A review of studies on factors affecting the implementation of gender equality public policies and recommendations for Vietnam
TS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Học viện Chính trị Khu vực I
(Quanlynhanuoc.vn) – Tổng quan các công trình nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Bình đẳng giới là luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và coi đó là mục tiêu quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu còn có không ít những hạn chế khi các chỉ tiêu bình đẳng giới trên 7 lĩnh vực chưa đạt yêu cầu đạt ra như trong Báo cáo sơ kết 5 năm giai đoạn 2021 – 2025 về thực hiện Chiến lược bình đẳng giới quốc gia. Bài viết tổng hợp các công trình khoa học có ảnh hưởng và tác động đến quá trình thực hiện chính sách công về bình đẳng giới, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt hơn các mục tiêu bình đẳng giới mà Việt Nam đã đề ra.
Từ khóa: Tổng quan; các yếu tố tác động; thực hiện chính sách; bình đẳng giới; Việt Nam.
Abstract: A review of the existing literature plays a particularly important role in scientific research. Gender equality has consistently been a priority of the Communist Party of Vietnam and the State and is regarded as a key objective in the country’s development process. Despite significant achievements, however, considerable challenges remain, as gender equality targets across seven key areas have yet to be fully achieved, as reported in the Five-Year Review Report (2021–2025) on the implementation of the National Strategy on Gender Equality. This article synthesizes influential studies on the factors affecting the implementation of gender equality public policies and, based on this review, proposes several recommendations to support the more effective achievement of Vietnam’s gender equality objectives.
Keywords: Literature review; influencing factors; policy implementation; gender equality; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Bình đẳng giới là “khẩu hiệu” hay là mục tiêu của sự phát triển bền vững? Câu trả lời đã được xác định rõ trong Hiến pháp, hệ thống chính sách và các công ước về quyền con người và bình đẳng giới Việt Nam tham gia: bình đẳng giới là một trong những mục tiêu Việt Nam cần đạt được để hướng tới sự phát triển bền vững. Ngoài những thành quả đã đạt được về bình đẳng giới trong các lĩnh vực thì còn không ít những khó khăn, hạn chế, như việc cần đặt ra các chỉ tiêu về bình đẳng giới ở các lĩnh vực mà chưa phải là yếu tố tự thân.
Thực tiễn đã chỉ rõ, các chỉ tiêu đặt ra chưa đạt được hoặc vai trò và tiếng nói thực sự của nữ giới trong các diễn đàn chính trị chưa được phản ánh rõ nét. Việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế sẽ rất hữu ích để đề ra những khuyến nghị phù hợp cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới với những mục tiêu phát triển bền vững.
2. Các khái niệm liên quan đến chính sách công về bình đẳng giới
2.1. Khái niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách được hiểu là việc công chức áp dụng một chính sách đã được thông qua để thực hiện quyền lực nhà nước (Pressman và Wildavsky (1973)1 hay theo Ferman (1990)2, thực hiện chính sách là những gì xảy ra giữa sự mong đợi của chính sách và kết quả chính sách thu được.
Sự kết hợp giữa hai tác giả Ferman và DeLeon (1999)3 đã đưa ra một tuyên bố kép về mối quan tâm đến thực thi chính sách để giải thích “điều gì sẽ xảy ra” và sự ảnh hưởng của “điều gì sẽ xảy ra”. Tuyên bố này đã thay đổi cách tiếp cận về vai trò của thực hiện chính sách trong quy trình chính sách và chỉ ra những định hướng quan trọng cho việc thực hiện chính sách ở hai điểm là điều gì sẽ xảy ra khi thực hiện chính sách và ảnh hưởng của nó đến đối tượng chính sách và xã hội. Tiếp đến, tác giả John (1998)4 cho rằng, thực hiện chính sách là một giai đoạn trong quy trình chính sách liên quan đến việc biến các ý tưởng chính sách thành hành động hay quan điểm của O’Toole (1995)5 coi việcthực hiện chính sách đề cập mối liên hệ giữa ý định của chính phủ và kết quả thực tế.
Ở Việt Nam, quan niệm về thực thi chính sách được nhắc đến nhiều vào những năm đầu của thế kỷ XXI, Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “thực hiện chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra” (Lê Chi Mai, 2001)6; hay “thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công” (Nguyễn Hữu Hải, 2020)7.
