The Communist Party of Vietnam’s perspectives on territorial organization in association with digital transformation: theoretical and practical foundations and orientations in the new era
TS. Vương Bá Thành
ThS. Vương Bá Chương
Trường Đại học Nguyễn Huệ
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tổ chức lãnh thổ không còn đơn thuần là vấn đề phân chia không gian hành chính mà trở thành nội dung trọng yếu của quản trị quốc gia hiện đại. Đối với Việt Nam, quan điểm của Đảng về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo, quản lý đất nước, nhằm tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, nâng cao hiệu lực quản trị, phát triển liên kết vùng, bảo đảm quốc phòng – an ninh và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.
Từ khóa: Tổ chức lãnh thổ; chuyển đổi số; quản trị số; phát triển vùng; quan điểm của Đảng.
Abstract: In the context of the Fourth Industrial Revolution, territorial organization is no longer merely a matter of administrative spatial division but has become a core component of modern national governance. For Vietnam, the Communist Party of Vietnam’s perspectives on territorial organization associated with digital transformation reflect a new development in leadership and governance thinking aimed at optimizing resource allocation, enhancing governance effectiveness, strengthening regional linkages, ensuring national defense and security, and promoting rapid and sustainable development.
Keywords: Territorial organization; digital transformation; digital governance; regional development; Party perspectives.
1. Đặt vấn đề
Tổ chức lãnh thổ luôn là vấn đề chiến lược trong quản trị quốc gia. Cách thức tổ chức không gian lãnh thổ phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội, năng lực điều hành của Nhà nước và tầm nhìn chiến lược của lực lượng lãnh đạo. Trong thời đại số, khi dữ liệu, công nghệ số, kết nối số trở thành nguồn lực mới, tổ chức lãnh thổ càng phải được nhận thức lại dưới góc độ quản trị phát triển tích hợp, liên thông và thông minh. Thực tiễn cho thấy, nhiều hạn chế về chia cắt hành chính, đầu tư dàn trải, liên kết vùng yếu, chênh lệch phát triển giữa các địa phương, cùng sức ép cạnh tranh quốc tế đã đặt ra yêu cầu tổ chức lại lãnh thổ theo hướng hiện đại. Chuyển đổi số tạo ra công cụ mới để thực hiện mục tiêu này thông qua dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), quy hoạch số, chính quyền số và điều hành thông minh. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia và đẩy mạnh chuyển đổi số đặt ra ngày càng cấp thiết.
2. Cơ sở lý luận để Đảng xác định quan điểm về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số
Chủ nghĩa Mác – Lênin về không gian phát triển và quản trị xã hội được xây dựng trên cơ sở nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chính sự phát triển của lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định sự biến đổi của quan hệ sản xuất và toàn bộ kiến trúc thượng tầng. C.Mác viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, những lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có”1. Điều đó cho thấy, khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ mới thì phương thức tổ chức xã hội, quản lý lãnh thổ và cơ cấu thể chế cũng phải thay đổi tương ứng. Theo đó: “phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”2. Điều này cho thấy không gian phát triển của xã hội không chỉ là phạm vi địa lý mà còn là tổng hòa các điều kiện kinh tế – xã hội, ngày nay đang được mở rộng mạnh mẽ sang không gian số.
V.I.Lênin đặc biệt coi trọng vai trò của tổ chức, quản lý và điều hành nhà nước trong xây dựng xã hội mới. Ông nêu rõ: “Toàn bộ nghệ thuật quản lý là ở chỗ biết sử dụng đúng người, kiểm tra việc thi hành và kiểm soát thực tế”3. Luận điểm này có ý nghĩa trực tiếp đối với quản trị lãnh thổ hiện đại; đồng thời, yêu cầu kết hợp giữa tập trung thống nhất với phát huy tính chủ động của địa phương; giữa kế hoạch chung của quốc gia với đặc điểm cụ thể của từng vùng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng phát triển hài hòa giữa các vùng miền, giữa kinh tế với quốc phòng, giữa trung ương và địa phương. Người nhiều lần căn dặn phải quan tâm miền núi, vùng xa, nơi còn nhiều khó khăn; bảo đảm đoàn kết giữa các dân tộc, các địa phương. Người khẳng định: “Nước ta là nước thống nhất, Bắc Nam là một nhà”4. Tư tưởng thống nhất lãnh thổ gắn với phát triển đồng đều là nền tảng chính trị rất quan trọng trong tổ chức không gian quốc gia. Về quản lý nhà nước, Người nêu rõ bản chất phục vụ của bộ máy công quyền: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”5. Đây là nguyên lý căn bản để tổ chức lãnh thổ hiện đại: mọi sắp xếp đơn vị hành chính, quy hoạch vùng, phát triển đô thị hay chuyển đổi số đều phải lấy người dân làm trung tâm. Đây chính là nền tảng tư tưởng cho chiến lược phát triển cân đối lãnh thổ ở Việt Nam hiện nay, hướng tới phân bổ nguồn lực hợp lý, tránh tình trạng phát triển lệch vùng, cục bộ.
