Không thể gọi kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên”

The era of Vietnam’s rise cannot be called an “era of pluralistic democracy”

TS. Đại tá. Đoàn Đức Khánh
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” là sự khẳng định thế và lực mới của Việt Nam sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, cổ súy cho “dân chủ đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài viết tập trung nhận diện bản chất các luận điệu sai trái, khẳng định cơ sở lý luận và thực tiễn của “kỷ nguyên vươn mình”; đồng thời làm rõ sự kiên định thể chế chính trị nhất nguyên, không lựa chọn “dân chủ đa nguyên”, bởi đó là yêu cầu khách quan bảo đảm ổn định chính trị, phát triển bền vững và giữ vững lợi ích quốc gia, dân tộc.

Từ khóa: Kỷ nguyên; Đảng Cộng sản Việt Nam; dân chủ; thù địch.

Abstract: The “era of national rejuvenation” affirms Vietnam’s new strength and standing after 40 years of renewal under the Party’s leadership. However, hostile forces exploit this issue to distort the truth and promote “pluralistic democracy” and “multi-party opposition,” aiming to deny the Party’s leadership role and the path toward socialism in Vietnam. This article focuses on identifying the nature of these erroneous arguments, affirming the theoretical and practical foundations of the “era of resurgence” while clarifying the steadfast commitment to a unitary political system and the rejection of “pluralistic democracy,” as this is an objective requirement to ensure political stability, sustainable development, and the safeguarding of national and ethnic interests.

Keywords: Era; Party; democracy; hostility.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, mỗi giai đoạn chuyển mình quan trọng của đất nước đều gắn liền với những bước ngoặt lớn về tư duy, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển của quốc gia. Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử mới để bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và toàn diện hơn trên cơ sở những thành tựu to lớn đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ thực tiễn đó, khái niệm “kỷ nguyên mới”, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được đề cập và phổ biến rộng rãi trong đời sống chính trị – xã hội nước ta qua nhiều bài viết, phát biểu, nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo các cấp, các nhà khoa học ở các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế nhằm khẳng định thế và lực mới của đất nước, đồng thời, thể hiện khát vọng phát triển hùng cường của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã ra sức xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa và bản chất của “kỷ nguyên vươn mình”. Chúng cố tình đồng nhất khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam với yêu cầu phải thực hiện “dân chủ đa nguyên”, “đa đảng đối lập”; luận điệu của các đối tượng tập trung vào các nội dung: Không có cái gọi là “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”; Việt Nam không có điều kiện và tiền đề để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới; kỷ nguyên mới chỉ là “chiêu trò mị dân”, không rõ cách thức, phương hướng để bước vào kỷ nguyên mới. Mục tiêu của chúng là làm cho các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên, hoang mang, dao động, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng mọi thắng lợi của dân tộc đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Vì vậy, đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” thành “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên” không chỉ là yêu cầu cấp thiết trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và định hướng phát triển đất nước

2. Những luận điệu cổ súy kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên”

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” là khái niệm phản ánh tầm nhìn chiến lược, khát vọng phát triển và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tuy nhiên, ngay khi khái niệm này xuất hiện, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã lập tức lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo bản chất vấn đề với hình thức tinh vi, nguy hiểm, nhằm thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, gây mất ổn định chính trị – xã hội và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Thứ nhất, các thế lực thù địch phản động cho rằng nguyên nhân của sự kém phát triển là do sự lãnh đạo của một đảng duy nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên các trang truyền thông thiếu thiện chí ở nước ngoài: đài RFA, VOA, đài Chân trời mới, trang web, fanpage của các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Ủy ban cứu trợ người vượt biển… và số đối tượng chống đối chính trị trong nước đưa nhiều tin, bài như: “Tập hợp dân chủ đa nguyên và kỷ nguyên mới của đất nước”; “Không thể bắt đầu kỷ nguyên mới bằng cách lặp lại một thảm họa cũ của đất Nước!”; “Việt Nam đang ở đâu và tương lai nào cho đất nước?” và “Dân tộc Việt Nam đang lâm bệnh và đã chết lâm sàng?”. Các bài viết này cổ súy cho các hoạt động phản động, bày trò để tập hợp dân chủ đa nguyên và thúc đẩy việc thực hiện dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Chúng ngụy biện rằng “điểm nghẽn của điểm nghẽn” hiện nay chính là vai trò lãnh đạo của Đảng, từ đó kêu gọi rằng đã đến lúc phải xóa bỏ “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Chúng tìm cách kêu gọi xóa bỏ nền tảng chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Dụng ý của chúng là tập hợp các phần tử phản động thực hiện dân chủ đa nguyên, chứ không phải là Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như Điều 4 của Hiến pháp năm 2013.