Như vậy, từ đưa ra các khái niệm thực hiện chính sách, có thể hiểu thực hiện chính sách công là quá trình các cơ quan nhà nước đưa chính sách đến đối tượng thụ hưởng nhất định thông qua các hoạt động có tổ chức của nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra của chính sách.
2.2. Bình đẳng giới
Khái niệm bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống nhau và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Nam giới và phụ nữ có cùng vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau. Phụ nữ và nam giới cùng có: (1) Điều kiện để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; (2) Cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; (3) Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; (4) Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của minh cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Bình đẳng giới được hiểu là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm cả sự bình đẳng trong thù lao cho công việc và việc tiếp cận đến nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra cơ hội này) và bình đẳng về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng góp cho quá trình phát triển (Hoàng Bá Thịnh)8.
Điều 5 Văn bản hợp nhất số 45/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 của Văn phòng Quốc hội về Luật Bình đẳng giới giải thích bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.
3. Tham khảo một số nghiên cứu về yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới
Một là, về chất lượng chính sách. Khi đề cập đến mục tiêu và tính khả thi chính sách, Smith (1973)9 và Meter và Van Horn (1975)10 cho rằng, đây là nhân tố đầu tiên tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách công. Mục tiêu và tính thực tế của chính sách có sự thống nhất, nội dung của chính sách bảo đảm tính khả thi, phù hợp và rõ ràng là những yêu cầu cơ bản của một chính sách. Việc đánh giá tính mục tiêu, khả thi và thực tế của chính sách được tiến hành ở khâu thực hiện chính sách. Tính chất chính sách cũng có tác động đến việc thực hiện chính sách. Một nghiên cứu khác cho rằng, vấn đề chính sách đề cập đến càng phức tạp thì mức độ khó khăn trong áp dụng chính sách càng gia tăng (Nguyễn Trọng Bình, 2019)11.
Hai là, về cơ cấu tổ chức. Nghiên cứu của Ripley và cộng sự (1973)12 đã chỉ ra, cấu trúc bên trong tổ chức có tác động khác nhau đến việc triển khai chính sách. Van Meter và Van Horn (1995)13 nhìn nhận các đặc điểm cấu trúc của tổ chức; sự trao đổi, phối hợp, điều hành giữa tổ chức và thành viên trong tổ chức cũng tác động đến quá trình thực hiện chính sách. Đồng thời, khi đề cập đến sự thay đổi tổ chức (đổi mới) và kiểm soát tổ chức trong thực hiện chính sách, trong đó kiểm soát tổ chức được thảo luận xung quanh quyền lãnh đạo, điều phối, phân cấp, phối hợp, dân chủ, động viên và tuân thủ.
Ba là, chủ thể thực hiện chính sách. Yếu tố cá nhân đượcRipley và cộng sự (1973)14 chỉ ra trong thực hiện chính sách. Một nghiên cứu khác của Đỗ Phú Hải (2016)15 đề cập 3 cấp độ (cá nhân, tổ chức, hệ thống), trong đó tập trung vào năng lực chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức. Lasswell (1942)16 được thể hiện ở: (1) Năng lực thiết kế soạn thảo, ban hành chính sách; (2) Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; (3) Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách; năng lực duy trì chính sách; (4) Năng lực điều chỉnh chính sách; (5) Năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách; (6) Năng lực đánh giá, kiểm tra, rút kinh nghiệm. Từ đó, năng lực chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức được thể hiện trên: (1) Năng lực thiết kế soạn thảo, ban hành chính sách; (2) Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; (3) Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách; năng lực duy trì chính sách; (4) Năng lực điều chỉnh chính sách; (5) Năng lực theo dõi, đôn đốc, kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách; (6) Năng lực đánh giá, kiểm tra, rút kinh nghiệm (Đỗ Phú Hải, 2016)17. Ở cùng các tiếp cận này, đề cập đến nhận thức, thái độ và sự quyết tâm của nhân viên thực hiện chính sách có Van và cộng sự (1975)18 cho rằng, năng lực cá nhân của công chức là yếu tố đặc biệt quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả, xây dựng thực hiện chính sách.
