Digital transformation at the People’s Committee of Lang Son Province in the new era
ThS. Lương Văn Đăng
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số ngày càng trở thành một yêu cầu khách quan trong công cuộc hiện đại hóa nền hành chính công, qua đó, nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả điều hành cũng như chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích các tài liệu, bài viết tập trung đánh giá thực trạng chuyển đổi số tại UBND tỉnh Lạng Sơn, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số giai đoạn 2025 – 2030, bao gồm: hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng số, xây dựng dữ liệu số, tăng cường an toàn thông tin và thúc đẩy hợp tác công – tư.
Từ khóa: Chuyển đổi số; chính quyền số; tỉnh Lạng Sơn; cải cách hành chính; dữ liệu số.
Abstract: The digital transformation process has increasingly become a requirement in the modernization of public administration. This evolution aims to enhance management capacity, operational efficiency, and the quality of service provided to citizens and the business community. Based on an analysis of relevant documents, this article evaluates the current state of digital transformation at the provincial People’s Committee, highlighting achievements and limitations. Consequently, it proposes solutions for the 2025 – 2030 period, focusing on: institutional improvement, human resource development, infrastructure investment, data construction, information security, and public-private partnerships.
Keywords: Digital transformation; digital government; Lang Son Province; administrative reform; digital data.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang lan tỏa sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, chuyển đổi số ngày càng khẳng định vai trò là một động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình quản lý, tiết kiệm chi phí mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chất lượng cung ứng dịch vụ công. Đối với các địa phương, chuyển đổi số không đơn thuần là xu hướng tất yếu mà còn mở ra cơ hội lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế số và cải thiện mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, Lạng Sơn – một địa phương có vị trí chiến lược quan trọng, đóng vai trò là cửa ngõ giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc – đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh chuyển đổi số một cách toàn diện. Với lợi thế nổi bật về thương mại biên giới, hệ thống cửa khẩu và tiềm năng phát triển logistics, việc ứng dụng công nghệ số sẽ giúp địa phương nâng cao hiệu quả quản lý, hiện đại hóa hoạt động thương mại, đồng thời khai thác tốt hơn tiềm năng kinh tế cửa khẩu trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
2. Thực trạng chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
2.1. Những kết quả đạt được
Một là, hoàn thiện khung thể chế và định hướng chuyển đổi số.
UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm định hướng và thúc đẩy chuyển đổi số, tiêu biểu là Đề án chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Kế hoạch chuyển đổi số năm 2025. Các văn bản này đã xác định rõ mục tiêu xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số, đồng thời, đề ra các nhiệm vụ cụ thể theo từng giai đoạn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các sở, ngành và địa phương triển khai đồng bộ các hoạt động chuyển đổi số1. Cụ thể, trong xây dựng chính quyền số, cơ quan này phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh Lạng Sơn và Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn triển khai dịch vụ công trực tuyến, số hóa hồ sơ và cải cách hành chính. Trong thực hiện Đề án 06, Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các sở, ngành tích hợp dữ liệu dân cư và định danh điện tử vào các dịch vụ công thiết yếu.
Đối với kinh tế số, Sở Công Thương phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường thúc đẩy thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số trong hoạt động xuất nhập khẩu. Trong lĩnh vực xã hội số, Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Y tế triển khai học liệu số, hồ sơ sức khỏe điện tử và các nền tảng dịch vụ số phục vụ người dân. Nhìn chung, Đề án đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan trong tỉnh phối hợp triển khai chuyển đổi số một cách thống nhất, liên thông và hiệu quả.
Hai là, phát triển chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số.
Nhiều thủ tục hành chính đã được cung cấp trực tuyến mức độ cao, giúp người dân và doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí. Đồng thời, hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử được sử dụng rộng rãi, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý công việc trong các cơ quan nhà nước. Việc ứng dụng chữ ký số trong trao đổi văn bản điện tử cũng được đẩy mạnh, từng bước thay thế văn bản giấy, hướng tới môi trường làm việc không giấy tờ. Tỷ lệ văn bản điện tử được xử lý qua môi trường mạng ngày càng tăng cho thấy, sự chuyển biến tích cực trong hoạt động hành chính2; đặc biệt là việc triển khai đồng bộ hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến trên phạm vi toàn tỉnh. Theo Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn năm 2025, tỉnh đặt mục tiêu duy trì và nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến, phấn đấu 100% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ mật), đồng thời, đẩy mạnh sử dụng chữ ký số chuyên dùng trong hoạt động quản lý, điều hành3.
