Hiểu đúng về “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” góp phần bảo vệ quan hệ hữu nghị Việt – Trung trong tình hình mới

A proper understanding of the “Vietnam – China Community with a Shared Future” and its contribution to safeguarding Vietnam-China friendly relations in the new context

TS. Lê Thị Bình
Học viện Chính trị Khu vực II

(Quanlynhanuoc.vn) – Thời gian qua, bất cứ sự kiện nào liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc đều bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, nhất là sự kiện lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước thăm hữu nghị lẫn nhau. Sự kiện Việt Nam – Trung Quốc ra tuyên bố “Xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” trong các chuyến thăm chính thức của người đứng đầu hai quốc gia đã bị các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá, tạo dư luận xấu, ảnh hưởng đến quan hệ Việt – Trung cũng như chủ trương đối ngoại của Đảng. Hiểu đúng và có cách thức để bảo vệ quan điểm của Đảng trong xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định của khu vực, thế giới và vun đắp quan hệ đặc biệt giữa Nhân dân và Chính phủ hai nước Việt Nam – Trung Quốc trong tình hình mới.

Từ khóa: Cộng đồng; Trung Quốc; Việt Nam; chia sẻ tương lai; chống phá; thế lực thù địch.

Abstract: In recent times, any event involving Vietnam and China has been exploited by hostile forces to distort the facts and undermine the relationship, particularly the friendly reciprocal visits by the leaders of the two Parties and the two States. The joint declaration by Vietnam and China on “Building a Vietnam-China Community with a Shared Future,” issued during the official visits of the two countries’ leaders, has been distorted and undermined by hostile forces, creating negative public opinion that has impacted Vietnam-China relations as well as the Party’s foreign policy. Properly understanding and having the means to defend the Party’s stance on building the “Vietnam-China Community with a Shared Future” is an important and urgent task, contributing to maintaining a peaceful and stable environment in the region and the world, and fostering the special relationship between the peoples and governments of Vietnam and China in the new context.

Keywords: Community; China; Vietnam; shared future; subversion; hostile forces.

1. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, trước thềm chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 12/2023, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã chia sẻ: “Để xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại, trước hết phải bắt đầu từ châu Á. Trung Quốc có một bài hát nổi tiếng với ca từ: “châu Á chúng ta, rễ cây đều liên kết với nhau; châu Á chúng ta, đám mây cũng bắt tay nhau”. Lời ca này đã phản ánh ý thức cộng đồng về việc chia sẻ tương lai châu Á một cách giản dị trong đáy lòng người dân Trung Quốc. Châu Á là ngôi nhà chung của chúng ta. Các nước láng giềng không thể tách rời nhau. Giúp đỡ láng giềng chính là giúp đỡ bản thân. Người thân mong người thân tốt, láng giềng mong láng giềng tốt”1.

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có mối quan hệ mật thiết, lâu đời, cùng chung chí hướng và con đường; sự phát triển của mỗi nước đều là cơ hội phát triển của nhau và là nhân tố tích cực đóng góp cho sự phát triển của khu vực và thế giới. Chính vì vậy, hai quốc gia cần chia sẻ tương lai chung, gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển tốt quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, toàn cục và lịch sử, là lựa chọn chiến lược chung của hai nước. Trung Quốc luôn khẳng định Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng và kiên định chính sách hòa bình, hữu nghị với Việt Nam. Về phía Việt Nam, quan hệ với Trung Quốc cũng luôn được coi là ưu tiên hàng đầu, là lựa chọn chiến lược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị vừa là đồng chí, vừa là anh em, tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Việc xác định xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc” có ý nghĩa chiến lược được đề cập trong ba tuyên bố chung Việt Nam -Trung Quốc trong các cuộc viếng thăm cấp nhà nước vào năm 2023, 2025 và 2026 của lãnh đạo cấp cao hai bên, nhưng nội dung xây dựng có sự tăng tiến, tăng tốc rõ rệt. Đây là một định vị mới trong quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước, được chính thức xác lập trong Tuyên bố chung vào tháng 12/2023, nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm chính thức Việt Nam. Tuyên bố chung năm 2023 là “hai bên nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược”. Tuyên bố chung năm 2025 là thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai, còn tuyên bố chung năm 2026 (được đưa ra ngày 17/4/2026, trong chuyến thăm Trung Quốc cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) là hướng tới “thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới”.  Điều này cho thấy quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đang tăng tốc hướng tới giai đoạn mới, một lựa chọn được cả hai bên chủ động đưa ra dựa trên lợi ích chiến lược chung, nhu cầu phát triển thực tiễn và trách nhiệm đối với sự ổn định của khu vực.