Bốn là, những người được thụ hưởng chính sách. Ở góc độ đối tượng được thụ hưởng, một số chuyên gia Việt Nam cho rằng sự ủng hộ hay phản đối của công luận và các bên liên quan sẽ tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chính sách. Đồng thời, sự động viên, khích lệ người dân tham gia cũng làm cho việc thực hiện chính sách hiệu quả hơn (Lê Chi Mai, 2001)19. Tiếp cận ở góc độ lợi ích và động cơ thực hiện của đối tượng thực hiện chính sách, Nguyễn Hữu Hải và các cộng sự (2009)20 chỉ ra vấn đề lợi ích và động cơ của đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp tới việc thực thi chính sách. Như vậy, đối tượng thụ hưởng chính sách có nhiều nhóm khác nhau, sự tác động đến quá trình thực hiện chính sách sẽ chịu tác động của yếu tố lợi ích và động cơ của đối tượng thực hiện.
Năm là, môi trường thực hiện chính sách. Sự tác động của yếu tố môi trường trong thực hiện chính sách rất đa dạng phong phú, bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ. Sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, quốc gia, dân tộc là xuất phát điểm dẫn đến tất cả các yếu tố làm tăng nguồn lực chính trị của phụ nữ và giảm các rào cản; trình độ phát triển của đất nước tự động dẫn đến sự thay đổi tích cực điều kiện sống, hành vi sinh sản, trình độ học vấn, các giá trị và thái độ truyền thống liên quan đến vai trò cho phụ nữ. Theo Sabatier và cộng sự (1973)21 cho rằng, các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường như môi trường kinh tế, sự tham gia của truyền thông đại chúng, mức độ ủng hộ và sự tham gia của công chúng và các đoàn thể xã hội sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện chính sách.
Qua việc tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, tập trung vào pháp luật và văn hóa:
(1) Đối với pháp luật. Nhiều nghiên cứu, như: Vương Thị Hanh (2019)22, Hoàng Bá Thịnh (2009)23 đã chỉ ra các rào cản từ khung chính sách, như: vấn đề độ tuổi nghỉ hưu khác nhau giữa nam và nữ; chính sách nghỉ sinh; dịch vụ công hỗ trợ cho phụ nữ làm việc; hay rào cản từ công tác cán bộ như đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch; thiếu biện pháp và nguồn lực thực hiện đủ mạnh, công tác chuẩn bị nhân sự là nữ trong các cơ quan, ở các cấp; công tác quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo bồi dưỡng; vai trò của cấp ủy, người đứng đầu; trách nhiệm, vai trò của người đứng đầu; quy định về trách nhiệm tham gia thực hiện chính sách của các bên; trách nhiệm giải trình trong thực hiện các chỉ tiêu bình đẳng giới.
(2) Đối với văn hóa. Ở bình diện văn hóa, Reynolds (1999)24 nhấn mạnh vai trò ảnh hưởng của văn hóa đến sự tiến bộ của phụ nữ: khi văn hóa xã hội ngăn cản phụ nữ trẻ được hưởng một nền giáo dục tốt và ngay từ khi sinh ra, xã hội của họ luôn loại bỏ họ khỏi vai trò của người ra quyết định công khai thì khả năng họ trở thành lãnh đạo sẽ bị giảm sút đáng kể; còn Norris và Inglehart (2001)25 lập luận rằng, chính văn hóa ủng hộ hầu hết các điều kiện tham gia chính trị của phụ nữ. Việt Nam, là một quốc gia ở châu Á, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng nho giáo và nền văn minh lúa nước, yếu tố văn hóa tác động rất mạnh mẽ đến việc phát triển, hình thành hệ tư tưởng và quan điểm về sự phân biệt nam nữ như tư tưởng “trọng nam, kinh nữ”, “nam ngoại, nữ nội” đã làm cho đại bộ phận nữ giới trong những giai đoạn trước chưa được chú trọng để nuôi dạy và được học hành đầy đủ như nam giới.
Một nghiên cứu khác, coi văn hóa là một trong 3 yếu tố quan trọng (cấu trúc, thể chế và văn hóa) tác động đến sự tham gia của nữ giới trong lãnh đạo chính trị (Lê Thị Thục, 2013)26. Với những chuẩn mực giới, nhận thức và thái độ của giới tinh hoa chính trị để chỉ ra quá trình từ nhận thức đến hành động của họ trong quá trình tham chính. Khi xem xét ở góc độ văn hóa như chuẩn mực giới truyền thống và định kiến giới coi năng lực và sự tiến thủ của nữ giới kém hơn nam giới.