Ngoài ra, hệ thống đánh giá phục vụ người dân và doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn cho thấy, các chỉ số liên quan đến dịch vụ công trực tuyến, tiến độ giải quyết hồ sơ và số hóa hồ sơ đều đạt mức khá cao. Trong đó, chỉ số tiến độ giải quyết hồ sơ đạt khoảng 17,5/20 điểm; chỉ số dịch vụ công trực tuyến đạt khoảng 9,8/12 điểm; chỉ số số hóa hồ sơ đạt khoảng 17,1/22 điểm. Những kết quả này phản ánh sự chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số của tỉnh Lạng Sơn4.
Ba là, từng bước xây dựng và khai thác dữ liệu số.
Tỉnh Lạng Sơn bắt đầu xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và từng bước hình thành hệ thống dữ liệu dùng chung. Một số lĩnh vực như đất đai, dân cư, doanh nghiệp đã có sự kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu vẫn chủ yếu phục vụ quản lý nội bộ, chưa phát huy hết giá trị trong việc hỗ trợ ra quyết định và phát triển kinh tế – xã hội. Cụ thể: theo Đề án chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2030, cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh đã được triển khai trên phần mềm iLIS do VNPT cung cấp. Hệ thống này đã kết nối, liên thông với hệ thống thông tin của cơ quan Thuế và hệ thống dịch vụ công của tỉnh; đồng thời, tiếp tục kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Đề án 06.
Trong lĩnh vực dân cư và dịch vụ công, tỉnh đẩy mạnh tích hợp dữ liệu dân cư với các thủ tục hành chính thiết yếu, phục vụ xác thực điện tử và giải quyết hồ sơ trực tuyến. UBND tỉnh cũng triển khai Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030, xác định nhiệm vụ xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch nhấn mạnh việc phát triển dữ liệu dùng chung, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm để nâng cao hiệu quả quản trị và cung cấp dịch vụ công5. Dữ liệu doanh nghiệp cũng từng bước được số hóa và tích hợp trong hoạt động quản lý nhà nước. Toàn tỉnh từ đầu năm đến hết tháng 11/2025, có 879 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 6.551 tỷ đồng6; các hoạt động đăng ký doanh nghiệp, hỗ trợ sản xuất – kinh doanh và thương mại điện tử đều được triển khai trên nền tảng số.
Tuy nhiên, mặc dù các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã được hình thành và bước đầu kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, việc khai thác dữ liệu hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ công tác quản lý hành chính nội bộ. Việc phân tích dữ liệu lớn, chia sẻ dữ liệu liên ngành và ứng dụng dữ liệu trong dự báo, hỗ trợ ra quyết định phát triển kinh tế – xã hội vẫn chưa được khai thác hiệu quả, chưa phát huy đầy đủ giá trị của tài nguyên dữ liệu số trong quản trị địa phương.
Bốn là, nhận thức về chuyển đổi số được nâng cao.
Nhận thức của lãnh đạo và cán bộ, công chức về vai trò của chuyển đổi số đã có sự chuyển biến rõ rệt. UBND tỉnh thường xuyên tổ chức các hội nghị, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ. Tỉnh thường xuyên tổ chức các hội nghị quán triệt, lớp tập huấn và chương trình bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp. Nội dung tập huấn tập trung vào: kỹ năng sử dụng hệ thống quản lý văn bản và điều hành điện tử; kỹ năng sử dụng chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến; kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung; kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin mạng; triển khai Đề án 06 và ứng dụng dữ liệu dân cư; nâng cao nhận thức về chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Bên cạnh đó, các chương trình “Bình dân học vụ số” và phổ cập kỹ năng số cũng được triển khai rộng rãi trong các cơ quan hành chính nhà nước. Kế hoạch thực hiện phong trào năm 2025 đặt mục tiêu: có 80% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có hiểu biết về chuyển đổi số, kỹ năng số trong năm 2025; đến năm 2026 đạt 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng tốt các nền tảng và dịch vụ số phục vụ công việc; kết hợp cùng với các doanh nghiệp công nghệ, như: VNPT, Viettel trong việc hướng dẫn sử dụng nền tảng số và bảo đảm hạ tầng kỹ thuật.
Việc tổ chức thường xuyên các lớp bồi dưỡng và cập nhật kỹ năng số đã góp phần nâng cao rõ rệt nhận thức và năng lực chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh, góp phần tạo nền tảng quan trọng để triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số một cách hiệu quả hơn.
2.2. Những hạn chế, tồn tại trong quá trình chuyển đổi số tại Lạng Sơn
(1) Về hạ tầng số chưa đồng bộ. Mặc dù đã được đầu tư, nhưng hạ tầng công nghệ thông tin tại một số cơ quan, địa phương vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực vùng sâu, vùng xa. Tốc độ đường truyền chưa ổn định, thiếu đồng bộ giữa các hệ thống, gây ảnh hưởng đến việc triển khai các dịch vụ số và kết nối dữ liệu.
