Kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và một số giải pháp

Power control over leadership and management officials in Vietnam today: current situation and solutions

                                                                                         TS. Trịnh Thị Hường
Trường Đại Học Y Hà Nội

(Quanlynhanuoc.vn) – Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đặc biệt từ sau Đại hội đại biểu lần thứ XIV, vấn đề kiểm soát quyền lực đã có những chuyển biến tích cực, quy trình ngày càng chặt chẽ, tăng cường minh bạch và đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại không ít những hạn chế, bất cập, như: tình trạng nể nang, né tránh, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả; việc xử lý vi phạm chưa thật sự nghiêm minh, đồng bộ. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát quyền lực cán bộ lãnh đạo, quản lý, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên; đồng thời, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

Từ khóa: Kiểm soát quyền lực; cán bộ lãnh đạo, quản lý; trách nhiệm của tổ chức; cá nhân có thẩm quyền; lạm quyền; lộng quyền; tha hóa quyền lực.

Abstract: Since the 13th National Congress of the Party, and particularly following the 14th National Congress, there have been positive developments in power oversight, with increasingly rigorous procedures, enhanced transparency, and a greater emphasis on accountability for organizations and individuals in positions of authority. However, despite these achievements, we still face significant limitations, including a culture of deference and avoidance and a lack of effective oversight mechanisms; the handling of violations has not been sufficiently strict or consistent. Based on the research, this article proposes several ways to control the power of leadership and management officials, contributing to a cadre of officials who are both politically reliable and professionally competent; at the same time, it helps build a clean, strong Party capable of meeting the nation’s development requirements.

Keywords: Power control; leadership and management officials; organizational responsibility; individuals with authority; abuse of power; overreach; corruption of power.

1. Đặt vấn đề

Kiểm soát quyền lực là một trong những nội dung cốt lõi đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có ý nghĩa quyết định đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo đảm sự vận hành lành mạnh của hệ thống chính trị. Nếu quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ sẽ tạo ra nguy cơ bị lạm quyền, lộng quyền, tha hóa quyền lực và hệ lụy của nó sẽ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý; làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với hệ thống chính trị.

Quyền lực là quyền lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cơ quan, đơn vị, bao gồm: quyền quyết định về công tác cán bộ, quản lý nguồn lực, phân bổ lợi ích, kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật trong tổ chức Đảng. Đây là loại quyền lực mang tính chính trị – xã hội đặc thù, vừa thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, vừa gắn chặt với trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”1. Chính vì vậy, kiểm soát quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng quy định, phục vụ lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Bản chất của kiểm soát quyền lực là quá trình thiết lập và vận hành các cơ chế nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng quy định, không bị tha hóa hay lạm dụng vào những mục đích bất chính. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, kiểm soát quyền lực không nhằm hạn chế vai trò lãnh đạo của Đảng mà làm cho quyền lực đó được thực thi một cách minh bạch, hiệu quả, vì lợi ích chung. Đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ chính quy luật vận động của quyền lực: ở đâu có quyền lực, ở đó cần có kiểm soát quyền lực.

Kiểm soát quyền lực là bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý2. Nguyên tắc này vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, vừa phát huy dân chủ trong nội bộ. Mọi quyết định quan trọng phải được tập thể thảo luận dân chủ, quyết định theo đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên. Việc thực hiện nghiêm nguyên tắc này sẽ hạn chế tình trạng độc đoán, chuyên quyền.

2. Thực trạng công tác kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đến nay, công tác kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhận định: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát quyền lực được đặc biệt coi trọng, được triển khai toàn diện, đồng bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng”3.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống quy định về kiểm soát quyền lực ngày càng được hoàn thiện. Nhiều quy định của Đảng và Nhà nước về trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, thu nhập, công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền… đã được ban hành và triển khai thực hiện tương đối đồng bộ. “Việc kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên với kiểm tra, giám sát theo chuyên đề, khi có dấu hiệu vi phạm đạt kết quả tích cực”4. Đây là cơ sở pháp lý và chính trị quan trọng để ràng buộc quyền lực, hạn chế nguy cơ lạm quyền.