Hiểu một cách chung nhất, Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc là xác lập định vị mới cho quan hệ hai Đảng, hai Nhà nước, là bước phát triển cao hơn của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, nâng tầm quan hệ hai bên lên mức độ cao hơn và đi vào chiều sâu hơn, mang ý nghĩa chiến lược hướng tới mục tiêu chung là vì sự phát triển của hai quốc gia, vì mối quan hệ hữu nghị láng giềng đặc biệt Việt – Trung, vì hạnh phúc nhân dân, hòa bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển của khu vực và thế giới. Đây là dấu mốc lịch sử, thể hiện sự đồng hành trên con đường phát triển của hai quốc gia, sự tin cậy chính trị sâu sắc và sự gắn kết chặt chẽ về vận mệnh giữa hai quốc gia láng giềng xã hội chủ nghĩa.

2. Nhận diện các luận điệu chống phá

Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là cạnh tranh Mỹ – Trung, ngày càng gay gắt, tác động mạnh mẽ đến cục diện thế giới, bao trùm các mối quan hệ quốc tế và hoạt động đối ngoại của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, mọi hoạt động đối ngoại của Việt Nam đều được dư luận quốc tế và trong nước đặc biệt quan tâm. Những thành công, những kết quả mà Việt Nam đã đạt được đã góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bên cạnh đó, trên các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức phản động như Việt Tân và các hội nhóm cực đoan, các diễn đàn, trang tin và blog cá nhân nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền”, mượn mác “bình luận đa chiều”, những “góc nhìn riêng”, “tâm thư”, “tư vấn” tung ra các bài viết, video dàn dựng có nội dung sai trái, xuyên tạc, chống phá các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong đó, các chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Trung Quốc cùng với việc đưa ra tuyên bố xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc đã trở thành tâm điểm để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ảnh hưởng xấu đến dư luận, làm sai lệch nhận thức và gây hoài nghi bất an trong xã hội.

Trước tiên, chúng mổ xẻ, phân tích và đánh giá khái niệm, ý nghĩa của Cộng đồng chia sẻ tương lai.

