Du lịch văn hóa tâm linh ở Ninh Bình trong không gian phát triển mới

Spiritual and cultural tourism in Ninh Binh in a new development context

ThS. Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình

(Quanlynhanuoc.vn) – Ninh Bình được mệnh danh là “miền đất của di sản và tâm linh”, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa – lịch sử hơn 1.000 năm của dân tộc. Sức hút của du lịch tâm linh tại đây không chỉ đến từ những công trình kiến trúc đồ sộ mà còn từ sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và các giá trị tín ngưỡng sâu sắc. Bài viết phân tích sức hút đặc biệt của du lịch tâm linh từ vùng đất di sản này, đánh giá thực trạng khai thác hiện nay và đề xuất các giải pháp bền vững để nâng tầm giá trị văn hóa – tâm linh của vùng đất cố đô.

Từ khóa: Du lịch tâm linh, Ninh Bình, không gian phát triển mới.

Abstract: Ninh Binh is known as the “land of heritage and spirituality,” a place where the nation’s cultural and historical essence spanning over 1,000 years converges. The appeal of spiritual tourism here stems not only from its grand architectural structures but also from the harmonious blend of majestic natural landscapes and profound religious values. This article analyzes the unique appeal of spiritual tourism in this heritage region, assesses the current state of development, and proposes sustainable solutions to elevate the cultural and spiritual value of this ancient capital region.

Keywords: Spiritual tourism, Ninh Binh, new development opportunities.

1. Đặt vấn đề

Ninh Bình không chỉ là một địa danh có vị trí quan trọng trên bản đồ du lịch quốc gia và quốc tế mà còn là vùng đất giàu giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh của dân tộc. Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, lịch sử và văn hóa để phát triển du lịch bền vững. Đặc biệt, quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới kép đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á đã góp phần khẳng định vị thế, giá trị nổi bật toàn cầu của vùng đất cố đô.

Bên cạnh những giá trị về cảnh quan thiên nhiên, Ninh Bình còn sở hữu hệ thống di tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là nơi gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam dưới các triều đại Đinh, Tiền Lê và thời kỳ đầu nhà Lý. Các công trình văn hóa tâm linh như chùa Bái Đính, đền vua Đinh, vua Lê, Nhà thờ Đá Phát Diệm cùng nhiều lễ hội truyền thống đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng, góp phần hình thành không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của địa phương.

Trong bối cảnh phát triển du lịch hiện nay, việc khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa tâm linh gắn với bảo tồn di sản và phát triển kinh tế – xã hội đang trở thành yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Ninh Bình.

2. Thực trạng du lịch tại Ninh Bình hiện nay

Kể từ ngày 01/7/2025, khi tỉnh Ninh Bình mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), không gian phát triển du lịch tâm linh của địa phương đã có sự thay đổi rõ nét cả về quy mô lãnh thổ, cấu trúc liên kết và năng lực khai thác di sản. Việc hợp nhất không chỉ mở rộng địa giới hành chính mà còn tạo điều kiện tích hợp các trung tâm văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo lớn của khu vực Nam đồng bằng sông Hồng vào cùng một không gian phát triển thống nhất.

Thứ nhất, về quy mô và cấu trúc không gian du lịch tâm linh.

Sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình mới sở hữu gần 5.000 di tích lịch sử – văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó có 8 di tích quốc gia đặc biệt, 265 di tích cấp quốc gia, 784 di tích cấp tỉnh cùng hàng chục bảo vật quốc gia và trung tâm hành hương lớn của cả nước1. Bên cạnh đó, địa phương còn là nơi hội tụ của gần 750 lễ hội truyền thống và 33 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia2. Hệ thống di sản này phân bố tương đối liên hoàn, từng bước hình thành hành lang du lịch văn hóa – tâm linh quy mô lớn theo trục Tam Chúc – Bái Đính – Tràng An – Phủ Dầy – Đền Trần.

So với giai đoạn trước hợp nhất, các điểm đến du lịch tâm linh hiện nay không còn phát triển theo mô hình đơn lẻ gắn với địa giới hành chính từng địa phương mà đang chuyển sang mô hình liên kết không gian thống nhất. Sự kết nối giữa trung tâm Phật giáo Tam Chúc, quần thể chùa Bái Đính, di sản thế giới Tràng An, trung tâm tín ngưỡng Phủ Dầy và không gian văn hóa triều Trần tại Nam Định đã tạo nên chuỗi hành hương và trải nghiệm văn hóa có quy mô lớn ở khu vực phía Bắc. Điều này cho thấy du lịch tâm linh đang từng bước trở thành trục liên kết quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch vùng của tỉnh Ninh Bình mới.