Kế thừa nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng không ngừng phát triển nhận thức về tổ chức lãnh thổ, quản lý không gian phát triển và khai thác hiệu quả các nguồn lực trong bối cảnh mới. Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng mà đã trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Nhận thức rõ điều này, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào mọi lĩnh vực, từ quản lý nhà nước, sản xuất – kinh doanh đến đời sống xã hội. Đại hội XIV nhấn mạnh: “nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nước”6; đồng thời, xác định phải “Phát triển và khai thác có hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn, kinh tế dữ liệu”7. Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về tổ chức lãnh thổ trong thời đại số. Đây chính là bước phát triển sáng tạo trong tư duy lãnh đạo, khi kết hợp giữa nguyên lý lý luận truyền thống với thực tiễn hiện đại, tạo nên mô hình phát triển linh hoạt, hiệu quả.
3. Cơ sở thực tiễn để Đảng xác định quan điểm về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số
Một là, yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đang đặt ra những nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với Việt Nam. Sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và vị thế quốc gia không ngừng được nâng cao. Những kết quả đó là minh chứng rõ nét cho đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.
Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức phức tạp và đan xen. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tác động sâu sắc đến môi trường phát triển và an ninh quốc gia. Biến đổi khí hậu diễn biến khó lường, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, xu hướng già hóa dân số, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và sức ép chuyển đổi mô hình tăng trưởng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển.
Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy, trong thời đại số, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào khả năng tổ chức lãnh thổ hợp lý, thúc đẩy liên kết vùng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Thực tiễn cho thấy, “Những quốc gia thành công là những quốc gia biết khai thác tối đa tiềm năng không gian phát triển, đồng thời xây dựng được hệ thống quản trị linh hoạt, thích ứng nhanh với biến động của môi trường toàn cầu”8.
Hai là, tác động của chuyển đổi số đến cấu trúc lãnh thổ quốc gia.
Tác động của chuyển đổi số đến cấu trúc lãnh thổ quốc gia đang ngày càng trở nên sâu sắc, toàn diện, làm thay đổi căn bản mô hình tổ chức và phát triển không gian kinh tế – xã hội. Nếu như trong các giai đoạn trước, khoảng cách địa lý và điều kiện tự nhiên là những yếu tố mang tính quyết định, tạo nên sự phân hóa rõ nét giữa các vùng, miền thì trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đã từng bước xóa nhòa những rào cản truyền thống đó. Không gian phát triển không còn bị giới hạn bởi vị trí địa lý, mà được mở rộng thông qua các nền tảng kết nối số, cho phép dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, lao động và tri thức diễn ra nhanh chóng, linh hoạt trên phạm vi rộng lớn.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, hạ tầng số và khả năng kết nối đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia và địa phương. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), “việc phát triển hạ tầng số có thể giúp các khu vực xa trung tâm tiếp cận hiệu quả hơn với thị trường trong nước và quốc tế, qua đó từng bước khắc phục những bất lợi về vị trí địa lý, tạo cơ hội phát triển đồng đều và bao trùm hơn”9. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà sự chênh lệch vùng miền vẫn còn hiện hữu. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, chuyển đổi số cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc tổ chức lãnh thổ. Khoảng cách số giữa các vùng, nguy cơ tụt hậu của những khu vực chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ cũng như yêu cầu bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số là những vấn đề cần giải quyết đồng bộ.
Ba là, chính quyền địa phương số là nền tảng của quốc gia số.
Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng chính quyền địa phương số được xác định là nền tảng cốt lõi, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của quốc gia số. Thực tiễn quốc tế đã chỉ rõ, chuyển đổi số không thể triển khai hiệu quả nếu chỉ dừng lại ở cấp trung ương mà cần được bắt đầu và lan tỏa từ cấp địa phương – nơi trực tiếp tổ chức thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công và có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên với người dân và doanh nghiệp. Công trình của Anne David và các cộng sự, đã khẳng định rằng: “không thể hình thành một quốc gia số đúng nghĩa nếu thiếu đi hệ thống chính quyền địa phương số vận hành hiệu quả”10. Theo đó, chính quyền địa phương cần có năng lực xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ thông tin liên thông giữa các cấp, các ngành; đồng thời cung cấp dịch vụ công trực tuyến chất lượng cao và từng bước ứng dụng các công cụ phân tích dữ liệu để hỗ trợ quá trình ra quyết định một cách kịp thời, chính xác và minh bạch. Hơn nữa, chính quyền địa phương số còn đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa chiến lược chuyển đổi số quốc gia với thực tiễn triển khai tại cơ sở. Thông qua việc số hóa quy trình quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tăng cường tương tác số với người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương có thể thúc đẩy sự tham gia rộng rãi của xã hội vào quá trình phát triển, qua đó hình thành hệ sinh thái số toàn diện và bền vững.
Bốn là, liên kết vùng là xu thế tất yếu trong cạnh tranh toàn cầu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tái cấu trúc sâu sắc các chuỗi cung ứng, liên kết vùng đã và đang trở thành một xu thế tất yếu trong cạnh tranh phát triển, trọng tâm đang chuyển dần sang cạnh tranh giữa các vùng kinh tế, cụm đô thị, hành lang logistics và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Điều này phản ánh sự thay đổi căn bản trong cách thức tổ chức không gian phát triển, khi các yếu tố, như: kết nối hạ tầng, dòng chảy dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định. Các nghiên cứu quốc tế, tiêu biểu là công trình của Tan Yigitcanlar, đã chỉ ra: “những vùng có hệ sinh thái số phát triển, hạ tầng kết nối đồng bộ và mô hình quản trị thông minh thường có lợi thế vượt trội trong việc thu hút đầu tư, tập trung nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo”11. Đây chính là những yếu tố cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh bền vững trong kỷ nguyên số.
Năm là, khoảng cách số có thể tạo ra bất bình đẳng phát triển mới.
Bên cạnh những cơ hội lớn, chuyển đổi số cũng đang làm nảy sinh nguy cơ hình thành các dạng bất bình đẳng phát triển mới giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội. Sự khác biệt về mức độ tiếp cận hạ tầng công nghệ, năng lực số và khả năng tham gia vào các nền tảng số có thể dẫn đến tình trạng phân hóa ngày càng rõ nét giữa những địa phương. Nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, khoảng cách số sẽ không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn trở thành rào cản đối với mục tiêu phát triển bền vững và công bằng xã hội. Theo báo cáo của Liên Hợp quốc về chính phủ điện tử, “sự chênh lệch về hạ tầng số, kỹ năng số và khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến có thể tạo ra một dạng bất bình đẳng phát triển mới trong thời đại số”12. Những nhóm dân cư hoặc địa phương không đủ điều kiện tiếp cận sẽ có nguy cơ bị gạt ra ngoài lề của quá trình phát triển, từ đó làm gia tăng khoảng cách giàu – nghèo và hạn chế cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống.
Sáu là, yêu cầu gắn phát triển với quốc phòng, an ninh và chủ quyền số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền số đang trở thành một nội dung có ý nghĩa chiến lược trong tổ chức lãnh thổ quốc gia. Không gian phát triển ngày nay không chỉ bao gồm lãnh thổ vật lý truyền thống mà còn mở rộng sang không gian số – nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, xã hội, quản trị và tương tác toàn cầu. Do đó, việc tổ chức lãnh thổ trong thời đại số không thể tách rời yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và toàn vẹn chủ quyền. Các nghiên cứu gần đây tại châu Âu cho thấy, “khái niệm chủ quyền số đang ngày càng được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của chủ quyền quốc gia trong thời đại mới”13. Theo đó, năng lực kiểm soát dữ liệu, làm chủ các nền tảng công nghệ cốt lõi và bảo đảm an ninh mạng trở thành những tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế và an ninh mang tính tổng thể.