Đây thực sự là những âm mưu chính trị hết sức nguy hiểm. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm giữa đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với thay đổi chế độ chính trị; giữa việc hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia với việc phủ nhận vai trò cầm quyền của Đảng. Mục tiêu của chúng là tạo ra đối lập chính trị, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam sang thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Thứ hai, các thế lực phản động cổ súy “đa nguyên, đa đảng” như một điều kiện tiên quyết cho dân chủ và phát triển.  Chúng quy kết rằng ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo thì không hề có dân chủ, sẽ đưa đất nước, dân tộc đi vào ngõ cụt; tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam “là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam”. Chúng ra sức tuyên truyền chế độ một đảng là không dân chủ: “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”; “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ” và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”, “chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng, là mục tiêu cao nhất mà loài người đang đi tới”.

Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động phản ánh sự nông cạn, phiến diện, áp đặt và phản khoa học. Trên thực tế, dân chủ không phải là một khái niệm trừu tượng hay bất biến mà luôn gắn với các điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị và trình độ phát triển của từng quốc gia. Không có mô hình dân chủ nào được coi là “khuôn mẫu chung” cho mọi dân tộc. Việc lấy mô hình chính trị phương Tây để áp đặt lên Việt Nam là sự phủ nhận quyền tự quyết của các quốc gia trong việc lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia.

Thực tiễn thế giới cho thấy, không phải quốc gia đa đảng nào cũng ổn định và phát triển. Nhiều nước rơi vào khủng hoảng chính trị, xung đột xã hội và chia rẽ dân tộc kéo dài do cạnh tranh quyền lực giữa các đảng phái. Trong khi đó, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, duy trì tăng trưởng kinh tế và không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân. Điều đó cho thấy vấn đề cốt lõi của phát triển không nằm ở việc có “đa đảng” hay không mà ở năng lực lãnh đạo, quản trị quốc gia và mức độ gắn bó với lợi ích của Nhân dân.

Thứ ba, các thế lực thù địch ngụy tạo “xu hướng tất yếu” phải đa nguyên hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Các đối tượng chống phá còn đưa ra luận điệu rằng “đa nguyên chính trị” là xu hướng tất yếu của thời đại, rằng Việt Nam muốn hội nhập quốc tế sâu rộng thì phải chấp nhận “đa đảng”, “xã hội dân sự kiểu phương Tây” và từ bỏ mô hình chính trị hiện nay. Chúng viện dẫn việc trước năm 1945 ở Việt Nam từng tồn tại nhiều tổ chức, đảng phái chính trị để ngụy biện rằng thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay là “không phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, chế độ một đảng lãnh đạo là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” và một đảng cầm quyền “không thể có dân chủ, chỉ có đa đảng mới có cạnh tranh công bằng và minh bạch trong điều hành đất nước”; việc tái lập đa đảng là “phù hợp với lịch sử” và “xu thế phát triển tất yếu”.

Đây là sự xuyên tạc lịch sử và cố tình phủ nhận thực tiễn cách mạng của Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình đấu tranh, sàng lọc nghiêm khắc trong lịch sử dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để tập hợp, lãnh đạo toàn dân tộc giành độc lập, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới thành công. Vai trò lãnh đạo đó được khẳng định bằng thực tiễn lịch sử và được nhân dân lựa chọn, thừa nhận.

Hơn nữa, hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với việc hòa tan hay từ bỏ bản sắc chính trị của dân tộc. Việt Nam chủ động hội nhập nhưng luôn kiên định độc lập, tự chủ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Không có bất kỳ quy định hay “chuẩn mực quốc tế” nào buộc các quốc gia phải thực hiện đa nguyên chính trị mới được coi là dân chủ hay hội nhập. Việc các thế lực thù địch cố tình gắn hội nhập với yêu cầu “đa nguyên hóa” thực chất nhằm tạo áp lực chính trị, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chế độ từ bên trong.