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh với quyết tâm chính trị rất cao. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều vụ án lớn, phức tạp liên quan đến cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao đã được phát hiện, điều tra và xử lý nghiêm minh. “Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đã kỷ luật 17.808 công chức, viên chức, cho nghỉ việc, thôi việc 10.880 người, cho từ chức, miễn nhiệm, thôi giữ chức vụ đối với 94 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 7 Ủy viên Bộ Chính trị, 1 Ủy viên Ban Bí thư và 18 Ủy viên Trung ương Đảng, có cả lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; trên 1.000 cán bộ diện ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành cấp ủy cấp tỉnh”5. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Việc xử lý kỷ luật cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu cho thấy tính nghiêm khắc và liên tục của cơ chế kiểm soát quyền lực.

Thứ hai, cơ chế kiểm tra, giám sát trong Đảng ngày càng được tăng cường.

Vai trò của các cơ quan, như Ủy ban Kiểm tra Trung ương được phát huy mạnh mẽ trong việc phát hiện và xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên. “Chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát được nâng lên và đạt được kết quả nổi bật, khá toàn diện, có bước đột phá, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị”6. Công tác thanh tra, kiểm toán nhà nước cũng có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần kiểm soát việc thực thi quyền lực trong quản lý kinh tế – xã hội. Đồng thời, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng đi vào thực chất hơn, từng bước nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực từ phía cơ quan dân cử.

Thứ ba, việc phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, của báo chí và các tổ chức chính trị – xã hội cũng là một điểm sáng. Người dân ngày càng có điều kiện tham gia vào quá trình giám sát thông qua các kênh thông tin đa dạng, đặc biệt là môi trường số. Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc phát hiện, phản ánh các hành vi sai phạm, tạo áp lực xã hội đối với những biểu hiện lạm dụng quyền lực. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

2.2. Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần được nhìn nhận nghiêm túc.

Một là, tình trạng lạm dụng quyền lực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân vẫn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa thực sự gương mẫu, còn biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. “Một bộ phận cán bộ quản lý doanh nghiệp thiếu tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức cách mạng, lợi dụng kẽ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng”7. Tình trạng chạy chức, chạy quyền… tuy đã được kiềm chế nhưng chưa được ngăn chặn triệt để. Một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý lạm dụng quyền lực tham nhũng, hối lộ đang gây bức xúc trong dư luận.

Hai là, việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ chưa thật sự chặt chẽ.Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế8. Ở một số nơi, việc bổ nhiệm, đề bạt cán bộ còn thiếu minh bạch, chưa bảo đảm nguyên tắc công khai, công bằng. Công tác bổ nhiệm cán bộ ở không ít nơi chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ; chưa làm tốt; công tác bổ nhiệm, dẫn đến tình trạng sau khi bổ nhiệm mới phát hiện có sai phạm. Công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ ở một số nơi chưa được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến tình trạng đúng quy trình nhưng không đúng người, tình trạng bổ nhiệm, bố trí người nhà, người thân, bổ nhiệm “thần tốc”9. Tình trạng “cả nhà làm quan”, bổ nhiệm người thân quen, thiếu tiêu chuẩn vẫn còn xảy ra, gây bức xúc trong dư luận.

Những con số kỷ luật cán bộ trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng cho thấy, vẫn còn tồn tại những hạn chế đáng lo ngại trong cơ chế kiểm soát quyền lực hiện nay. Việc hàng chục nghìn công chức, viên chức bị xử lý, trong đó có cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý bị kỷ luật, chứng tỏ công tác kiểm soát quyền lực ở một số nơi còn lỏng lẻo, chưa hiệu quả và thiếu tính phòng ngừa từ sớm.

Ba là, cơ chế kiểm tra, giám sát tuy đã được tăng cường nhưng ở một số nơi vẫn còn diễn biến phức tạp.

“Công tác kiểm tra, giám sát ở một số nơi thiếu chủ động, thiếu quyết liệt, chưa hiệu quả; công tác giám sát thường xuyên còn nhiều hạn chế, chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa được quan tâm đúng mức”10. Việc phát hiện sai phạm đôi khi còn chậm, chủ yếu là xử lý khi hậu quả đã xảy ra, chưa chú trọng đúng mức đến phòng ngừa từ sớm, từ xa. Một số cơ quan, đơn vị còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm trong kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đối với người đứng đầu. Số tài sản thu được do tha hóa quyền lực gây ra vẫn chưa tương xứng với thực tế thất thoát.