4. Nội dung quan điểm của Đảng về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số
Thứ nhất, tổ chức lãnh thổ phải phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, quan điểm nhất quán của Đảng là mọi điều chỉnh về tổ chức lãnh thổ phải phục vụ trực tiếp và hiệu quả cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc mà còn là định hướng xuyên suốt trong hoạch định và triển khai các chiến lược phát triển quốc gia. Tổ chức lãnh thổ, xét đến cùng, phải góp phần tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực, khai thác hiệu quả tiềm năng của từng vùng, từng địa phương, đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng và cải thiện toàn diện đời sống nhân dân. Trong bối cảnh mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi đất nước đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ.
Việc tổ chức lại không gian phát triển cần bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển nhanh với bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên. Điều đó đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, dài hạn, tránh tình trạng phát triển cục bộ, manh mún hoặc chạy theo lợi ích ngắn hạn. Quan điểm này cũng khẳng định rõ rằng, tổ chức lãnh thổ không phải là mục tiêu tự thân, mà là một công cụ chiến lược quan trọng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Mọi sự điều chỉnh về địa giới hành chính, phân vùng kinh tế hay quy hoạch không gian đều phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ và hiệu quả lâu dài.
Thứ hai, chuyển từ tư duy địa giới hành chính sang tư duy không gian phát triển liên kết.
Chuyển từ tư duy địa giới hành chính sang tư duy không gian phát triển liên kết là một bước tiến quan trọng trong nhận thức và phương thức lãnh đạo của Đảng về tổ chức lãnh thổ trong bối cảnh mới. Sự chuyển đổi này phản ánh tư duy phát triển hiện đại, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và chuyển đổi số, khi mà tính kết nối và khả năng liên kết trở thành yếu tố quyết định hiệu quả phát triển. Thay vì phát triển theo hướng cục bộ, phân tán, việc tổ chức lãnh thổ theo không gian liên kết cho phép khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng địa phương, đồng thời tạo ra sức mạnh tổng hợp ở cấp vùng và quốc gia. Các trung tâm đô thị, khu công nghiệp, khu công nghệ cao hay các đầu mối logistics không còn tồn tại đơn lẻ, mà được đặt trong mạng lưới liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và cùng tham gia vào chuỗi giá trị. Đại hội XIV của Đảng đề ra: “Phát huy vai trò của các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế”14, đã thể hiện rõ bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy quản lý theo địa giới hành chính sang tư duy tổ chức không gian phát triển dựa trên các động lực tăng trưởng.
Thứ ba, lấy dữ liệu số và nền tảng số làm công cụ quản trị lãnh thổ.
Việc lấy dữ liệu số và nền tảng số làm công cụ chủ đạo trong quản trị lãnh thổ là một yêu cầu tất yếu, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy quản lý quốc gia. Nếu như trước đây, công tác quy hoạch và quản lý lãnh thổ chủ yếu dựa vào số liệu thống kê truyền thống, mang tính tĩnh và phân tán, thì cần chuyển sang dựa trên hệ thống dữ liệu số được cập nhật theo thời gian thực, tích hợp và liên thông giữa các ngành, các cấp. Quản trị lãnh thổ hiện đại đòi hỏi phải ứng dụng mạnh mẽ các công cụ như bản đồ số, hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình dự báo và phân tích dữ liệu lớn nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định một cách khoa học, kịp thời và chính xác. Thông qua việc số hóa toàn diện các dữ liệu về dân cư, kinh tế, tài nguyên, môi trường và hạ tầng, các cơ quan quản lý có thể theo dõi, đánh giá và điều chỉnh chính sách phát triển theo hướng linh hoạt, phù hợp với biến động thực tiễn. Đại hội XIV của Đảng đề ra với nhiệm vụ “hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số”15 đã tạo cơ sở quan trọng để hiện thực hóa mô hình quản trị lãnh thổ dựa trên dữ liệu. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật mà còn là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tính minh bạch và tăng cường khả năng giám sát, đánh giá trong quá trình phát triển.
Thứ tư, gắn tổ chức lãnh thổ với xây dựng chính quyền số, xã hội số.