Chúng cố tình hiểu sai hoặc dịch sai cụm từ Cộng đồng chia sẻ tương lai thành lệ thuộc tương lai để kích động tâm lý bài Trung trong Nhân dân, chúng lập luận, thực chất đây là sự chia sẻ tương lai giữa Việt Nam và Trung Quốc với nhau hay là một hình thức lệ thuộc của một quốc gia đối với các quốc gia dưới cái mác ngôn từ là chia sẻ tương lai. Với giọng điệu đó, chúng đã tạo ra trong dân chúng nỗi lo sợ về việc bị “đồng hóa” hoặc “phụ thuộc”. Chúng cho rằng, việc tham gia “Cộng đồng chia sẻ tương lai” là Việt Nam đang rơi vào “vòng xoáy”, “quỹ đạo” của Trung Quốc; đang thể hiện sự lệ thuộc vào Trung Quốc, dần mất đi sự độc lập, tự chủ, phản bội lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ở góc độ khác, chúng diễn giải rằng, việc hai quốc gia tuyên bố xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai là một hình thức không thực chất. Trên các nền tảng mạng xã hội xuất hiện khá nhiều bài viết và bình luận trái chiều về khuôn khổ quan hệ này. Chúng bày tỏ thái độ hoài nghi về cấp độ và giá trị quan hệ mà Việt Nam – Trung Quốc sẽ có được khi thúc đẩy xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai, tuyên truyền rằng đây chỉ là sự phô diễn có ý đồ chính trị của hai người đứng đầu Đảng Cộng sản của hai quốc gia, rằng việc gắn kết với Trung Quốc chỉ là để “bảo vệ quyền lãnh đạo tuyệt đối” của hai Đảng Cộng sản chứ không phải vì lợi ích của Nhân dân, mục đích là nhằm hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng lập luận kiểu: “Chủ quyền biển đảo không ổn thỏa thì chia sẻ tương lai ra sao?”; “Vận mệnh của Việt Nam là do dân tộc Việt Nam nắm giữ chứ chẳng có chung chạ gì với Trung Quốc”… và, đây không phải là hoạt động ngoại giao bình thường mà là một “thỏa thuận quyền lực” ở cấp cao nhất mục đích là để “trấn an” phía Trung Quốc3. Chúng rêu rao, thêu dệt về sự tồn tại của “phe thân nước này” hay “phe thân nước kia” trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhằm gây ra sự nghi kỵ, mâu thuẫn trong nước, sự hoang mang trong đội ngũ đảng viên và Nhân dân.

Thứ hai, chúng xuyên tạc bản chất của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa của Việt Nam.

Một nội dung mà các lực lượng chống phá tập trung vào là xuyên tạc quan điểm và đường lối đối ngoại của Đảng. Chúng tuyên truyền rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam thời gian qua đã “mỵ dân” trong các tuyên bố về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, về chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn; về quan điểm không theo phe, theo phía, không chọn bên. Bên cạnh đó, chúng còn tập trung công kích chính sách ngoại giao quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam (không tham gia liên minh quân sự; không theo bên này để chống bên kia; không cho nước ngoài mượn lãnh thổ để chống nước khác; không dùng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ với nhau)4 để xuyên tạc, suy diễn lệch lạc về tinh thần và quan điểm đối ngoại quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Các thế lực chống phá viện dẫn: Việt Nam đã liên tục thực hiện các cuộc viếng thăm của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, quốc hội Việt Nam sang Trung Quốc thời gian qua và việc đón người đứng đầu Đảng và Nhà nước Trung Quốc sang Việt Nam cùng với việc ra tuyên bố xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai là Việt Nam đang nỗ lực thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, biểu hiện Việt Nam đang ngả hẳn sang Trung Quốc. Chúng ta lập luận rằng, đó là minh chứng cho thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam đang đi ngược lại chính sách ngoại giao cân bằng, độc lập, tự chủ mà mình đã tuyên bố. Chúng cố tình xây dựng kịch bản rằng, hợp tác với Trung Quốc là “đối lập” với việc phát triển quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây, chia rẽ Việt Nam với các nước, từ đó, kích động quan điểm Việt Nam đã chọn bên thì nên “chọn bên xứng tầm” (ngả hẳn về phía Mỹ, phương Tây) vừa giúp đối trọng hiệu quả với Trung Quốc, đồng thời, giúp Việt Nam tranh thủ nguồn lực lớn hơn từ các nước đó, thực sự đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân. Cách thức chống phá của các thế lực thù địch nêu trên nhằm mục tiêu phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chia rẽ quan hệ láng giềng hữu nghị và làm suy yếu vị thế đối ngoại của Việt Nam.

Thứ ba, kích động tâm lý dân tộc cực đoan, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa Nhân dân hai nước, gây mất ổn định tư tưởng xã hội.