Báo cáo chuyển đổi số của UBND tỉnh cũng cho thấy, mặc dù 100% cơ quan hành chính đã được kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng, nhưng năng lực hạ tầng tại cấp xã còn chênh lệch lớn; nhiều địa phương chưa đáp ứng yêu cầu triển khai đồng thời các nền tảng số, hội nghị trực tuyến và xử lý hồ sơ điện tử dung lượng lớn. Một số khu vực vùng cao còn xảy ra tình trạng mất kết nối hoặc tín hiệu không ổn định, đặc biệt khi triển khai dịch vụ công trực tuyến và khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ số hóa hồ sơ và hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai cơ sở dữ liệu chuyên ngành và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, tỉnh vẫn gặp khó khăn do hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ giữa các hệ thống phần mềm của các sở, ngành. Việc thiếu các trung tâm dữ liệu quy mô lớn, thiếu hạ tầng lưu trữ và phân tích dữ liệu hiện đại cũng làm hạn chế khả năng khai thác dữ liệu phục vụ quản trị và điều hành phát triển kinh tế – xã hội.
(2) Dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông. Một trong những hạn chế lớn là tình trạng dữ liệu còn phân tán ở nhiều cơ quan, chưa được chuẩn hóa, chia sẻ hiệu quả. Việc thiếu cơ chế để thực hiện kết nối, liên thông dữ liệu dẫn đến trùng lặp thông tin, gây khó khăn trong công tác quản lý và ra quyết định. Đây là điểm nghẽn phổ biến trong quá trình chuyển đổi số của nhiều địa phương, trong đó có Lạng Sơn.
Theo Đề án chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2030, mặc dù tỉnh đã xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành như đất đai, dân cư, doanh nghiệp, giáo dục và y tế, nhưng việc chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các ngành vẫn còn hạn chế; nhiều hệ thống hoạt động độc lập, thiếu khả năng kết nối và đồng bộ dữ liệu. Điều này dẫn tới tình trạng cùng một thông tin nhưng phải nhập liệu nhiều lần ở các cơ quan khác nhau, làm phát sinh trùng lặp dữ liệu và tăng thời gian xử lý thủ tục hành chính.
Điểm nghẽn cụ thể thể hiện rõ trong quá trình triển khai Đề án 06 và dịch vụ công trực tuyến. Dữ liệu dân cư tuy đã được kết nối bước đầu với một số lĩnh vực như tư pháp, bảo hiểm và y tế, nhưng nhiều thủ tục hành chính vẫn yêu cầu người dân cung cấp lại giấy tờ do hệ thống dữ liệu của các cơ quan chưa đồng bộ hoàn toàn. Một số phần mềm chuyên ngành được triển khai ở các sở, ngành khác nhau nhưng sử dụng tiêu chuẩn kỹ thuật không thống nhất, gây khó khăn cho việc tích hợp vào nền tảng dữ liệu dùng chung của tỉnh.
Cơ sở dữ liệu địa chính điện tử đã được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh nhưng tiến độ số hóa hồ sơ còn chậm, dữ liệu chưa đầy đủ và chưa đồng bộ hoàn toàn với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Điều này ảnh hưởng đến việc giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác minh thông tin và chia sẻ dữ liệu với cơ quan thuế, tư pháp hoặc ngân hàng.
Ngoài ra, vẫn còn thiếu một trung tâm dữ liệu và nền tảng phân tích dữ liệu tập trung đủ mạnh để phục vụ công tác điều hành, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Phần lớn dữ liệu mới được khai thác phục vụ quản lý nội bộ từng ngành, chưa hình thành được hệ sinh thái dữ liệu liên thông toàn tỉnh. Đây chính là “điểm nghẽn” cốt lõi khiến dữ liệu số chưa phát huy đầy đủ giá trị trong phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số tại Lạng Sơn
(3) Nguồn nhân lực số của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể nhưng vẫn còn thiếu về chất lượng chuyên sâu. Toàn tỉnh đã cấp khoảng 36.870 tài khoản thư điện tử công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan nhà nước; tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng thư điện tử trong xử lý công việc đạt trên 90%. Đây được xem là chỉ số phản ánh mức độ thích ứng và sử dụng môi trường số trong hoạt động hành chính7. Nhiều cán bộ kiêm nhiệm công nghệ thông tin, thiếu nhân lực chuyên sâu về dữ liệu số, an toàn thông tin và quản trị hệ thống. Đây được xác định là một trong những “điểm nghẽn” ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng chuyển đổi số tại địa phương8.