Tổ chức lãnh thổ hiện đại không chỉ dừng lại ở việc phân bố không gian kinh tế – xã hội hợp lý, mà còn phải gắn chặt với quá trình cải cách bộ máy hành chính và đổi mới phương thức phục vụ nhân dân, hướng tới nền quản trị hiện đại, hiệu lực và hiệu quả. Theo đó, chính quyền các cấp, từ tỉnh đến xã, cần từng bước chuyển đổi sang mô hình vận hành trên nền tảng số. Điều này bao gồm việc số hóa toàn bộ quy trình quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, ứng dụng hệ thống điều hành thông minh và tăng cường kết nối dữ liệu liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Thông qua đó, hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện nhanh chóng, minh bạch hơn, giảm thiểu thủ tục hành chính và chi phí xã hội, đồng thời, nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Song song với đó, việc xây dựng xã hội số cũng giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành môi trường phát triển mới, nơi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình quản trị và phát triển.
Thứ năm, bảo đảm phát triển hài hòa, bao trùm, không để vùng khó khăn bị bỏ lại phía sau.
Bảo đảm phát triển hài hòa và bao trùm, không để bất kỳ vùng, miền nào bị bỏ lại phía sau là quan điểm nhất quán trong đường lối phát triển của Đảng. Trong bối cảnh chuyển đổi số và tái cấu trúc không gian phát triển, yêu cầu này càng trở nên có ý nghĩa sâu sắc nhằm bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển giữa các khu vực, đặc biệt là giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn. Theo đó, tổ chức lãnh thổ trong thời đại mới không chỉ hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả tăng trưởng chung mà còn phải gắn chặt với nhiệm vụ thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm tính bao trùm và bền vững. Điều này đòi hỏi phải ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ, mở rộng khả năng kết nối mạng viễn thông, internet băng thông rộng đến các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hạ tầng số được xem là “hạ tầng của mọi hạ tầng”, tạo nền tảng để người dân tiếp cận các dịch vụ công, thông tin và cơ hội phát triển một cách bình đẳng hơn.
5. Giải pháp triển khai quan điểm của Đảng về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số trong thời gian tới
Một là, thống nhất nhận thức, nâng cao quyết tâm chính trị về tổ chức lãnh thổ trong thời đại số.
Để tổ chức lãnh thổ đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời đại số, trước hết cần tập trung vào việc thống nhất nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị. Cần xác định rõ, tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật hay cải cách hành chính mà là một nội dung mang tính chiến lược trong quản trị quốc gia hiện đại. Đây là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh phát triển ngày càng gay gắt.
Trên cơ sở đó, cần tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIV của Đảng về “Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị, phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ”16, coi đây là định hướng xuyên suốt trong tổ chức và quản lý không gian phát triển đất nước. Việc nâng cao quyết tâm chính trị phải được thể hiện bằng hành động cụ thể ở tất cả các cấp, các ngành, đặc biệt là trong công tác quy hoạch, điều phối và triển khai các chính sách phát triển vùng, liên vùng. Cần kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa phương, khép kín trong phạm vi hành chính, cũng như tâm lý ngại thay đổi trong tổ chức và điều hành phát triển. Xây dựng và thúc đẩy tư duy phát triển không gian mở, coi liên kết vùng, liên kết ngành và chia sẻ dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại. Các địa phương không chỉ phát triển riêng lẻ mà phải đặt trong tổng thể phát triển chung của vùng và quốc gia, qua đó hình thành sức mạnh tổng hợp và tính lan tỏa cao. Đồng thời, cần đẩy mạnh xây dựng cơ chế phối hợp liên thông, chia sẻ dữ liệu và đồng bộ hóa thông tin giữa các cấp, các ngành và các địa phương, tạo điều kiện để các quyết định quản lý được dựa trên cơ sở khoa học, minh bạch và kịp thời. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị lãnh thổ, nâng cao hiệu quả điều hành và giảm thiểu tình trạng phân mảnh trong quản lý phát triển.
Hai là, hoàn thiện thể chế về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số.
