quỹ đất sạch đã được xác định rõ công năng quy hoạch là nhà ở xã hội trong quy hoạch phân khu đô thị, hoặc quỹ đất công, đất do các cơ quan trung ương, lực lượng vũ trang bàn giao lại cho địa phương, cần áp dụng cơ chế giao đất và chỉ định trực tiếp chủ đầu tư có năng lực kinh nghiệm, tài chính mà không bắt buộc phải thực hiện thủ tục đấu thầu thương mại kéo dài từ 6 – 12 tháng. Quy trình này cần được ràng buộc bằng các tiêu chí cứng về tiến độ xây dựng, chất lượng công trình và cam kết biên độ lợi nhuận định mức để ngăn ngừa thất thoát tài sản công.
Thiết lập quy trình hành chính “Một cửa liên thông đặc biệt”. Thành phố cần thành lập Tổ công tác liên ngành đặc trách về nhà ở xã hội do một lãnh đạo UBND Thành phố trực tiếp điều hành, đóng vai trò đầu mối duy nhất tiếp nhận và xử lý hồ sơ. Quy trình này sẽ tích hợp đồng thời 4 bước độc lập trước đây thành một chuỗi thủ tục song song: chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định quy hoạch chi tiết 1/500, thẩm định thiết kế cơ sở và đánh giá tác động môi trường (DTM). Đặt ra giới hạn thời gian nghiêm ngặt, cắt giảm tối thiểu 50% thời gian luân chuyển văn bản giữa Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch – Kiến trúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư với chính quyền phường, xã, bảo đảm tổng thời gian từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi cấp phép khởi công không quá 180 ngày.
Hoàn thiện thể chế phân cấp, ủy quyền trục dọc. UBND Thành phố cần phân cấp triệt để cho UBND cấp huyện trong việc thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật vùng đệm bằng nguồn vốn đầu tư công độc lập. Việc tách biệt cấu phần giải phóng mặt bằng nhà ở xã hội ra khỏi tổng thể các dự án khu đô thị thương mại hỗn hợp sẽ giúp giải quyết triệt để tình trạng quỹ đất 20% bị “treo” theo tiến độ của các dự án đối ứng thương mại.
3.2. Giải pháp tài chính
Nhằm xử lý căn nguyên của việc áp dụng tư duy “tín dụng thương mại” để điều tiết một “sản phẩm phúc lợi xã hội”, Hà Nội cần xây dựng một hệ thống đòn bẩy tài chính công đột phá, tạo tính bền vững cho cả nguồn cung vĩ mô lẫn sức mua vi mô của thị trường.
Thành lập Quỹ ủy thác nhà ở xã hội Thành phố Hà Nội. Trong khi chờ định chế Quỹ phát triển nhà ở xã hội quốc gia đi vào vận hành, Hà Nội cần tiên phong thành lập Quỹ ủy thác địa phương hoạt động độc lập, phi lợi nhuận. Nguồn vốn mồi của quỹ được cấu thành từ: 3–5% nguồn thu tiền sử dụng đất từ các dự án nhà ở thương mại trên địa bàn; một phần ngân sách chi đầu tư công trung hạn của Thành phố; và nguồn vốn phát hành trái phiếu đô thị (trái phiếu chính quyền địa phương) chuyên biệt cho an sinh xã hội. Quỹ này sẽ thực hiện ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay dài hạn (từ 20 đến 25 năm) với mức lãi suất cố định bằng khoảng 50% lãi suất cho vay thương mại thông thường, đồng thời nghiên cứu thí điểm cơ chế cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp đối với nhóm nhân lực khu vực công và công nhân có hợp đồng lao động dài hạn, dựa trên xếp hạng tín nhiệm và bảo lãnh của đơn vị sử dụng lao động.