Thứ hai, về hạ tầng và năng lực phục vụ du lịch.

Quá trình mở rộng không gian phát triển kéo theo sự gia tăng nhanh về năng lực hạ tầng và dịch vụ du lịch. Hệ thống giao thông kết nối liên vùng từng bước được hoàn thiện thông qua các tuyến cao tốc Bắc – Nam, các trục kết nối Nho Quan – Kim Sơn, Nam Định – Phủ Lý – Ninh Bình cùng mạng lưới giao thông nội vùng giữa các khu du lịch trọng điểm. Việc nâng cấp hạ tầng giao thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối các trung tâm du lịch tâm linh, góp phần mở rộng không gian lưu trú và trải nghiệm của du khách.

Các khu du lịch tâm linh lớn, như Tam Chúc, Bái Đính, Phủ Dầy và Đền Trần, được đầu tư tương đối đồng bộ về bến bãi, khu dịch vụ, cơ sở lưu trú và hạ tầng phục vụ lễ hội, cho phép tiếp nhận lượng khách lớn trong các mùa cao điểm. Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 1.460 cơ sở lưu trú với hơn 32.400 phòng nghỉ, bao gồm nhiều loại hình như khách sạn, resort, homestay, bungalow và du lịch cộng đồng3. Sự phát triển đa dạng của hệ thống lưu trú đã góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu và nâng cao khả năng khai thác chuỗi giá trị du lịch.

Thứ ba, về lượng khách và hiệu quả kinh tế.

Số liệu thống kê cho thấy du lịch tâm linh đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của ngành du lịch địa phương. Trong năm 2025, tỉnh Ninh Bình mới đón khoảng 19,4 triệu lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 2,2 triệu lượt khách quốc tế. Tổng số lượt khách lưu trú đạt trên 4,25 triệu lượt; tổng số ngày khách lưu trú đạt trên 4,84 triệu ngày. Tổng thu từ hoạt động du lịch năm 2025 ước đạt hơn 21.278 tỷ đồng, tăng gần 37% so với năm 20244. Những kết quả này phản ánh hiệu quả bước đầu của việc mở rộng không gian phát triển du lịch sau hợp nhất, đồng thời cho thấy sức hấp dẫn ngày càng lớn của các sản phẩm du lịch văn hóa – tâm linh.

Trong quý I năm 2026, hoạt động du lịch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, đặc biệt tại các lễ hội truyền thống như lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, lễ hội chùa Tam Chúc, lễ khai ấn Đền Trần và lễ hội Phát lương Đền Trần Thương. Tính chung quý I/2026, toàn tỉnh đón gần 9,9 triệu lượt khách, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khách quốc tế đạt trên 1 triệu lượt, tăng gần 60%. Doanh thu du lịch đạt khoảng 10.053 tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 20255. Sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách và doanh thu cho thấy du lịch tâm linh không chỉ giữ vai trò bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống mà còn trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ, thương mại và tạo việc làm cho lao động địa phương.

Thứ tư, về xu hướng phát triển.

Xu hướng phát triển du lịch tâm linh tại Ninh Bình hiện nay đang chuyển dần từ hoạt động tham quan, chiêm bái đơn thuần sang mô hình trải nghiệm tổng hợp gắn với nghỉ dưỡng, văn hóa và tín ngưỡng. Nhờ hạ tầng giao thông liên vùng được cải thiện cùng sự liên kết giữa các khu, điểm du lịch, thời gian lưu trú trung bình của du khách đã tăng từ khoảng 1 ngày lên khoảng 1,8-2,2 ngày. Điều này cho thấy nhu cầu của du khách không còn dừng ở hoạt động lễ bái theo mùa vụ mà đang mở rộng sang các trải nghiệm văn hóa, nghỉ dưỡng và khám phá chiều sâu giá trị di sản.

Cùng với sự thay đổi về nhu cầu thị trường, nhiều sản phẩm du lịch mới từng bước được hình thành như du lịch thực cảnh, lễ hội văn hóa di sản, trải nghiệm thiền, du lịch chữa lành và du lịch cộng đồng. Sự kết hợp giữa yếu tố tâm linh với sinh thái, nghỉ dưỡng và công nghiệp sáng tạo đã góp phần mở rộng chuỗi giá trị du lịch, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế dịch vụ tại địa phương.

Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh của du lịch tâm linh cũng đặt ra không ít thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Tình trạng quá tải ở khách du lịch trong mùa lễ hội tại một số điểm đến lớn vẫn diễn ra; áp lực lên hạ tầng giao thông, môi trường và không gian di sản ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, nguy cơ thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, sự phát triển chưa đồng đều giữa các khu vực và hạn chế trong liên kết sản phẩm du lịch sau hợp nhất vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm giải quyết nhằm bảo đảm phát triển du lịch tâm linh theo hướng bền vững, hài hòa giữa khai thác kinh tế với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.

3. Giải pháp phát triển du lịch ở Ninh Bình trong không gian phát triển mới

Một là, hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch tâm linh theo hướng liên kết vùng và phát triển bền vững.

Sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình mới sở hữu hệ thống di sản văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo có quy mô lớn với mật độ phân bố dày đặc, bao gồm các trung tâm du lịch tâm linh nổi tiếng như Tam Chúc, Bái Đính, Tràng An, Phủ Dầy, Đền Trần, Nhà thờ đá Phát Diệm và nhiều lễ hội truyền thống có giá trị lịch sử lâu đời. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành không gian du lịch tâm linh liên hoàn mang tính vùng. Tuy nhiên, nếu thiếu quy hoạch tổng thể và cơ chế điều phối thống nhất, sự phát triển có thể dẫn tới tình trạng chồng chéo sản phẩm, cạnh tranh không lành mạnh giữa các điểm đến và gia tăng áp lực lên hạ tầng, môi trường cũng như không gian di sản. Do đó, tỉnh cần xây dựng chiến lược quy hoạch không gian du lịch tâm linh theo hướng liên kết vùng, trong đó xác định rõ các trung tâm động lực, các hành lang phát triển du lịch và các khu vực vệ tinh hỗ trợ. Việc quy hoạch cần đặt trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh mới, bảo đảm sự kết nối giữa du lịch tâm linh với du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch nghỉ dưỡng.

Cùng với đó, cần hình thành các tuyến du lịch chuyên đề như tuyến hành hương Phật giáo Tam Chúc – Bái Đính; tuyến du lịch tín ngưỡng dân gian Phủ Dầy – Đền Trần; tuyến du lịch văn hóa lịch sử Cố đô Hoa Lư – Tràng An – Phát Diệm. Việc tổ chức không gian theo các tuyến liên kết sẽ góp phần phân bổ lại dòng khách, giảm áp lực cho một số điểm đến tập trung đông người trong mùa lễ hội, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương cùng tham gia vào chuỗi giá trị du lịch.

Bên cạnh quy hoạch không gian du lịch, tỉnh cần chú trọng quy hoạch không gian bảo tồn di sản và cảnh quan sinh thái. Hoạt động đầu tư xây dựng tại các khu vực tâm linh phải được kiểm soát chặt chẽ nhằm hạn chế tình trạng bê tông hóa, thương mại hóa quá mức hoặc làm biến dạng không gian văn hóa truyền thống. Đối với các khu di sản đặc biệt và các khu vực có giá trị lịch sử lâu đời, cần ưu tiên bảo tồn yếu tố nguyên gốc, gìn giữ cảnh quan tự nhiên và bảo đảm sự hài hòa giữa khai thác du lịch và bảo tồn văn hóa.

Hai là, phát triển đồng bộ hạ tầng và nâng cao năng lực phục vụ du lịch tâm linh.

Trong không gian phát triển mới, sự gia tăng nhanh về lượng khách du lịch đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc nâng cấp hạ tầng giao thông, cơ sở lưu trú và các dịch vụ hỗ trợ du lịch. Trên thực tế, nhiều khu du lịch tâm linh hiện nay vẫn xuất hiện tình trạng ùn tắc giao thông, quá tải bến bãi và thiếu đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật trong các mùa lễ hội cao điểm.

Vì vậy, tỉnh cần ưu tiên đầu tư hệ thống giao thông kết nối liên vùng và kết nối nội vùng giữa các khu, điểm du lịch trọng điểm. Các tuyến giao thông chiến lược như cao tốc Bắc – Nam, các tuyến kết nối Nho Quan – Kim Sơn, Phủ Lý – Nam Định – Ninh Bình cần tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện nhằm tạo thuận lợi cho việc di chuyển của du khách. Đồng thời, cần mở rộng các tuyến xe buýt du lịch, bãi đỗ xe tập trung và hệ thống giao thông công cộng kết nối các khu du lịch lớn nhằm giảm áp lực phương tiện cá nhân trong mùa lễ hội.