Qua thanh tra, kiểm toán kiến nghị xử lý, thu hồi gần 640 nghìn tỷ đồng, hơn 2.530 ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm hơn 16.300 tập thể và hơn 33.500 cá nhân sai phạm; kiến nghị xử lý hơn 3.000 văn bản pháp luật có sơ hở, bất cập. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra hơn 17.900 vụ án và hơn 38.200 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ; trong đó có 3.352 vụ án, 8.387 bị can về tội tham nhũng11. Những con số trên cho thấy, kiểm soát quyền lực còn thiếu tính chủ động, phòng ngừa; cơ chế giám sát chưa thực sự hiệu quả và thể chế còn bất cập.

Bốn là, sự phối hợp giữa các cơ quan trong kiểm soát quyền lực chưa thật sự chặt chẽ. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mặt chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ; hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước chưa cao12. Ở một số trường hợp, còn xảy ra tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót trong quá trình kiểm tra, giám sát và vấn đề phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành chống tham nhũng đối với công tác kiểm tra, giám sát vẫn thiếu tính đồng bộ, tình trạng bao che để lọt người, lọt tội vẫn chưa khắc phục triệt để. Việc phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến hiệu quả kiểm soát quyền lực chưa cao.

Năm là, sự tác động của “lợi ích nhóm tiêu cực” trong quá trình thực thi quyền lực vẫn còn diễn biến phức tạp.

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp cao, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm13 vẫn còn tồn tại. Lợi ích nhóm có thể chi phối các quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý, làm méo mó chính sách và gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà nước. Tình trạng một bộ phận doanh nghiệp tiếp cận, thao túng một bộ phận cán bộ cấp cao để can thiệp vào chính sách vẫn còn diễn biến khó lường. Các vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, AIC, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An14 đều có liên quan đến những cán bộ cấp cao. Từ đó cho thấy, “lợi ích nhóm tiêu cực” diễn biến rất phức tạp; rất khó lường ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến kiểm soát quyền lực.

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

(1) Hệ thống thể chế và pháp luật vẫn còn những kẽ hở. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quy định nhằm kiểm soát quyền lực, song ở một số lĩnh vực, quy định vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa cụ thể, thậm chí còn có khoảng trống pháp lý nhất định. “Hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”15. Những quy định chưa rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm, chế tài xử lý vi phạm dễ tạo điều kiện cho việc lạm dụng quyền lực. Khi các quy định pháp luật chưa đủ chặt chẽ, việc kiểm soát quyền lực khó đạt hiệu quả như mong muốn.

(2) Cơ chế tổ chức và phân công quyền lực trong hệ thống chính trị chưa thực sự rõ ràng. Ở một số cơ quan, đơn vị, việc phân định chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng16, dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm suy giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực, bởi khi trách nhiệm không được xác định cụ thể thì việc quy trách nhiệm cũng trở nên khó khăn. Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đồng bộ, chồng chéo, chất lượng pháp luật chưa cao, trên một số lĩnh vực còn thiếu tính ổn định, tính dự báo chưa cao, sửa đổi nhiều17. Ngoài ra, cơ chế tập trung dân chủ một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm18, dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc lạm quyền cá nhân.

(3) Công tác kiểm tra, giám sát chưa đi vào chiều sâu. Việc phát hiện sai phạm đôi khi còn chậm, chủ yếu xử lý khi hậu quả đã xảy ra, “việc ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa hiệu quả chưa cao, dẫn đến khi tiến hành kiểm tra, xử lý thì hậu quả để lại rất lớn. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm… Có cán bộ kiểm tra chưa thật sự gương mẫu, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước”19. Thêm vào đó, tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm vẫn tồn tại, đặc biệt trong việc kiểm tra cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên hoặc người đứng đầu.

(4) Một bộ phận cán bộ chưa thực sự gương mẫu, còn biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Khi bản thân người nắm giữ quyền lực thiếu ý thức tự kiểm soát, dễ bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất hoặc quyền lợi cá nhân, thì các cơ chế kiểm soát bên ngoài cũng khó phát huy hiệu quả tối đa. Nói cách khác, nếu “tự kiểm soát” yếu thì “kiểm soát từ bên ngoài” sẽ gặp nhiều trở ngại. Sự tác động tiêu cực của lợi ích nhóm còn diễn biến phức tạp và nguy hiểm, gây cản trở việc kiểm soát quyền lực. Lợi ích nhóm tiêu cực có thể hình thành trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, tạo ra sự liên kết nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân hoặc một nhóm người, thay vì lợi ích chung, lợi ích tập thể. Khi đó, quyền lực được sử dụng để phục vụ một nhóm người sẽ làm méo mó chính sách và gây tổn hại đến niềm tin của Nhân dân. Lợi ích nhóm thường được che giấu tinh vi, khiến việc phát hiện và xử lý gặp nhiều khó khăn; từ đó làm suy giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực.