Một trong những giải pháp mang tính nền tảng để nâng cao hiệu quả tổ chức lãnh thổ trong thời đại số là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế phát triển. Theo đó, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung toàn diện các quy định pháp luật có liên quan trực tiếp đến tổ chức chính quyền địa phương, quy hoạch phát triển, quản lý và sử dụng đất đai, đầu tư công, ngân sách nhà nước, cũng như các lĩnh vực dữ liệu số và giao dịch điện tử. Song song với đó, tiếp tục đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực và rõ cơ chế kiểm tra, giám sát. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị lãnh thổ trong bối cảnh mới. Bên cạnh đó, cần xây dựng và hoàn thiện các cơ chế phối hợp liên tỉnh, liên vùng theo hướng thực chất, có tính ràng buộc và hiệu quả cao. “Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới.”17 là cơ sở chính trị quan trọng để thúc đẩy quá trình thể chế hóa tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số. Việc hiện thực hóa định hướng này sẽ góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực phát triển quốc gia.
Ba là, đổi mới công tác quy hoạch và tổ chức không gian phát triển quốc gia.
Đổi mới công tác quy hoạch và tổ chức không gian phát triển quốc gia là yêu cầu mang tính đột phá, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tăng trưởng và hiệu quả phát triển dài hạn. Quy hoạch cần thực hiện đúng vai trò “đi trước một bước”, bảo đảm tính chiến lược, tầm nhìn dài hạn, đồng bộ và tích hợp cao giữa các ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng phân bố không gian phát triển một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Trong quá trình tổ chức lãnh thổ, cần chuyển mạnh từ tư duy phân bổ dàn trải nguồn lực sang tư duy tập trung, có trọng tâm, trọng điểm vào các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, các đô thị trung tâm và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Việc lựa chọn và phát triển các không gian động lực này phải dựa trên lợi thế so sánh, khả năng kết nối và sức lan tỏa, qua đó hình thành các trụ cột tăng trưởng có khả năng dẫn dắt phát triển chung của cả nước. Đồng thời, cần bảo đảm sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các khu vực và vùng miền. Sự hài hòa đó thể hiện ở mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi, biên giới và hải đảo cũng như giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là yêu cầu mang tính xuyên suốt nhằm bảo đảm tính bền vững trong tổ chức không gian phát triển quốc gia. Bên cạnh đó, việc ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của chuyển đổi số trong công tác quy hoạch là xu thế tất yếu. Cần đẩy mạnh sử dụng bản đồ số, mô hình số (digital twin), Big Data và AI trong phân tích, dự báo và hoạch định không gian phát triển. Các công cụ này cho phép nâng cao độ chính xác trong dự báo dân cư, giao thông, hạ tầng kỹ thuật và sử dụng đất, đồng thời hỗ trợ ra quyết định một cách khoa học, minh bạch và kịp thời hơn.
Bốn là, xây dựng đồng bộ hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ quản trị lãnh thổ.
Xây dựng đồng bộ hạ tầng số và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia được xác định là giải pháp mang tính nền tảng, giữ vai trò quyết định đối với hiện đại hóa công tác quản trị lãnh thổ. Tổ chức lãnh thổ trong thời đại mới chỉ có thể vận hành hiệu quả khi được đặt trên nền tảng hạ tầng số mạnh, an toàn, ổn định và có khả năng kết nối thông suốt trên phạm vi toàn quốc. Đại hội XIV của Đảng xác định “Phát triển và khai thác có hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn, kinh tế dữ liệu”18; điều này đã khẳng định rõ vai trò trụ cột của hạ tầng số trong mô hình phát triển mới. Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Tổ chức lãnh thổ hiện đại phải dựa trên hạ tầng số mạnh, an toàn và thông suốt. Theo đó, cần ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng tốc độ cao, mở rộng vùng phủ sóng mạng 5G, đồng thời xây dựng các trung tâm dữ liệu quốc gia hiện đại, bảo đảm năng lực lưu trữ, xử lý và phân tích dữ liệu lớn. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng điện toán đám mây và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập môi trường số thống nhất, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế – xã hội. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, chuẩn hóa và liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia. Các lĩnh vực then chốt cần được ưu tiên, bao gồm: dân cư, đất đai, doanh nghiệp, quy hoạch, tài nguyên và môi trường, giao thông vận tải, cũng như an sinh xã hội. Việc tích hợp và đồng bộ hóa các cơ sở dữ liệu này sẽ giúp hình thành hệ thống thông tin thống nhất, hỗ trợ quá trình ra quyết định quản lý lãnh thổ một cách khoa học, kịp thời và minh bạch hơn.
