Policies for the development of private sector enterprises in Vietnam in the new era
TS. Chử Văn Tuyên
Trường Đại học Thành Đô
NCS Phan Thị Hồng Vân
Trường Đại học Thành Đô
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (viết tắt Nghị quyết số 68-NQ/TW) đã mở ra một bước chuyển quan trọng trong tư duy và định hướng chính sách, từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên hỗ trợ doanh nghiệp sang tiếp cận kiến tạo môi trường và năng lực phát triển dài hạn cho khu vực tư nhân. Bài viết phân tích thực trạng chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam; đồng thời, làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.
Từ khóa: Kinh tế tư nhân; doanh nghiệp tư nhân; chính sách phát triển; kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW.
Abstract: Resolution No. 68-NQ/TW, dated May 4, 2025, of the Politburo on the development of the private sector (hereinafter referred to as Resolution No. 68-NQ/TW) has marked a significant shift in thinking and policy direction, moving from an approach primarily focused on supporting businesses to one that fosters an enabling environment and builds long-term development capacity for the private sector. This article analyzes the current state of policies for developing private-sector enterprises in Vietnam; simultaneously, it clarifies the challenges arising during the implementation of Resolution No. 68-NQ/TW and proposes several policy directions to improve policies aimed at promoting private-sector enterprises within Vietnam’s new growth model.
Keywords: Private sector; private enterprises; development policy; new era; Resolution No. 68-NQ/TW.
1. Đặt vấn đề
Quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua đã tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp tư nhân ở nước ta phát triển nhanh cả về số lượng và phạm vi hoạt động. Nhiều doanh nghiệp tư nhân từng bước mở rộng quy mô, tham gia vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và gia tăng hiện diện trong chuỗi sản xuất, cung ứng trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sự phát triển của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân vẫn bộc lộ không ít hạn chế: “Hầu hết doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa; tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế; phần lớn có năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh chưa cao; tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”1. Thực trạng này cho thấy sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp chưa đồng nghĩa với việc hình thành được một khu vực tư nhân đủ mạnh để trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết số 68-NQ/TW đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy và định hướng chính sách của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân “là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách theo hướng kiến tạo môi trường thuận lợi, nâng cao năng lực doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân theo chiều sâu. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách trong kỷ nguyên mới.
2. Thực trạng chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
2.1. Những kết quả đạt được trong chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân
Trong quá trình đổi mới, chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Sự thay đổi trong tư duy và chính sách của Đảng, Nhà nước đã tạo điều kiện quan trọng cho khu vực doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô và nâng cao vai trò trong nền kinh tế.
Trước hết, hệ thống thể chế và môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp tư nhân ngày càng được hoàn thiện. Từ việc khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần trong Hiến pháp năm 1992 đến ban hành Luật Doanh nghiệp và các đạo luật liên quan, quyền tự do kinh doanh và quyền bình đẳng của doanh nghiệp từng bước được xác lập rõ hơn. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp năm 2020 tiếp tục thể chế hóa nguyên tắc người dân và doanh nghiệp được kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, góp phần giảm rào cản gia nhập thị trường và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.
Song song với hoàn thiện pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh được đẩy mạnh trong nhiều năm qua. Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình cải cách liên quan đến đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính và thúc đẩy chính phủ điện tử, hướng tới xây dựng môi trường đầu tư minh bạch và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Những nỗ lực này góp phần làm giảm chi phí gia nhập và vận hành thị trường, đồng thời cải thiện niềm tin của khu vực doanh nghiệp tư nhân đối với chính sách công.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng từng bước được hình thành theo hướng tương đối đồng bộ hơn. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong thể chế hỗ trợ khu vực doanh nghiệp tư nhân thông qua các chính sách về tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ công nghệ, đào tạo và tư vấn. Cùng với đó, các chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp số đã góp phần mở rộng không gian phát triển cho khu vực tư nhân trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhờ những thay đổi về thể chế và chính sách, khu vực doanh nghiệp tư nhân có sự phát triển nhanh cả về số lượng và đóng góp kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW, đánh giá: “có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội”2. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.