Rào cản từ góc độ cá nhân dưới sự tác động của yếu tố văn hóa: mỗi cá nhân người phụ nữ bị những chi phối trong quan niệm, tư tưởng và hình thành thói quen, hành động (Trần Thị Minh Thi, 2016)27 với những rào cản từ gia đình và cá nhân, như: đặc điểm cá nhân, tính cách, xây dựng mối quan hệ, cơ hội thăng tiến. Đôi khi đó là những rào cản từ bên trong hay sự sợ hãi của chính bản thân của người phụ nữ, dẫn đến hạn chế trong chính trị và kinh doanh.
Rào cản từ định kiến xã hội: chỉ ra các rào cản cấu trúc bao gồm tình trạng kinh tế – xã hội, nền giáo dục mà phụ nữ được hưởng tác động đến giáo dục của phụ nữ, tỷ lệ phụ nữ làm công việc chuyên môn và quản lý. Theo Shvedova (2005)28 chỉ ra hạn chế về tài chính, bao gồm: nghèo đói và thất nghiệp, gánh nặng kép của phụ nữ đối với nhiệm vụ gia đình, công việc; hạn chế về tiếp cận giáo dục như tình trạng mù chữ, định hướng nghề nghiệp. Ở Việt Nam, Theo Hoàng Bá Thịnh (2013)29 bình đẳng giới bị tác động bởi sự khác nhau về đặc điểm địa lý, về sự chênh lệch các khu vực (giữa nông thôn, miền núi và đô thị, về điều kiện đời sống trong mỗi gia đình, về kiến thức, trình độ…).
Tham khảo một số nghiên cứu quốc tế, như: Norris và Inglehart (2001)30cho thấy, các yếu tố cấu trúc kinh tế, xã hội không thể giải thích hoàn toàn cho việc thực hiện chính sách. Chẳng hạn, có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội ở các xã hội tương tự, như giữa Canada và Hoa Kỳ, giữa Hà Lan và Italia, giữa Nam Phi và Niger. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, không phải những địa phương phát triển về kinh tế – xã hội thì sẽ có được sự bình đẳng giới trong lĩnh vực của xã hội. Do đó, văn hóa là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến thực hiện chính sách bình đẳng giới. Biểu hiện của yếu tố văn hóa gồm chuẩn mực giới; định kiến giới tác động đến nhận thức và thái độ của người dân về thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách qua góc nhìn bình đẳng giới và các nhóm yếu tố cơ bản tác động đến thực hiện chính sách bình đẳng giới là: (1) Chất lượng chính sách, (2) Cơ cấu tổ chức, (3) Chủ thể thực hiện chính sách, (4) Đối tượng thụ hưởng chính sách, (5) Môi trường thực hiện chính sách (tiếp cận ở khía cạnh pháp luật, văn hóa). Trong đó, các nghiên cứu đã có sự phân tích, lý giải về sự tác động của các yếu tố trên với những chiều cạnh khác nhau.
4. Khuyến nghị từ những tổng quan
Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam triển khai thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời được tổ chức ở các đơn vị hành chính, theo đó: cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo do Quốc hội quy định; chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó (Điều 111 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tại Quyết định số 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 gồm cấp tỉnh (gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và cấp xã gồm xã, phường (trong đất liền), đặc khu (ở hải đảo); bỏ đơn vị hành chính cấp huyện và thị trấn.