Đa dạng hóa công cụ tài chính bất động sản và tái cấu trúc biên lợi nhuận: Để kích hoạt dòng vốn từ các tập đoàn bất động sản tư nhân lớn, Thành phố cần hiện thực hóa đề xuất nâng mức lợi nhuận định mức tối đa của chủ đầu tư từ 10% lên 13%. Biên độ bổ sung 3% này cần được tính toán linh hoạt dựa trên tổng mức đầu tư thực tế (bao gồm cả chi phí tài chính và rủi ro trượt giá nguyên vật liệu), chứ không chỉ bó hẹp ở chi phí xây dựng cứng. Bên cạnh đó, khuyến khích các doanh nghiệp phát hành “Trái phiếu xanh” hoặc “Trái phiếu công trình” được Nhà nước bảo lãnh để huy động vốn đại chúng với chi phí thấp.
Chuyển dịch sang mô hình hợp tác công – tư (PPP). Thay vì bắt buộc chủ đầu tư tự ứng vốn giải phóng mặt bằng với chi phí đền bù thực địa rất cao tại Thủ đô, Nhà nước sẽ trực tiếp thực hiện vai trò bồi thường và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào bằng ngân sách đầu tư công. Doanh nghiệp tư nhân tham gia với vai trò đối tác xây dựng và vận hành thương mại trong biên độ lợi nhuận quy định, giúp tối ưu hóa giá thành sản phẩm đầu ra và duy trì ổn định trong ngưỡng an toàn từ 14 – 25 triệu đồng/m².
3.3. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các sai phạm trong lĩnh vực nhà ở xã hội.
Để ngăn chặn triệt để hiện tượng “biến tính” sản phẩm nhà ở xã hội thành tài sản đầu cơ và xử lý nghịch lý 80% hồ sơ ảo trên thị trường, công tác thanh tra, giám sát phải được công nghệ hóa và định hình lại bằng các chế tài tư pháp nghiêm khắc.
Số hóa quy trình thẩm định bằng hệ thống cơ sở dữ liệu liên thông theo thời gian thực. Bộ máy quản lý cơ sở (Sở Xây dựng và UBND cấp phường, xã) cần loại bỏ hoàn toàn quy trình xác nhận thực trạng nhà ở và thu nhập bằng phương thức thủ công, mang tính cảm tính. Thành phố cần xây dựng nền tảng quản lý nhà ở xã hội tập trung, thực hiện kết nối và kiểm tra chéo (cross-check) tự động dữ liệu từ ba nguồn cốt lõi: cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Bộ Công an); hệ thống quản lý thuế thu nhập cá nhân (ngành Thuế); và hệ thống thông tin đất đai, đăng ký quyền sở hữu bất động sản (Sở Tài nguyên và Môi trường). Bất kỳ hồ sơ nào phát sinh mã số thuế thu nhập chịu thuế hoặc đã đứng tên sở hữu bất động sản khác trên toàn quốc sẽ bị hệ thống tự động loại bỏ ngay từ vòng sơ tuyển.
Tăng cường công tác hậu kiểm đa tầng và liên tục. Sở Xây dựng Hà Nội phối hợp với Thanh tra Thành phố và cơ quan công an phường/xã lập kế hoạch định kỳ hoặc đột xuất thanh tra toàn diện tất cả các dự án nhà ở xã hội đã bàn giao trong vòng 5 năm (khoảng thời gian pháp luật cấm chuyển nhượng). Tiến hành kiểm tra thực địa để xác minh đối tượng đang cư trú tại căn hộ. Nếu phát hiện các hành vi cho thuê lại, chuyển nhượng trái phép thông qua các hình thức lách luật (hợp đồng ủy quyền, di chúc giả cách, hứa mua hứa bán), cơ quan quản lý sẽ lập tức áp dụng biện pháp chế tài mạnh mẽ nhất: thu hồi căn hộ vô điều kiện, hủy bỏ quyền mua và không hoàn trả phần chi phí trợ giá của Nhà nước.