Năm là, gắn sắp xếp đơn vị hành chính với đổi mới mô hình quản trị địa phương.
Song song với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, cần đẩy mạnh đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp theo hướng hiện đại. Trong đó, mở rộng mô hình chính quyền đô thị, chính quyền số và phát triển các trung tâm phục vụ hành chính công thông minh là những định hướng quan trọng. Việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong quản lý, điều hành sẽ góp phần giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao tính minh bạch và tăng cường tính phục vụ của chính quyền đối với người dân và doanh nghiệp.
Sáu là, phát triển mạnh cơ chế liên kết vùng và điều phối vùng.
Liên kết vùng tiếp tục là một trong những khâu yếu, tồn tại kéo dài và chưa được khắc phục triệt để. Thực tiễn cho thấy, nếu không tăng cường hiệu quả liên kết vùng thì sẽ khó phát huy được lợi thế tổng hợp, dễ dẫn đến tình trạng phát triển manh mún, cục bộ và thiếu tính lan tỏa giữa các địa phương. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới mạnh mẽ mô hình điều phối vùng theo hướng thực chất, hiệu lực và có tính ràng buộc cao hơn. Cơ chế điều phối vùng cần được thiết kế với thẩm quyền rõ ràng hơn, gắn với nguồn lực tài chính riêng thông qua ngân sách điều phối vùng, đồng thời có bộ máy chuyên trách tinh gọn, đủ năng lực tổ chức thực hiện và điều phối các hoạt động phát triển liên tỉnh. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung cho toàn vùng là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và kịp thời trong điều hành phát triển. Đại hội XIV xác định: “Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu”19 đã khẳng định rõ yêu cầu nâng cao hiệu quả liên kết vùng như một cơ chế vận hành thực chất của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi liên kết vùng không chỉ là chủ trương mang tính định hướng, mà phải trở thành một cấu phần vận hành thường xuyên, có tính hệ thống trong quản trị phát triển quốc gia.
Bảy là, phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và công chức, viên chức có tư duy số.
Dù hạ tầng số và công nghệ hiện đại có phát triển đến đâu, thì hiệu quả vận hành và mức độ thành công của quá trình tổ chức lãnh thổ vẫn phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo, quản lý ở các cấp. Trước yêu cầu mới, cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý địa phương về các nội dung cốt lõi như quản trị số, phân tích và khai thác dữ liệu, ra quyết định dựa trên bằng chứng và quản lý đổi mới sáng tạo. Song song với đó, cần xây dựng đội ngũ công chức, viên chức số có đủ năng lực vận hành các nền tảng số trong quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn thông tin, triển khai hiệu quả dịch vụ công trực tuyến và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số.
Tám là, bảo đảm công bằng số và phát triển bao trùm giữa các vùng.
Một yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi số quốc gia là không để quá trình này làm gia tăng bất bình đẳng giữa các vùng miền và các nhóm dân cư. Thực tiễn cho thấy, nếu thiếu các chính sách hỗ trợ phù hợp, khoảng cách số có thể trở thành một dạng phân hóa phát triển mới, làm gia tăng chênh lệch về cơ hội tiếp cận dịch vụ, tri thức và thị trường giữa các khu vực phát triển và khu vực khó khăn. Vì vậy, cần có sự ưu tiên rõ ràng trong đầu tư phát triển hạ tầng số cho các khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Việc mở rộng mạng viễn thông băng rộng, phổ cập internet tốc độ cao và bảo đảm khả năng kết nối ổn định là điều kiện tiên quyết để thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng. Cùng với đó, cần triển khai các chính sách hỗ trợ thiết bị số cho người dân, đồng thời, tăng cường đào tạo kỹ năng số cho các đối tượng yếu thế, bao gồm người dân nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã, nhằm nâng cao khả năng tham gia vào nền kinh tế số và xã hội số. Đại hội XIV xác định: “mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển”20 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Chín là, gắn tổ chức lãnh thổ với quốc phòng, an ninh và chủ quyền số.