Việt Nam nỗ lực hoàn thiện khung chính sách và pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực. Bám sát các nguyên tắc về quyền con người, bình đẳng giới, công bằng về cơ hội cho cả nam và nữ. Các nội dung chính sách về bình đẳng giới đã được lồng ghép trong các luật, bộ luật, như: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới (Điều 26 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung 2025); quy định cụ thể các hành vi nghiêm cấm như quấy rối tình dục tại nơi làm việc; bảo đảm việc làm bình đẳng, trả lương ngang nhau cho công việc có giá trị như nhau; và các chế độ thai sản, bảo vệ lao động (Bộ luật Lao động năm 2019); vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, tại Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các luật khác có liên quan; giữ vững nguyên tắc bình đẳng giới trong cơ cấu Quốc hội: quy định tỷ lệ đại biểu: tiếp tục bảo đảm tỷ lệ phụ nữ ứng cử và làm đại biểu Quốc hội theo đúng tinh thần Luật Bình đẳng giới năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); bình đẳng vị trí nam và nữ đại biểu Quốc hội đều có quyền hạn, trách nhiệm ngang nhau trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề lớn của đất nước và giám sát tối cao (Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi năm 2025); thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới trong quản lý cán bộ, công chức (Luật Cán bộ, công chức năm 2025) và nhiều quy định khác.
Nội dung chính sách bình đẳng giới thể hiện quan điểm khá toàn diện của Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện bình đẳng giới ở các lĩnh vực và được hiện hành trong các bộ luật, luật và các văn bản pháp quy. Vấn đề đặt ra là khâu thực hiện, cụ thể hóa và chuẩn bị nguồn lực để thực hiện có hiệu quả hơn những quan điểm bình đẳng giới được lồng ghép trong các văn bản, để những quy định không chỉ là khẩu hiệu về bình đẳng giới mà đang và sẽ đạt được những kết quả tốt hơn trong thời gian tới, ví dụ như: vai trò và tiếng nói của nữ giới được tăng lên trong các quyết sách chính trị, tỷ lệ nữ giới tham gia các vị trí đứng đầu có sự cân bằng với nam giới.
Lồng ghép giới tiếp tục tiến hành trên nguyên tắc trách nhiệm của tất cả các bên liên quan từ trung ương đến địa phương, bao gồm các cơ quan, đơn vị và từng cá nhân cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị; bảo đảm tuân thủ quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 về tuân thủ thực hiện các quy định về thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng, ban hành các quy định, chính sách. Các nội dung về bình đẳng giới trong cơ quan quản lý nhà nước được lồng ghép trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về công tác cán bộ ở tất cả các cấp, ngành, địa phương, mang tính mục tiêu phấn đấu. Trong Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030 chỉ tiêu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực đã có sự thay đổi, phù hợp với tình hình mới, tập trung vào khắc phục ở chỉ tiêu chưa đạt được mục tiêu đề ra như chỉ tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, việc làm, truyền thông.
Thứ nhất, từ góc nhìn chính sách hay chất lượng chính sách với tính chất, tính khả thi và sự linh hoạt của chính sách ứng phó khi có sự thay đổi. Tính chất của vấn đề chính sách càng phức tạp thì mức độ khó khăn khi đưa chính sách càng khó khăn hơn. Đặc biệt, trước bối cảnh đất nước và thế giới có nhiều thay đổi như xu hướng toàn cầu hóa, cách mạng khoa học kỹ thuật và những bất ổn về chính trị trên thế giới, bình đẳng giới là vấn đề vốn rất phức tạp khi nó liên quan mật thiết đến vấn đề văn hóa, quan niệm và những giá trị truyền thống khi những định kiến giới đã và đang còn tồn tại khá phổ biến trong nhiều gia đình Việt Nam.
Thứ hai, cơ cấu tổ chức khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp cần hoàn thiện quy trình, cơ chế thực hiện chính sách từ trung ương đến địa phương, giữa cấp tỉnh và xã, ngược lại khi có sự phản hồi của địa phương đến các cơ quan trung ương, trong đó vai trò của Quốc hội, Bộ Nội vụ và Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, sở Nội vụ của 34 tỉnh, thành phố trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên 7 lĩnh vực của bình đẳng giới.