Chúng ta khẳng định những luận điệu thù địch, xuyên tạc, dù được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu trung, các luận điệu xuyên tạc “kỷ nguyên vươn mình” thành “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên” đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bởi lẽ, chúng hiểu rằng khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao, niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ sẽ tiếp tục được củng cố. Vì vậy, chúng tìm cách phủ nhận ý nghĩa của “kỷ nguyên vươn mình”, gieo rắc tâm lý hoài nghi, kích động tư tưởng bất mãn và tạo ra sự dao động chính trị trong xã hội. Do đó, việc nhận diện đúng bản chất của các luận điệu sai trái, thù địch hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn là nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững ổn định chính trị – xã hội và định hướng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

3. Đập tan luận điệu cổ súy kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là “kỷ nguyên dân chủ đa nguyên”

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không phải là một khẩu hiệu mang tính tuyên truyền đơn thuần, càng không phải sự lạc quan duy ý chí như các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Đó là kết quả của cả một tiến trình lịch sử lâu dài được hun đúc bằng trí tuệ, bản lĩnh, ý chí độc lập tự cường và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, đây cũng là sự khẳng định về tầm vóc, vị thế và năng lực mới của đất nước sau 40 năm đổi mới. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã và đang chứng minh rằng chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam mới có đủ điều kiện, tiền đề và sức mạnh để bước vào kỷ nguyên phát triển mới với niềm tin, khí thế và quyết tâm mạnh mẽ.

Một là, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là cơ sở chính trị căn bản bảo đảm cho dân tộc bước vào kỷ nguyên mới. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với đất nước là lựa chọn tất yếu của lịch sử, thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Thực thi vai trò cầm quyền, Đảng đại diện cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định “vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là nhân tố hàng đầu, then chốt quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1. Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là xây dựng một nước Việt Nam với dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với phương châm: ngoài lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, Đảng không có lợi ích gì khác. Chính vì vậy, từ ngày thành lập cho đến nay, Đảng luôn nhận được sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân một lòng, một dạ đi theo Đảng làm cách mạng. Đây là cơ sở chính trị – xã hội vững chắc mà không một lực lượng chính trị đối lập nào có thể thay thế hay phủ nhận.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; huy động, tập trung mọi nguồn lực để đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới hết sức quan trọng nhưng cũng rất nặng nề. Bên cạnh những thuận lợi và thời cơ, dân tộc ta phải đương đầu với không ít khó khăn và thách thức. Đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế do Đảng khởi xướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện rất phù hợp với nhịp bước của thời đại. Thành công của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đã làm thay đổi rõ rệt diện mạo đất nước, tăng cường xung lực cho đời sống xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Đất nước ta ngày càng lớn mạnh, vững chắc, tạo ra thế và lực mới để vươn tầm, sánh vai cùng bạn bè và các nước trên thế giới.

Thực tiễn đó bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng chế độ một đảng lãnh đạo là nguyên nhân cản trở sự phát triển của đất nước. Ngược lại, chính sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt và kiên định của Đảng đã tạo nên sự ổn định chính trị, là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại. Trong bối cảnh thế giới đang biến động nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, nhiều quốc gia rơi vào bất ổn chính trị, xung đột xã hội do chia rẽ đảng phái thì Việt Nam vẫn giữ vững ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng, nâng cao đời sống nhân dân và không ngừng mở rộng vị thế quốc tế. Điều đó càng khẳng định tính ưu việt của mô hình chính trị hiện nay ở Việt Nam.

Hai là, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chứ không phải lựa chọn “dân chủ đa nguyên”. Đảng đã chỉ ra một trong những bài học kinh nghiệm, đó là “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, lấy phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân; bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc”2.

Đảng và Nhân dân Việt Nam có được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính là nhờ Đảng đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tập hợp, hội tụ và kết tinh sức mạnh của cả dân tộc, tạo nên động lực cách mạng vô cùng to lớn được lịch sử ghi nhận và các lực lượng tiến bộ, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đồng tình ủng hộ. Từ đó khẳng định “kỷ nguyên vươn mình” hoàn toàn không phải là sự sao chép mô hình phát triển phương Tây hay đồng nghĩa với “đa nguyên hóa chính trị” như các thế lực phản động cổ súy. Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị nhất nguyên. Đó không chỉ là lựa chọn mang tính lịch sử mà còn là yêu cầu khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Thực tế đã chứng minh rằng, không có công thức chung nào cho sự phát triển của mọi quốc gia. Dân chủ không đồng nhất với đa đảng; càng không thể lấy mô hình chính trị phương Tây làm “thước đo chuẩn mực” cho tất cả các quốc gia, dân tộc. Mỗi nước có điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và đặc điểm chính trị riêng. Đối với Việt Nam, sự ổn định chính trị, đoàn kết dân tộc và vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng chính là những nhân tố cốt lõi tạo nên sức mạnh phát triển bền vững. Nếu phủ nhận vai trò đó, đất nước có nguy cơ rơi vào chia rẽ chính trị, mất ổn định xã hội và lệ thuộc vào bên ngoài.