(5) Sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống kiểm soát quyền lực chưa thực sự chặt chẽ. Ở một số trường hợp, sự phối hợp chưa chặt chẽ, còn tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Điều này làm giảm hiệu quả chung của hệ thống kiểm soát, bởi kiểm soát quyền lực là một quá trình liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan khác nhau.

(6) Công tác giáo dục và tự giáo dục, rèn luyện của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa thực sự được chú trọng. Việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức không được chú trọng đúng mức, chưa đi sâu phân tích những biểu hiện suy thoái về đạo đức chính trị. Môi trường giáo dục, kiểm tra, giám sát ở một số cơ quan, đơn vị cũng chưa thật sự nghiêm túc. Mặt khác, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn hạn chế; chưa chủ động tự soi, tự sửa, chưa thường xuyên kiểm điểm, đánh giá bản thân để hoàn thiện về năng lực và phẩm chất, dẫn đến việc buông lỏng kỷ luật, kỷ cương dẫn đến một bộ phận không nhỏ cán bộ thiếu đạo đức, lạm dụng quyền lực để thực hiện hành vi bất chính.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn chồng chéo, bất cập, đặc biệt trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, như: đất đai, tài chính công, đầu tư công, công tác cán bộ. Pháp luật phải quy định rõ ràng, minh bạch về thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân, bảo đảm “quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó”. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm giải trình một cách cụ thể, thường xuyên, coi đây là nguyên tắc bắt buộc trong thực thi quyền lực; hoàn thiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ theo hướng thực chất, hiệu quả, có cơ chế xác minh độc lập và xử lý nghiêm các trường hợp kê khai không trung thực.

Việc công khai, minh bạch tài sản không chỉ góp phần phòng ngừa tham nhũng mà còn tạo niềm tin cho xã hội. Pháp luật phải quy định rõ ràng, minh bạch về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng vị trí lãnh đạo, quản lý; đồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm cá nhân gắn với quyền lực được giao. Khi quyền hạn càng lớn thì trách nhiệm càng cao và chế tài xử lý vi phạm càng nghiêm khắc. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ20, tiếp tục hoàn thiện các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ; quy định về minh bạch trong hoạt động công vụ. Một hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ là “hàng rào” đầu tiên ngăn chặn việc lạm quyền.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, khắc phục triệt để tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ.

Phải xây dựng quy trình tuyển dụng theo hướng cạnh tranh công khai, dựa trên năng lực thực chất và phẩm chất đạo đức của ứng viên. “Kiên quyết không để lọt vào cấp uỷ, lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị những cán bộ không có bản lĩnh chính trị vững vàng, không kiên định quan điểm của Đảng, giảm sút uy tín, gây mất đoàn kết, đùn đẩy trách nhiệm, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, “tư duy nhiệm kỳ”, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, cục bộ địa phương, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm trách nhiệm nêu gương”21.

Trong công tác bổ nhiệm, cần thiết lập hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng, định lượng hóa các tiêu chí về năng lực, hiệu quả công việc và uy tín của cán bộ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả; kiên quyết khắc phục những yếu kém, bất cập, xử lý nghiêm đối với cấp uỷ, người đứng đầu vi phạm quy chế, nguyên tắc của Đảng trong công tác cán bộ. Đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các hành vi chạy chức, chạy quyền22. Đối với luân chuyển cán bộ, cần thực hiện theo kế hoạch dài hạn, bảo đảm khách quan, không bị lợi dụng để hợp thức hóa các quyết định thiếu minh bạch.

Thứ ba, tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, góp phần phát hiện sớm và xử lý kịp thời các biểu hiện sai phạm. Cần nâng cao vai trò của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; bảo đảm tính độc lập tương đối trong hoạt động của các cơ quan này để tránh sự chi phối của đối tượng bị kiểm tra. “Đẩy mạnh phòng ngừa, phòng ngừa từ gốc là căn bản, kiểm soát quyền lực là cốt lõi”23, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Thứ tư, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân và xã hội trong kiểm soát quyền lực.

Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, do đó, người dân có quyền và trách nhiệm giám sát việc thực thi quyền lực của cán bộ. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để người dân tham gia giám sát thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí, truyền thông và các kênh phản ánh, tố cáo. Việc công khai, minh bạch thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ lãnh đạo là điều kiện tiên quyết để người dân thực hiện quyền giám sát. Bên cạnh đó, cần có cơ chế bảo vệ người tố cáo, khuyến khích người dân mạnh dạn phản ánh tiêu cực mà không lo bị trả thù. Khi người dân được trao quyền và được bảo vệ, họ sẽ trở thành lực lượng giám sát hiệu quả đối với quyền lực.

Thứ năm, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ số trong quản lý.

Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai quy trình giải quyết công việc và ứng dụng công nghệ thông tin sẽ hạn chế sự can thiệp tùy tiện của cán bộ, qua đó, giảm nguy cơ lạm quyền. Chính phủ điện tử, chính phủ số giúp tăng tính minh bạch và khả năng truy vết các quyết định hành chính, từ đó, nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Khi mọi hoạt động được số hóa và giám sát tự động, khả năng “lách luật” hay che giấu sai phạm sẽ bị thu hẹp đáng kể.

Thứ sáu, xây dựng văn hóa liêm chính gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất đạo đức tốt.

Xây dựng, kiên trì thực hành văn hoá liêm chính, lấy liêm chính làm giá trị cốt lõi, chuẩn mực ứng xử, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và toàn xã hội24. Kiểm soát quyền lực không chỉ dựa vào cơ chế bên ngoài mà còn phải dựa vào sự tự giác của mỗi cán bộ. Do đó, cần chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ; xây dựng văn hóa liêm chính trong đội ngũ cán bộ. Công tác cán bộ cần được thực hiện một cách minh bạch, công bằng, dựa trên năng lực và phẩm chất, tránh tình trạng “chạy chức, chạy quyền”. Đồng thời, cần có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém, suy thoái. Một đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” sẽ là yếu tố quan trọng để hạn chế nguy cơ lạm quyền.

Thứ bảy, nâng cao trách nhiệm giải trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trách nhiệm giải trình là yêu cầu bắt buộc đối với những người nắm giữ quyền lực. Cán bộ lãnh đạo phải giải thích, làm rõ các quyết định và hành động của mình trước cơ quan có thẩm quyền và trước Nhân dân. Cần xây dựng cơ chế để việc giải trình trở thành hoạt động thường xuyên, không chỉ khi có sai phạm. Khi cán bộ phải thường xuyên giải trình, họ sẽ cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước khi đưa ra quyết định, từ đó hạn chế nguy cơ lạm quyền.

Kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ của nhiều giải pháp: hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát, phát huy vai trò của Nhân dân, ứng dụng công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cao và nâng cao trách nhiệm giải trình. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả thì mới có thể ngăn chặn tình trạng lạm quyền, tham nhũng, qua đó xây dựng một nền hành chính liêm chính, phục vụ Nhân dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

4. Kết luận

Kiểm soát quyền lực đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý  là vấn đề cấp thiết nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, đúng pháp luật và vì lợi ích của Nhân dân. Từ phân tích thực tiễn cho thấy, trong thời gian qua, công tác kiểm soát quyền lực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, phòng chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng được hoàn thiện; vai trò của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và Nhân dân trong giám sát quyền lực được đề cao. Nhiều cán bộ vi phạm đã bị xử lý nghiêm minh, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn một số hạn chế, bất cập.

Để nâng cao việc kiểm soát quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý thì cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực; tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; nâng cao trách nhiệm giải trình; phát huy vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của Nhân dân, báo chí và các tổ chức chính trị – xã hội. Đồng thời, chú trọng giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Kiểm soát quyền lực tốt sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 280.
2, 7, 9, 16, 17, 18, 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 98, 170, 170-171, 168, 227, 164, 173.
3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 20, 21, 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 377, 367-368, 363, 364, 380, 369, 380, 369, 68, 138, 170, 70, 384, 407-408, 138.
23, 24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Hội nghị Trung ương 2 (khóa XIV). H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 273, 275.