Hiện nay, về mặt quản lý nhà nước, bộ phận chuyên trách về bình đẳng giới ở trung ương được giao cho Bộ Nội vụ; cấp tỉnh được chuyển về là một chức năng của sở Nội vụ, cấp xã chuyển về chức năng của phòng kinh tế – xã hội. Cần bảo đảm cơ chế hoạt động của các cơ quan này trong mối tương quan với các cơ quan của Đảng với các cơ quan quản lý nhà nước, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và trong nội bộ từng cơ quan trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới
Thứ ba, đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới, cần có những hiểu biết, nhận thức đúng về bình đẳng giới và có năng lực của chủ thể thực hiện chính sách, như: năng lực hoạch định, xây dựng chính sách, năng lực tuyên truyền, phổ biến chính sách, điều chỉnh chính sách khi cần thiết, năng lực phối hợp, kiểm tra, giám sát, đánh giá và phản hồi trong quá trình thực hiện chính sách. Cần lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các nhà trường và tại hiện trường thông qua các khóa bồi dưỡng cán bộ, công chức phụ trách và công chức lãnh đạo quản lý nhằm có những hiểu biết đúng và kịp thời khi thực hiện các nội dung bình đẳng giới trong từng mảng công việc, từng lĩnh vực. Phát huy vai trò của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các học viện trực thuộc trong việc xây dựng chương trình tổ chức giảng dạy, đánh giá sau khóa học có nội dung về bình đẳng giới.
Thứ tư, đối với mỗi cá nhân (không phân biệt nam, nữ, khác) trong quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới cần có sự tham gia của tất cả các bên, không phân biệt nam, nữ, giới tính khác đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Cần xác định quan điểm, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới không phải là nhiệm vụ của một cá nhân hay tổ chức nào, mà đó là nhiệm vụ của tất cả cá nhân, tổ chức. Đặc biệt, là đội ngũ cán bộ, công chức những người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước và thực hiện quản lý nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ năm, nhìn nhận từ môi trường pháp luật và văn hóa.
Khía cạnh phát luật: hạn chế tiến tới xoá bỏ những rào cản từ phía chính sách như vấn đề độ tuổi nghỉ hưu khác nhau giữa nam và nữ; chính sách nghỉ sinh; dịch vụ công hỗ trợ cho phụ nữ làm việc; hay rào cản từ công tác cán bộ như đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch; thiếu biện pháp và nguồn lực thực hiện đủ mạnh, công tác chuẩn bị nhân sự là nữ trong các cơ quan, ở các cấp; công tác quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo bồi dưỡng. Bởi trên thực tế, mặc dù đã có sự thay đổi tích cực về độ tuổi nghỉ hưu giúp rút ngắn nhưng khoảng cách giữa nam và nữ vẫn còn rất lớn (như khoảng cách tuổi nghỉ hưu vẫn còn từ 5 năm sang 3 năm 8 tháng); thời gian nghỉ sinh được tăng thêm một tháng, tổng cộng là bảy tháng, tăng một tháng so với quy định cũ (từ ngày 01/7/2026), áp dụng với phụ nữ sinh con thứ hai và nam giới có vợ sinh con thứ hai được nghỉ 10 ngày làm việc,
Khía cạnh văn hóa: cần có những giải pháp đến từ hai phía là cá nhân và định kiến giới của những người xung quanh. Đối với cá nhân (không phân biệt nam, nữ) có sự chủ động nhận thức và hành động về vai trò, sự tham gia của mình vào thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, tự thoát ra khỏi những định kiến bị chi phối bởi những định kiến bản thân không thể làm, không thể vượt qua…Đối với định kiến xã hội cần phát huy vai trò của người vợ/chồng, các thành viên trong gia đình, như: bố/mẹ vợ, chồng, sự tham gia của cộng đồng, tổ dân phố, các cơ quan, đoàn thể trong việc nâng cao nhận thức và quyết tâm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh.
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả về thực hiện chính sách bình đẳng giới và những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới có thể nhận thấy, bình đẳng giới là vấn đề không mới, luôn được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học và sự cụ thể hóa trong các chính sách. Những yếu tố tác động xoay quanh hạn chế của 5 nhóm yếu tố chính là chất lượng chính sách, cơ cấu tổ chức, chủ thể thực hiện chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách, môi trường thực hiện chính sách (tiếp cận ở khía cạnh pháp luật, văn hóa). Những khuyến nghị đưa ra dưới góc độ nghiên cứu khoa học với mong muốn có những đóng góp hoàn thiện khung chính sách và các khâu trong quá trình thực hiện chính sách bình đẳng giới ở Việt Nam.
Chú thích:
1. Pressman and Wildavsky. (1984). Implementation: 3rd edn. Berkeley: University of California Press.
2. Ferman, B. (1990). When failure is success: Implementation and Madisonian government, in D.J. Palumbo and D.J. Calista (eds), Implementation and the Policy Process: Opening Up the Black Box. New York: Greenwood Press. pp. 39 – 50.