Đối với hệ thống lưu trú, cần khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình như khách sạn cao cấp, khu nghỉ dưỡng sinh thái, homestay, du lịch cộng đồng và lưu trú trải nghiệm văn hóa. Việc phát triển cơ sở lưu trú không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng mà còn góp phần kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.

Ngoài ra, cần chú trọng đầu tư hệ thống hạ tầng phụ trợ như trung tâm thông tin du lịch, biển chỉ dẫn đa ngôn ngữ, nhà vệ sinh công cộng, hệ thống xử lý rác thải và hạ tầng cảnh quan tại các khu du lịch tâm linh. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng trải nghiệm và xây dựng hình ảnh điểm đến văn minh, hiện đại.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng mô hình quản trị du lịch thông minh

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý và phát triển du lịch hiện nay. Đối với du lịch tâm linh, việc ứng dụng công nghệ không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo ra các phương thức tiếp cận di sản mới phù hợp với nhu cầu của du khách hiện đại. Tỉnh cần xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về hệ thống di tích, lễ hội, cơ sở lưu trú, doanh nghiệp du lịch và các sản phẩm văn hóa tâm linh trên toàn địa bàn. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành trung tâm điều hành du lịch thông minh phục vụ công tác quản lý, dự báo lưu lượng khách và điều tiết hoạt động du lịch theo thời gian thực.

Việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và nền tảng số trong quản lý dòng khách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các điểm du lịch tâm linh thường xuyên quá tải vào mùa lễ hội. Thông qua hệ thống phân tích dữ liệu, cơ quan quản lý có thể dự báo lượng khách, phân luồng giao thông, điều tiết thời gian tham quan và hạn chế tình trạng tập trung đông người tại một số khu vực nhạy cảm. Bên cạnh đó, cần phát triển các sản phẩm du lịch số như thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, bản đồ số du lịch, vé điện tử, nền tảng đặt dịch vụ trực tuyến và các chương trình trải nghiệm thực tế ảo tại di tích lịch sử, không gian văn hóa tâm linh. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng tiếp cận di sản của du khách quốc tế, đồng thời tạo sức hấp dẫn đối với giới trẻ trong bối cảnh phát triển kinh tế số và xã hội số hiện nay.

Bốn là, phát triển sản phẩm du lịch tâm linh theo hướng nâng cao giá trị trải nghiệm văn hóa.

Hiện nay, phần lớn hoạt động du lịch tâm linh vẫn tập trung vào tham quan, lễ bái và hành hương theo mùa vụ. Điều này khiến thời gian lưu trú của du khách chưa cao và giá trị gia tăng của ngành du lịch còn hạn chế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ mô hình khai thác tín ngưỡng đơn thuần sang phát triển hệ sinh thái sản phẩm du lịch văn hóa có chiều sâu trải nghiệm. Tỉnh cần chú trọng xây dựng các sản phẩm du lịch chuyên đề như du lịch thiền, du lịch chữa lành, trải nghiệm đời sống Phật giáo, du lịch lễ hội truyền thống và du lịch văn hóa cộng đồng. Các chương trình trải nghiệm cần được thiết kế theo hướng tăng tính tương tác, giúp du khách không chỉ “tham quan” mà còn “tham gia” vào không gian văn hóa và đời sống bản địa.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa gắn với du lịch tâm linh như trình diễn thực cảnh, nghệ thuật dân gian, âm nhạc truyền thống, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, ẩm thực vùng miền và không gian sáng tạo văn hóa. Việc kết hợp giữa du lịch tâm linh với công nghiệp văn hóa sẽ góp phần gia tăng giá trị kinh tế của di sản, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đêm và dịch vụ du lịch tổng hợp.

Đối với các lễ hội truyền thống, cần đổi mới phương thức tổ chức theo hướng văn minh, tiết kiệm và giàu giá trị trải nghiệm văn hóa; hạn chế tình trạng thương mại hóa và mê tín dị đoan. Đồng thời, cần tăng cường quảng bá lễ hội theo hướng giới thiệu giá trị lịch sử, văn hóa và bản sắc cộng đồng thay vì chỉ nhấn mạnh yếu tố tâm linh đơn thuần.

Năm là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với du lịch tâm linh.