Các thế lực thù địch thường cố tình đánh tráo khái niệm giữa đổi mới và thay đổi chế độ chính trị. Tuy nhiên, đổi mới ở Việt Nam không bao giờ đồng nghĩa với việc từ bỏ chủ nghĩa xã hội hay chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Đổi mới là quá trình phát triển tư duy lý luận sáng tạo; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân,… Đó là sự đổi mới nhằm củng cố và hoàn thiện chế độ, chứ không phải phủ nhận nền tảng chính trị của đất nước như các thế lực chống phá vẫn thường rêu rao bịa đặt là hoàn toàn phi lý.

Ba là, giữ vững thể chế chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam càng cần giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị, kiên định bản lĩnh và con đường phát triển riêng. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không chỉ cần tăng trưởng kinh tế mà còn phải giữ được ổn định chính trị, sự đồng thuận xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc. Đây chính là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Việt Nam đặt mục tiêu bước vào kỷ nguyên mới không phải là một hành động chủ quan, duy ý chí, mà dựa trên cơ sở đã hội tụ đủ thế và lực để phát triển, vươn mình. Đó là những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong thời kỳ mới.

Việc “đổi mới thể chế chính trị”, thực hiện dân chủ đa nguyên, tổ chức xã hội dân sự không bao giờ và không khi nào là “lối đi” của chúng ta; càng không phải là Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn “cần phải” thực hiện “chuyển đổi thể chế và trở thành một quốc gia tự do, dân chủ, phù hợp với các giá trị phương Tây” như các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động hô hào. Do đó, một điều chắc chắn Việt Nam sẽ vươn mình trong kỷ nguyên mới, nhưng quyết không thay đổi chế độ chính trị; không từ bỏ con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; không khi nào từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kỉnh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng”3.

Đảng khẳng định Việt Nam tiếp tục đổi mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi nhiều, mang tính thời đại, và đất nước cũng đang bước vào kỷ nguyên mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc; song đó không phải là “con đường toàn trị” như các thế lực thù địch bóp méo. Mà đó là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và bảo đảm, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam chứ không “chấp nhận có những đảng phái đối lập”.

Lựa chọn mang tính sống còn của Việt Nam không phải là dân chủ đa nguyên mà là nhất nguyên – một đảng lãnh đạo, nên chắc chắn không có cái gọi là “chấp nhận dân chủ cùng với tập hợp dân chủ đa nguyên”, tổ chức xã hội dân sự, và càng không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa như các thế lực thù địch đang hằng mơ tưởng. Điều này chứng tỏ quan điểm nhất quán của Đảng và Nhân dân ta về việc thực hiện nguyên tắc nhất nguyên chính trị: chỉ có một đảng lãnh đạo. Vì sự ổn định và phát triển của đất nước, Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập vì thực sự nó không mang lại hạnh phúc, ấm no cho Nhân dân.

4. Kết luận

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là kết tinh của những thành tựu lịch sử, của thế và lực mới mà đất nước đã tạo dựng được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kỷ nguyên ấy không gắn với “dân chủ đa nguyên”, càng không phải là sự chuyển đổi sang mô hình chính trị tư sản phương Tây. Trái lại, đó là kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, độc lập, tự chủ, ổn định, hội nhập và hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam.

Chú thích:
1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 382 – 383, 21, 86.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Thị Hồng Hải (2026). Quản trị công trong kỷ nguyên số. Tạp chí Quản lý nhà nước số 360 (01/2026). DOI: https://doi.org/10.59394/qlnn.360.2026.1403
2. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. https://special.nhandan.vn/ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc/index.html
3. Kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam trong thời đại mới: Mục tiêu và chiến lược cấp bách. https://dangcongsan.org.vn/viet-nam-ky-nguyen-vuon-minh/ky-nguyen-vuon-minh-cua-viet-nam-trong-thoi-dai-moi-muc-tieu-va-chien-luoc-cap-bach.html
4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiến tạo giá trị nền tảng để dân tộc vươn mình trong kỷ nguyên mới. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1166402/xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam%2C-kien-tao-gia-tri-nen-tang-de-dan-toc-vuon-minh-trong-ky-nguyen-moi.aspx
5. Động lực quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. https://daibieunhandan.vn/dong-luc-quan-trong-de-dat-nuoc-vuon-minh-trong-ky-nguyen-moi-10358422.html.