Một số đối tượng lợi dụng lịch sử và những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, đánh vào lòng yêu nước chân chính của Nhân dân để kích động tư tưởng bài Hoa, khuyến khích chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chúng rêu rao rằng, việc ký kết tuyên bố xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai này là Việt Nam “nhượng bộ” về vấn đề Biển Đông, thỏa hiệp hoặc làm ngơ trước các vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ngoài Biển Đông thời gian qua để đổi lấy sự ổn định mang tính hình thức. Các bài viết thường sử dụng ngôn ngữ kích động như “bán nước”, “phản bội cha ông” “phản bội lịch sử” nhằm khơi dậy làn sóng biểu tình hoặc phản kháng cực đoan trong xã hội, đây là thủ đoạn rất nguy hiểm vì với cách thức đó chúng gieo rắc tâm lý thù ghét cực đoan trong Nhân dân đối với các quyết sách đối ngoại của đất nước, gây chia rẽ giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ tư, cố tình bóp méo nội dung hợp tác mà hai nước đã thỏa thuận và cam kết với nhau trong các tuyên bố.

Các thế lực thù địch cố tình suy diễn rằng mọi hoạt động hợp tác với Trung Quốc đều đồng nghĩa với “nhượng bộ”. Chúng xuyên tạc rằng các dự án trong khuôn khổ “Vành đai và Con đường” thực chất là “bẫy nợ”, là công cụ để Trung Quốc kiểm soát nền kinh tế Việt Nam, từ đó Việt Nam sẽ mất quyền tự quyết về kinh tế. Bên cạnh đó, chúng phóng đại các mặt trái và những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, như: nhập siêu, hàng giả, hàng độc hại đến sức khoẻ người dân, các vấn đề về môi trường trong các dự án thầu, nhằm phủ nhận những lợi ích to lớn mà hợp tác song phương Việt – Trung mang lại. Với kiểu rêu rao và bóp méo sự thật đó, chúng hạ thấp vị thế kinh tế của Việt Nam, cho rằng Việt Nam sẽ chỉ là nơi tiêu thụ hàng hóa chất lượng thấp hoặc trở thành “bãi rác công nghiệp” trong chuỗi giá trị của Trung Quốc.

3. Một số nội dung đấu tranh các luận điệu chống phá, bảo vệ quan hệ hữu nghị Việt – Trung và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Một là, phản bác việc đánh tráo khái niệm, khẳng định giá trị và ý nghĩa của việc tăng cường xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc”.

Trước hết, nói về tính chính danh của “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng, đã chỉ rõ: Tên văn bản đầy đủ là “Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc về việc tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm hơn nữa quan hệ Đối tác Hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược”5.

Nội hàm của cộng đồng chia sẻ tương lai được cụ thể hóa bằng phương hướng “sáu hơn” trong Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc năm 2023 là: Tin cậy chính trị cao hơn; Hợp tác quốc phòng – an ninh thực chất hơn; Hợp tác thực chất sâu sắc hơn; Nền tảng xã hội vững chắc hơn; Phối hợp đa phương chặt chẽ hơn; Kiểm soát và giải quyết bất đồng tốt hơn.

Về chuẩn mực trong quan hệ hai quốc gia, trong tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc các năm 2023, 2025, 2026, Việt Nam và Trung Quốc đều khẳng định, phát triển quan hệ hai nước cần tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế, kiên trì tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Để phát triển tốt quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, hai bên xác định định hướng chiến lược của Lãnh đạo cao nhất hai Đảng là then chốt, giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực là động lực, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước là nền tảng, nhất trí tiếp tục bám sát mục tiêu tổng thể “sáu hơn”, không ngừng thúc đẩy Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả6.

Có thể thấy, trong các tuyên bố, Việt Nam và Trung Quốc đã xác định rõ nội hàm, quan điểm và các nguyên tắc trong quan hệ với nhau. Những luận điệu về việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai là hình thức, là “lệ thuộc tương lai” hay đang “đưa đất nước vào quỹ đạo của nước khác”, làm mất đi tính độc lập, coi nhẹ lợi ích quốc gia, dân tộc là không có căn cứ, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn.