Những kết quả trên cho thấy, chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong môi trường kinh doanh và góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
2.2. Những hạn chế và bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cả về thiết kế và thực thi.
Một là, tính phân mảnh và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách. Nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được ban hành bởi các bộ, ngành và địa phương khác nhau nhưng thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả, dẫn đến chồng chéo hoặc khó tiếp cận trong thực tiễn. Không ít chương trình hỗ trợ tồn tại dưới dạng ngắn hạn hoặc mang tính dự án, chưa hình thành được hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp có tính liên thông và bền vững.
Hai là, chính sách phát triển doanh nghiệp vẫn thiên về tháo gỡ khó khăn trước mắt hơn là nâng cao năng lực phát triển dài hạn. Phần lớn công cụ chính sách tập trung vào ưu đãi tài chính, giảm thuế hoặc hỗ trợ thủ tục hành chính, trong khi các chính sách nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị doanh nghiệp chưa thực sự phát huy hiệu quả. Đây là hạn chế phổ biến của nhiều quốc gia đang phát triển khi chính sách doanh nghiệp vẫn thiên về hỗ trợ đầu vào thay vì phát triển năng lực cạnh tranh.
Ba là, khó tiếp cận các nguồn lực. Khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân vẫn còn nhiều bất cập: “Kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn, công nghệ, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao”3; “các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ chưa thực sự hiệu quả và công bằng giữa các khu vực kinh tế và không dễ tiếp cận đối với kinh tế tư nhân”4; trong đó, khó khăn về vốn và tài sản bảo đảm tiếp tục là rào cản đáng kể đối với tăng trưởng của doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Bốn là, mức độ liên kết và tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp tư nhân còn thấp. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động ở quy mô nhỏ, công nghệ trung bình hoặc thấp, chủ yếu tập trung ở thị trường nội địa và chưa tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Nghị quyết số 68-NQ/TW, đánh giá: doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân “tư duy kinh doanh thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kết nối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”5, khiến hiệu ứng lan tỏa công nghệ và năng lực quản trị chưa đạt như kỳ vọng. Ngoài ra, hiệu quả thực thi chính sách còn chưa đồng đều giữa các địa phương. Khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở cấp Trung ương và triển khai trong thực tiễn vẫn tồn tại, phản ánh hạn chế về năng lực điều phối, nguồn lực thực thi và cơ chế giám sát chính sách.
2.3. Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW
Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Nếu trước đây trọng tâm chính sách chủ yếu hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn và cải thiện môi trường đầu tư, thì bối cảnh hiện nay đòi hỏi chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
Thứ nhất, quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang tạo ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới mô hình hỗ trợ doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có đủ nguồn lực để đầu tư công nghệ, chuyển đổi số hoặc đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu chính sách phải vượt ra ngoài hỗ trợ tài chính thông thường để hình thành hệ sinh thái số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, bối cảnh cạnh tranh quốc tế và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi doanh nghiệp tư nhân phải nâng cao khả năng liên kết và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và thế giới. Điều này không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của doanh nghiệp mà còn cần sự hỗ trợ có định hướng của Nhà nước thông qua chính sách công nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thứ ba, Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu hình thành đội ngũ doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực chiến lược. Đây là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng nhưng cũng đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống chính sách hiện hành vốn vẫn thiên về hỗ trợ dàn trải và ngắn hạn.
3. Một số định hướng hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW
Bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân theo hướng không chỉ hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn kiến tạo năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển dài hạn. Trên cơ sở những hạn chế của chính sách hiện hành và yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới, cần tập trung vào một số định hướng hoàn thiện chính sách sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định.
Môi trường thể chế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân bởi đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giao dịch, niềm tin thị trường và quyết định đầu tư dài hạn. Mặc dù Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong cải thiện môi trường kinh doanh, song thực tiễn cho thấy, vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo pháp luật, chi phí tuân thủ cao và sự thiếu thống nhất trong tổ chức thực thi giữa các cấp, các ngành. Do đó, định hướng quan trọng trước hết là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng ổn định, minh bạch và bảo đảm tính dự báo cao đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo giữa pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu và các quy định chuyên ngành; đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số trong quản lý nhà nước nhằm giảm chi phí giao dịch và nâng cao mức độ thuận lợi cho doanh nghiệp. Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, bình đẳng và ổn định như một điều kiện nền tảng cho phát triển kinh tế tư nhân.