Hình sự hóa và áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi trục lợi chính sách: Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan hành chính và cơ quan điều tra để xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận. Đối với các cơ quan, tổ chức ở cơ sở (UBND cấp phường/xã, ban quản lý khu công nghiệp, doanh nghiệp) ký xác nhận sai sự thật cho đối tượng không đủ điều kiện, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kỷ luật công vụ hoặc bị xử lý hình sự về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Đối với các đường dây “cò mồi”, môi giới tự do có hành vi làm giả con dấu, tài liệu, hồ sơ pháp lý hoặc đầu cơ găm hàng để bán “suất đối ngoại” chênh lệch địa tô, cần chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự tội lừa đảo hoặc vi phạm quy định về quản lý nhà ở, nhằm răn đe và bảo vệ tính nhân văn, công bằng của chính sách an sinh xã hội Thủ đô.
4. Kết luận
Phát triển nhà ở xã hội tại Hà Nội là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, giá nhà ở thương mại tăng cao và nhu cầu an cư của người thu nhập thấp, công nhân và lao động nhập cư ngày càng lớn. Thực tiễn cho thấy, Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực trong thể chế hóa chính sách, công khai thông tin dự án và thúc đẩy nguồn cung nhà ở xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý nhà nước vẫn bị hạn chế bởi các điểm nghẽn về thủ tục hành chính, quỹ đất sạch, cơ chế tài chính, động lực tham gia của doanh nghiệp và năng lực giám sát của các đối tượng thụ hưởng. Do đó, việc hoàn thiện quản lý nhà nước về nhà ở xã hội cần được tiếp cận theo hướng quản trị toàn bộ chuỗi chính sách, từ quy hoạch, tạo lập quỹ đất, lựa chọn chủ đầu tư, hỗ trợ tài chính đến phân phối và hậu kiểm. Đặc biệt, Hà Nội cần đẩy mạnh phân cấp, số hóa dữ liệu, thiết lập cơ chế tài chính ổn định và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thực thi, qua đó bảo đảm nhà ở xã hội thực sự trở thành công cụ an sinh đô thị và điều tiết thị trường nhà ở theo hướng công bằng, bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc hội (2023). Luật Nhà ở năm 2023.
2. Chính phủ (2024). Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
3. Bộ Xây dựng (2024). Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở.
4. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 388/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2021). Kế hoạch phát triển nhà ở Thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025.
6. Học viện Hành chính Quốc gia (2022). Giáo trình Quản lý nhà nước về Đô thị và An sinh xã hội. H. NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.
7. Hà Anh Chiến (2024). Bẫy chi phí nhà ở và áp lực an sinh của lao động di cư tự do tại đô thị. Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 12/2024.
8. Linh Đan (2025). Đánh giá lộ trình thực hiện Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội nhìn từ thực tiễn đô thị.Tạp chí Xây dựng, Số 02/2025.
9. Tuấn Đông (2023). Giải pháp khơi thông nguồn cung nhà ở xã hội đáp ứng mục tiêu chiến lược quốc gia. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 11/2023.
10. Minh Nhật (2025). Tái cấu trúc công cụ tài chính và biên lợi nhuận để thu hút dòng vốn PPP vào phân khúc nhà ở bình dân. Tạp chí Ngân hàng, Số 4/2025.
11. Lê Thị Bích Thuận và cộng sự (2025). Khảo sát thực chứng về mối quan hệ giữa thu nhập và chi phí nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp trọng điểm. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Số 01/2025.
12. Chung Thủy (2025). Rà soát xung đột pháp lý giữa Luật Đấu thầu và Luật Nhà ở trong việc lựa chọn chủ đầu tư nhà ở xã hội. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 3/2025.
13. OECD (2020). Housing Affordability and Social Housing Framework. OECD Publishing, Paris.
14. UN-Habitat (2016). Sustainable Housing Policy and Affordability Index. United Nations Human Settlements Program, Nairobi.
15. Wall Street Journal (2024). China’s Strategic Shift: Social Housing as a Stabilizer for Property Market. The Wall Street Journal Technology & Business Review.
16. World Bank (2015). Vietnam Affordable Housing Program: Technical Assessment. World Bank Group, Washington D.C.