Thực tế, việc xây dựng cộng đồng chung tạo ra cơ chế để kiểm soát bất đồng tốt hơn, đặc biệt là vấn đề Biển Đông. Đây là cơ chế đối thoại cấp cao nhằm ngăn ngừa xung đột, không phải là sự thỏa hiệp về chủ quyền. Trong buổi tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam vào sáng ngày 11/6/2024, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, hai bên cần thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao, kiểm soát và giải quyết tốt hơn bất đồng trên biển; tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của nhau, tích cực tìm kiếm biện pháp xử lý thỏa đáng phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) năm 19827. Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc vào 17/4/2026 vừa qua cũng đã khẳng định “Hai bên đi sâu trao đổi chân thành về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, cùng duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông… không có các hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp, cùng duy trì ổn định trên biển”8.

Việc duy trì tiếp xúc cấp cao, tăng cường trao đổi chiến lược với lãnh đạo Trung Quốc, xây dựng quan hệ chính trị tốt đẹp Việt – Trung là tiền đề để duy trì môi trường hòa bình, tránh xung đột vũ trang, hỗ trợ lẫn nhau trong xây dựng đảng, quản lý đất nước, tạo không gian ổn định để phát triển kinh tế và chống lại các âm mưu “diễn biến hòa bình”, bảo vệ chế độ mà Nhân dân đã lựa chọn.

Hai là, Việt Nam khẳng định việc xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai” là sự triển khai nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

Qua các kỳ đại hội, đường lối đối ngoại của Việt Nam là nhất quát, xuyên suốt và được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại… Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”9.

Chủ trương đối ngoại đó là sự kế thừa, kết tinh giữa quá khứ và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn; là thành quả của nền ngoại giao hiện đại Hồ Chí Minh, với nguyên tắc cốt lõi là đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết. Chính vì thế, việc lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm Trung Quốc hay lãnh đạo Trung Quốc tới thăm Việt Nam là hoạt động đối ngoại bình thường, cần thiết, nhằm củng cố quan hệ hữu nghị, tăng cường hợp tác phát triển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ phát triển đất nước. 

Các tuyên bố chung về xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc là kết quả to lớn của hoạt động đối ngoại, khẳng định mối quan hệ Việt – Trung đang được hai bên quan tâm và vun đắp. Việc các lực lượng chống phá quy chụp bóp méo bản chất những hoạt động đối ngoại đó là cách nhìn một chiều, phiến diện, mang tính chủ quan cực đoan, lệch lạc về nền ngoại giao Việt Nam. Trong bối cảnh quốc tế phức tạp, chịu sự tác động sâu sắc từ các tính toán chiến lược của các nước lớn, Việt Nam luôn khẳng định một nguyên tắc nền tảng, nhất quán: “chọn chính nghĩa, không chọn bên”.

Nguyên tắc đó là sự kết tinh sâu sắc giữa lịch sử và tư duy lý luận chính trị đương đại. “Chọn chính nghĩa” nghĩa là lựa chọn lẽ phải, công lý, lợi ích chính đáng của quốc gia – dân tộc hài hoà cùng lới ích của các đối tác và phù hợp với sự phát triển của nhân loại; còn “không chọn bên” là đứng thế trung lập, tập trung cho ổn định, phát triển của đất nước, không để bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh, đối đầu giữa các nước lớn, không trở thành “quân cờ” của bất kỳ nước nào. Việc xây dựng cộng đồng này không phải là liên minh quân sự hay kiểu phân tuyến, chọn phe, mà là sự nâng cấp quan hệ dựa trên sự tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam không “ngả” về phía nào mà ưu tiên lợi ích quốc gia – dân tộc trên hết. Việc thắt chặt quan hệ với Trung Quốc là yêu cầu khách quan do vị trí địa lý láng giềng và sự tương đồng về chế độ chính trị, không có nghĩa là từ bỏ quan hệ với các đối tác khác. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức với 195 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 nước, như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Pháp….