Con người là yếu tố quyết định chất lượng và tính bền vững của hoạt động du lịch tâm linh. Trong bối cảnh phát triển không gian du lịch mới với quy mô lớn, tỉnh cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp, có hiểu biết sâu về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kỹ năng phục vụ du khách. Cần xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên và cán bộ quản lý du lịch có khả năng truyền tải các giá trị văn hóa, lịch sử và triết lý tín ngưỡng một cách sinh động, chuẩn xác và giàu bản sắc. Đồng thời, cần phát huy vai trò của cộng đồng dân cư địa phương như những chủ thể trực tiếp tham gia bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tâm linh cần tiếp tục được tăng cường theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại. Các cơ quan chức năng cần hoàn thiện cơ chế phối hợp trong quản lý lễ hội, quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ và bảo đảm an ninh, an toàn tại các khu du lịch tâm linh. Đặc biệt, cần kiên quyết xử lý các hiện tượng lợi dụng tín ngưỡng để trục lợi, mê tín dị đoan, chèo kéo khách du lịch và kinh doanh trái phép trong khu vực di tích. Việc xây dựng môi trường du lịch văn minh, an toàn và thân thiện không chỉ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn giữ gìn tính tôn nghiêm và giá trị văn hóa của các không gian tâm linh.

Trong dài hạn, tỉnh cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa các địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng trong phát triển du lịch tâm linh; đồng thời tăng cường hợp tác với các trung tâm du lịch văn hóa lớn trong nước và quốc tế nhằm nâng cao vị thế của Ninh Bình trên bản đồ du lịch khu vực. Qua đó, du lịch tâm linh không chỉ trở thành ngành kinh tế quan trọng mà còn là động lực thúc đẩy bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng bản sắc vùng trong không gian phát triển mới của tỉnh Ninh Bình.

4. Kết luận

Trong không gian phát triển mới sau hợp nhất, du lịch tâm linh đang từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, liên kết vùng và bảo tồn giá trị văn hóa của tỉnh Ninh Bình. Sự hội tụ của hệ thống di sản lịch sử, tín ngưỡng, lễ hội và các trung tâm hành hương lớn đã tạo điều kiện thuận lợi để địa phương hình thành không gian du lịch văn hóa – tâm linh có quy mô và sức lan tỏa lớn ở khu vực phía Bắc. Thực tiễn phát triển thời gian qua cho thấy du lịch tâm linh không chỉ góp phần gia tăng lượng khách, doanh thu dịch vụ và tạo việc làm cho người dân mà còn thúc đẩy quảng bá hình ảnh vùng đất Cố đô trong quá trình hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, Ninh Bình cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm hài hòa giữa khai thác du lịch với bảo tồn giá trị di sản văn hóa truyền thống.

Chú thích:
1. Đưa du lịch bứt phá sau sáp nhập. https://baoninhbinh.org.vn/dua-du-lich-but-pha-sau-sap-nhap-236794.htm
2. Du lịch Ninh Bình bứt tốc, áp lực mới gia tăng. https://laodong.vn/du-lich/tin-tuc/du-lich-ninh-binh-but-toc-ap-luc-moi-gia-tang-1663163.html
3. Ninh Bình có 1.460 cơ sở lưu trú đạt chuẩn. https://baoninhbinh.org.vn/ninh-binh-hien-co-1460-co-so-luu-tru-dat-chuan-rd02f8-260122103534250.html
4. Ngành Du lịch Ninh Bình triển khai nhiệm vụ năm 2026. https://baoninhbinh.org.vn/nganh-du-lich-ninh-binh-trien-khai-nhiem-vu-nam-2026-rd474f-260116183714415.html
5. Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 3 và quý I/2026.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
2. Tỉnh ủy Ninh Bình (2021). Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 29/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021 – 2030, định hướng đến năm 2025.
3. Phát triển du lịch văn hóa tỉnh Ninh Bình, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân vùng di sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/974502/phat-trien-du-lich-van-hoa-tinh-ninh-binh%2C-gop-phan-bao-dam-an-sinh-xa-hoi-cho-nguoi-dan-vung-di-san.aspx
4. Ninh Bình chú trọng phát triển du lịch tâm linh. https://congly.vn/ninh-binh-chu-trong-phat-trien-du-lich-tam-linh-469116.html
5. Tăng cường quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/05/23/tang-cuong-quan-ly-nha-nuoc-nham-phat-trien-du-lich-ben-vung-tren-dia-ban-tinh-ninh-binh.