Hai là, đổi mới chính sách tiếp cận nguồn lực theo hướng công bằng và hiệu quả hơn.
Tiếp cận nguồn lực vẫn là điểm nghẽn lớn đối với doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những khó khăn về vốn tín dụng, đất đai, mặt bằng sản xuất và nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục hạn chế khả năng mở rộng đầu tư và nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh mới, chính sách cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc minh bạch và dựa trên hiệu quả thị trường.
Đối với tín dụng, cần hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng, phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp. Đối với đất đai và mặt bằng sản xuất, cần tăng cường công khai thông tin quy hoạch, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận và phát triển hạ tầng khu, cụm công nghiệp phù hợp với khả năng của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, chính sách phát triển nguồn nhân lực cần được xem là một bộ phận của chính sách phát triển doanh nghiệp. Nhà nước cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng nghề, kỹ năng số và năng lực quản trị cho lực lượng lao động trong khu vực tư nhân. Đây chính là bước đi thực tiễn, cụ thể chủ trương trong Đại hội XIV của Đảng (01/2026): “Có chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”6.
Ba là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp hiện đại.
Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách phát triển doanh nghiệp cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đầu vào sang hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu – phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi xanh; đồng thời phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức trung gian.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần ưu tiên các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số, tư vấn công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và kết nối đổi mới sáng tạo. Chính sách doanh nghiệp hiện đại cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái phát triển thay vì chỉ hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ. Đây cũng là định hướng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo và có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Bốn là, tăng cường liên kết và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp tư nhân.
Một trong những hạn chế lớn của khu vực doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam là mức độ liên kết còn thấp và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chưa cao. Điều này làm hạn chế hiệu ứng lan tỏa công nghệ và cơ hội nâng cấp vị trí của doanh nghiệp trong mạng lưới sản xuất quốc tế. Do đó, chính sách trong giai đoạn tới cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, xây dựng cơ chế kết nối cung – cầu công nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường và trách nhiệm xã hội. Bên cạnh đó, cần có chính sách lựa chọn và hỗ trợ hình thành một số doanh nghiệp tư nhân lớn, có năng lực dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, tạo động lực lan tỏa cho toàn bộ khu vực tư nhân. Tuy nhiên, việc hỗ trợ này cần dựa trên nguyên tắc cạnh tranh minh bạch, tránh hình thành cơ chế xin – cho hoặc ưu đãi mang tính đặc quyền.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả quản trị và thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp.
Hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào thiết kế mà còn gắn chặt với năng lực thực thi và điều phối chính sách. Thực tiễn cho thấy khoảng cách giữa chủ trương và triển khai vẫn là hạn chế đáng chú ý trong phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Do đó, cần đổi mới quản trị chính sách theo hướng tăng cường phối hợp liên ngành, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý và thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá chính sách dựa trên kết quả thực thi. Đồng thời, cần thúc đẩy quản trị số trong quản lý nhà nước, xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp đồng bộ và mở rộng đối thoại chính sách giữa Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp.
4. Kết luận
Quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế trong thời gian qua đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân phát triển cả về số lượng và phạm vi hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách phát triển doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều hạn chế như tính phân mảnh, thiếu đồng bộ, khả năng tiếp cận nguồn lực còn khó khăn và hiệu quả hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn mà quan trọng hơn là đổi mới tư duy và logic chính sách theo hướng kiến tạo phát triển. Điều này đòi hỏi Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và tăng cường liên kết thị trường cho doanh nghiệp tư nhân. Chỉ khi được đặt trong một hệ sinh thái thể chế và chính sách thuận lợi, khu vực kinh tế tư nhân mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Chú thích
1, 2, 3, 5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
4. Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng. https://baochinhphu.vn/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-don-bay-cho-mot-viet-nam-thinh-vuong-10225031716522207.htm.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 96.
Tài liệu tham khảo:
1. Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/03/23/phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam-trong-boi-canh-cach-mang-cong-nghiep-4-0.
2. Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân và thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/18/qua-trinh-nhan-thuc-cua-dang-cong-san-viet-nam-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-va-thuc-tien-tai-tp-ho-chi-minh-hien-nay.
3. Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam. https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/mot-so-van-de-ly-luan-thuc-tien-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam.