Tổ chức không gian phát triển cần chú trọng các địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh như khu vực biên giới, vùng biển, hải đảo, các đô thị lớn, cũng như các trung tâm dữ liệu và hạ tầng số trọng yếu của quốc gia. Đây không chỉ là những không gian kinh tế quan trọng, mà còn là các “điểm nút” nhạy cảm, có vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh quốc gia trong cả môi trường thực và không gian mạng. Đại hội XIV xác định “giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng”21 đã đặt ra yêu cầu mới đối với công tác tổ chức lãnh thổ trong thời đại số. Theo đó, cần từng bước xây dựng thế trận an ninh số quốc gia vững chắc, gắn kết chặt chẽ với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Sự kết hợp này nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc, không chỉ trên không gian lãnh thổ truyền thống mà còn trên không gian mạng – một không gian chiến lược mới. Đồng thời, cần tăng cường năng lực bảo vệ hạ tầng thông tin trọng yếu, bảo đảm an toàn dữ liệu quốc gia, kiểm soát chặt chẽ các nguy cơ an ninh mạng, và nâng cao khả năng ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Việc quy hoạch và phát triển các khu vực kinh tế – xã hội phải luôn tính đến yếu tố quốc phòng, an ninh ngay từ đầu, bảo đảm tính lưỡng dụng, linh hoạt và bền vững.
Mười là, tăng cường kiểm tra, giám sát và sơ kết, tổng kết thực tiễn.
Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của Đảng đối với toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện các chủ trương về tổ chức lãnh thổ trong điều kiện chuyển đổi số. Đồng thời, phát huy đầy đủ vai trò giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, Nhân dân và báo chí trong việc theo dõi, phản biện và đánh giá hiệu quả thực thi chính sách. Bên cạnh đó, cần thực hiện nghiêm túc cơ chế định kỳ sơ kết, tổng kết thực tiễn, coi đây là khâu quan trọng trong chu trình hoạch định và thực thi chính sách. Kịp thời đánh giá kết quả đạt được, nhận diện rõ những mô hình hiệu quả, cách làm sáng tạo, tiến hành nhân rộng các mô hình tốt, các sáng kiến hiệu quả từ địa phương, ngành, lĩnh vực, qua đó tạo sự lan tỏa trong toàn hệ thống; đồng thời, phát hiện những điểm nghẽn, bất cập để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn phát triển.
6. Kết luận
Quan điểm của Đảng về tổ chức lãnh thổ gắn với chuyển đổi số là một bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo và quản trị quốc gia, thể hiện sự nhận thức sâu sắc và kịp thời trước những biến đổi nhanh chóng của thời đại số. Đây không chỉ là yêu cầu về cải cách hành chính hay ứng dụng công nghệ thông tin, mà thực chất là quá trình tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, bao trùm và bền vững. Trên cơ sở đó, tổ chức lãnh thổ không còn dừng lại ở việc sắp xếp không gian hành chính – kinh tế truyền thống, mà từng bước được định hình lại dựa trên các động lực phát triển mới như dữ liệu số, hạ tầng số, liên kết vùng, cực tăng trưởng và các hành lang kinh tế. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường tính liên kết, lan tỏa trong phát triển giữa các vùng, miền. Nếu được triển khai đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, hệ thống giải pháp phù hợp và cách làm sáng tạo, quan điểm này sẽ tạo ra động lực phát triển mới cho đất nước. Qua đó, không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm chủ quyền số, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Chú thích:
1, 2. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1993). Tập 13. H. NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr. 15.
3. V.I.Lênin toàn tập (2005). Tập 45. H. NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.389.
4. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 10. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr.512.|5. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 298.
6, 7, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 86 – 87, 105, 97, 31, 29, 28, 105, 91, 122, 316.
8. André Torre (2023). “Territorial Governance and Regional Competitiveness in the Digital Era”, Regional Studies, Vol. 57, No. 4, p.615.
9. World Bank (2024). Digital Development Overview 2024, Washington D.C. p.21.
10. Anne David et al (2023). “Understanding Local Government Digital Technology Adoption Strategies: A PRISMA Review”. Sustainability, Vol. 15, p.9645.
11. Tan Yigitcanlar (2023). “Smart Regions and Territorial Innovation in the Digital Economy”, Cities, Vol. 141, p.104522.
12. United Nations (2024). E-Government Survey 2024. New York, p.77.
13. European Commission (2025). Digital Sovereignty and Governance in Europe. Brussels, p.14.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 157-NQ/TW ngày 25/5/2025 về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về xắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
5. OECD, Regions and Cities at a Glance 2024, Paris: OECD Publishing, 2024.