3. Ferman & DeLeon, P. (1999). The missing link revisited: Contemporary implementation research. Policy Studies Review, vol 16 (3/4), pp. 311 – 338.
4. John, P. (1998). Analysing Public Policy. London: Pinter.
5. O’Toole, L.J., Jr. (1995). Rational choice and policy implementation. American Review of Public Administration, 25 (1): 43 – 57.
6, 19. Lê Chi Mai (2018). Thực thi chính sách công – bất cập và giải pháp. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 263 (12/2017), tr. 12 – 17.
7, 20. Nguyễn Hữu Hải (2020). Giáo trình Thực thi chính sách công. H. NXB Bách Khoa Hà Nội.
8, 29. Hoàng Bá Thịnh. 2013. Giáo trình Xã hội học về giới. H. HXBĐại học Quốc gia Hà Nội.
9. T.B. (1973). The policy implementation process. Policy Sciences, June, Volume 4, Issue 2, pp. 197 – 209.
10, 13, 18. Van Meter, D. and Van Horn, C.E. (1975). The policy implementation process: A conceptual framework. Administration and Society, Vol. 6, No 4: 445 – 88.
11. Nguyễn Trọng Bình. (2019). Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách công ở Việt Nam. Tạp chí Pháp luật, số 24 (400), tháng 12, tr. 31 – 35.
12, 14. Ripley, R.B., G. A. Franklin, W. M. Holmes, and W.m.moreland. (1973). Structure, Environment, and Policy Actions: Exploring a Model of Policy- Making. Beverly Hills and London: Sage Profession Paper in American Politics, 04-006.
15, 17. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực xây dựng và thực hiện chính sách công. https://tcnn.vn/news/detail/34079/Nhung_van_de_ly_luan_va_thuc_tien_ve_nang_luc_xay_dung_va_thuc_hien_chinh_sach_congall.html
16. Lasswell, H.D. (1942). The Developing Science of Democracy in The Future of Government in the United States. Essays in Honor of Charles E. Merriam, ed. Leonard White, University of Chicago Press.
21. Sabatier P.A. and Daniel A. Mazmanian. (1979). Policy Implementation – A Famework of Analysis. Policy Studies Journal, Vol. 8, No. 4.
22. Vương Thị Hanh (2019). Hướng tới hiện thực hóa quyền tham chính của phụ nữ. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Đảm bảo quyền tham chính của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay. H. NXB Thanh niên.
23. Hoàng Bá Thịnh (2013). Giáo trình Xã hội học về giới. H. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 111
24. Reynolds, A. (1999). Women in the Legislatures and Executives of the World: Knocking at the Highest Glass Ceiling. World Politics51(4): 547 – 572.
25, 30. Norris và Inglehart. (2001). Cultural Obstacles To Equal Representation. Journal of Democracy 12(3), pp. 126 – 140.
26. Lê Thị Thục (2013). Nghiên cứu bình đẳng giới trong lãnh đạo chính trị ở Việt Nam: Một số phát hiện từ tổng quan có tính phê phán. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, quyển 23, số 4, tr. 44 – 54.
27. Trần Thị Minh Thi (2016). Rào cản thể chế và văn hóa đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 2.
28. N.Shvedova. (2005). Obstacles to Women’s Participation in Parliament (thuộc báo cáo Women in Parliament: Beyond Numbers của International IDEA). https://www.idea.int/sites/default/files/publications/women-in-parliament-beyond-numbers-a-revised-edition.pdf, truy cập 27/6/20226
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 – 2030.
2. Quốc hội (2026). Văn bản hợp nhất số 45/VBHN-VPQH ngày 17/3/2026 của Văn phòng Quốc hội về Luật Bình đẳng giới.
3. Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Thái Nguyên. http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/4519-binh-dang-gioi-trong-lanh-dao-quan-ly-o-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-tinh-thai-nguyen.html
4. Bình đẳng giới trong tư duy lý luận của Đảng: từ quan điểm truyền thống đến cách tiếp cận phát triển bền vững. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/07/binh-dang-gioi-trong-tu-duy-ly-luan-cua-dang-tu-quan-diem-truyen-thong-den-cach-tiep-can-phat-trien-ben-vung/