Việt Nam tích cực tham gia các sự kiện quốc tế như Diễn Đàn kinh tế thế giới WEF, tham dự Hội đồng Hòa bình về Gaza, ký các thỏa thuận hợp tác tập trung vào các lĩnh vực then chốt như công nghệ cao, chuyển đổi số, hàng không, y tế với Hoa Kỳ; không ngừng mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), ASEAN… Một quốc gia “lệ thuộc”, “yếu kém” không thể có một mạng lưới đối ngoại rộng mở, đa tầng, đa hướng như vậy. Đây chính là câu trả lời đanh thép rằng Việt Nam luôn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng chiến lược, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, bảo đảm cao nhất, tốt nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ba là, phản bác quan điểm bôi nhọ và làm sai lệch tinh thần các thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trước những luận điệu cho rằng các văn kiện, thỏa thuận hợp tác là “bẫy nợ” của Trung Quốc, Việt Nam “đang mất quyền kiểm soát đối với nền kinh tế”, “đang từng bước nhượng bộ Trung Quốc”, “đi ngược lại lợi ích quốc gia”. Những quy kết đó đều không có cơ sở, bởi lẽ cần phải nhận thức rõ rằng việc phân biệt giữa vấn đề lịch sử và quan hệ hiện tại là yêu cầu tất yếu. Việt Nam luôn chủ trương: quá khứ tốt đẹp thì khai thác, quá khứ không tốt đẹp thì gác lại để hướng tới tương lai; xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, đồng thời phát triển hợp tác trong những lĩnh vực có lợi cho cả hai bên.

Chính vì thế, khi ký kết các văn kiện hợp tác, Việt Nam và Trung Quốc đều nhấn mạnh tính thực chất và chất lượng của nội dung hợp tác. Tuyên bố chung 2023, 2024, 2025, 2026 đều nhấn mạnh “hợp tác thực chất và sâu sắc hơn trên tất cả các lĩnh vực và các kênh”. Chỉ tính kết quả từ các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao thời gian qua, hai nước đã ký kết hàng loạt văn kiện hợp tác trên mọi lĩnh vực (tháng 12/2023: 36 văn kiện; tháng 8/2024: 14 văn kiện; tháng 4/2025: 45 văn kiện; tháng 4/2026: 32 văn kiện). 

Đặc biệt, Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc tháng 4/2026 nhấn mạnh đến thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ các sáng kiến lớn, như: xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại, Sáng kiến Phát triển toàn cầu đồng thời tiếp tục tăng cường điều phối, phối hợp trong các khuôn khổ quốc tế và khu vực, như: Liên Hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Mê Công – Lan Thương…, ủng hộ lẫn nhau trong ứng cử vào vị trí của các tổ chức quốc tế, cùng bảo vệ hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực và thế giới. Đây chính là cơ sở chính trị và pháp lý để Việt Nam và Trung Quốc xây dựng khuôn khổ cộng đồng chia sẻ tương lai một cách hiệu quả, hiện thực hóa chủ trương đối ngoại của Đảng “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”10.

Dưới góc độ kinh tế, các dự án kết nối hạ tầng (như đường sắt, cảng biển) đều được tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế và an ninh quốc gia. Việt Nam chủ động lựa chọn các dự án phù hợp với quy hoạch quốc gia, vay mượn có chọn lọc và gắn với việc phát huy tối đa thế mạnh của đất nước. Từ “Hành lang kinh tế đất liền – biển” kết nối Côn Minh với Hải Phòng, đến xây dựng cửa khẩu số giúp thông quan hàng hóa nhanh chóng, hay phát triển chung Cảng Cửa ngõ Quốc tế Vịnh Bắc Bộ, những dự án này không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý mà còn tái tạo hệ sinh thái kinh tế khu vực, giúp Việt Nam đa dạng hóa chuỗi cung ứng và thúc đẩy kinh tế số.

Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Việt Nam là đối tác lớn nhất của Trung Quốc trong khối ASEAN và là đối tác lớn thứ 4 của Trung Quốc trên thế giới (sau Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản), với kim ngạch song phương đạt 256,4 tỷ USD. Trung Quốc là nhà đầu tư lớn thứ 2 tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký năm 2025 đạt 5,96 tỷ USD11. Có thể thấy, việc tăng cường hợp tác với Trung Quốc giúp Việt Nam tận dụng thị trường khổng lồ, kết nối hạ tầng, thúc đẩy xuất khẩu nông sản và thu hút đầu tư chất lượng cao. Trung Quốc là láng giềng lớn, đồng thời là đối tác thương mại số 1 của Việt Nam. Việc ổn định quan hệ là yếu tố then chốt để bảo đảm môi trường hòa bình cho sự phát triển của đất nước. Đây chính là hiện thực hóa lợi ích quốc gia.

4. Kết luận

Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị quốc tế đang diễn biến phức tạp hiện nay, việc tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện phù hợp với lợi ích căn bản của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước. Quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc có nền tảng lâu đời, không thể bị phá vỡ bởi những luận điệu kích động. Xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai là lối thoát, không phải là biện pháp tình thế, mà là lựa chọn tất yếu của hai quốc gia, Việt Nam và Trung Quốc, bằng những hành động đã chứng minh: An ninh thực sự bắt nguồn từ phát triển chung; thịnh vượng lâu dài bén rễ từ hợp tác cùng thắng. Con đường này có thể cần thêm nhiều kiên nhẫn và trí tuệ, nhưng tương lai hướng tới chắc chắn sẽ là sự phồn vinh và đoàn kết của cả hai nước Việt Nam- Trung Hoa.

Chú thích:
1. Xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Trung quốc _ Việt nam có ý ý nghĩa chiến lược mở ra trang sử mới chung tay hướng tới hiện đại hóa. https://nhandan.vn/xay-dung-cong-dong-chia-se-tuong-lai-trung-quoc-viet-nam-co-y-nghia-chien-luoc-mo-ra-trang-su-moi-chung-tay-huong-toi-hien-dai-hoa-post787021.html.
2. Nhận diện và bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. https://congan.laichau.gov.vn/chong-dien-bien-hoa-binh-22/nhan-dien-va-bac-bo-luan-dieu-xuyen-tac-ve-chuyen-tham-cap-nha-nuoc-den-trung-quoc-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-va-doan-dai-bieu-cap-cao-viet-nam-4645.html.
3. Chuyến thăm ghi dấu ấn đặc biệt, minh chứng phản bác các luận điệu sai trái. https://congan.quangtri.gov.vn/chuyen-tham-ghi-dau-an-dac-biet-minh-chung-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai.
4. Bộ Quốc phòng (2020). Sách trắng Quốc phòng năm 2019. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Bộ Ngoại giao nói về nội hàm của “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc”. https://tuoitre.vn/bo-ngoai-giao-noi-ve-noi-ham-cong-dong-chia-se-tuong-lai-viet-nam-trung-quoc-2023121417334353.htm
6. Toàn văn Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. https://baochinhphu.vn/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-trung-quoc-102221101184708373.htm
7. Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, Hùng Ba. https://mofahcm.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong-doi-ngoai-cua-viet-nam/chu-tich-nuoc-to-lam-tiep-dai-su-dac-menh-toan-quyen-nuoc-cong-hoa-nhan-dan-trung-hoa-tai-viet-nam-hung-ba
8. Toàn văn Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. https://viettimes.vn/toan-van-tuyen-bo-chung-giua-hai-nuoc-viet-nam-va-trung-quoc-post196785.html.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 117.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 373.
11. Thống kê nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu năm 2025 của Cục Hải quan.