Đội ngũ cán bộ, công chức tuy đã được đào tạo nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế về kỹ năng số, đặc biệt là khả năng khai thác và sử dụng dữ liệu. Bên cạnh đó, tỉnh còn thiếu đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin có trình độ cao để triển khai và vận hành các hệ thống lớn.
(4) Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến chưa cao. Mặc dù đã cung cấp nhiều dịch vụ công trực tuyến nhưng tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu là do thói quen sử dụng dịch vụ truyền thống, kỹ năng số của người dân còn hạn chế và chất lượng một số dịch vụ trực tuyến chưa thực sự thuận tiện.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược đầu tư hạ tầng số theo hướng tập trung, tránh dàn trải. UBND tỉnh cần rà soát tổng thể hiện trạng hạ tầng công nghệ thông tin, từ đó xác định rõ các hạng mục ưu tiên đầu tư, bảo đảm tính đồng bộ và kết nối liên thông. Trong đó, cần ưu tiên nâng cấp hệ thống mạng truyền dẫn chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước, bảo đảm kết nối ổn định, an toàn từ cấp tỉnh đến cấp xã. Đồng thời, cần phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông xây dựng lộ trình cụ thể để mở rộng hạ tầng internet băng rộng, đặc biệt, tại các khu vực khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, các xã khó khăn, như các xã vùng biên: xã Ba Sơn và nhiều thôn, bản thuộc xã Đình Lập, Tràng Định, Văn Lãng, Lộc Bình.
Tỉnh cần phát triển mô hình trung tâm dữ liệu tập trung hoặc điện toán đám mây. Việc chuyển đổi từ mô hình hạ tầng phân tán sang tập trung sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu hóa chi phí đầu tư và vận hành, đồng thời, tăng cường khả năng bảo mật thông tin. Trung tâm dữ liệu tập trung cho phép các cơ quan chia sẻ tài nguyên, khai thác dữ liệu hiệu quả hơn, trong khi điện toán đám mây mang lại tính linh hoạt, khả năng mở rộng và thích ứng nhanh với nhu cầu phát triển. Đây là xu hướng tất yếu trong xây dựng chính quyền số hiện nay.
Đối với Lạng Sơn, việc xây dựng trung tâm dữ liệu tập trung hoặc áp dụng điện toán đám mây là cần thiết do đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới, địa bàn rộng và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các địa phương còn chênh lệch. Mô hình này giúp giảm đầu tư dàn trải, tăng khả năng kết nối dữ liệu giữa các sở, ngành và bảo đảm vận hành ổn định các hệ thống số dùng chung. Đồng thời, với vai trò là tỉnh cửa khẩu, nhu cầu xử lý dữ liệu lớn trong quản lý xuất nhập khẩu, dịch vụ công và dữ liệu dân cư đòi hỏi hạ tầng số hiện đại, linh hoạt và an toàn hơn.
Thứ hai, cần đẩy mạnh hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng số. Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, việc huy động sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ và viễn thông là giải pháp hiệu quả. UBND tỉnh có thể xây dựng cơ chế hợp tác linh hoạt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia đầu tư, khai thác và cung cấp dịch vụ hạ tầng số. Thông qua đó, không chỉ nâng cao chất lượng hạ tầng mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tận dụng được kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến từ khu vực tư nhân.
Đối với tỉnh Lạng Sơn, mô hình hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng số nên được ưu tiên triển khai tại các khu vực còn hạn chế về kết nối như các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thuộc xã Đình Lập, Lộc Bình, Tràng Định, Văn Lãng và khu vực cửa khẩu của tỉnh. Đây là những địa bàn còn khó khăn về hạ tầng viễn thông, internet băng rộng và trung tâm dữ liệu số. UBND tỉnh có thể phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông, như: VNPT, Viettel và MobiFone để đầu tư mở rộng mạng cáp quang, trạm BTS 4G/5G, trung tâm dữ liệu và nền tảng điện toán đám mây. Trong đó, tỉnh đóng vai trò hỗ trợ quy hoạch, quỹ đất, cơ chế, chính sách và kết nối nhu cầu sử dụng dịch vụ công; doanh nghiệp chịu trách nhiệm đầu tư công nghệ, vận hành và bảo trì hệ thống. Việc thực hiện có thể theo lộ trình: (1) Rà soát các “vùng lõm” về sóng và internet; (2) Lựa chọn địa bàn ưu tiên đầu tư; (3) Ký kết thỏa thuận hợp tác giữa tỉnh và doanh nghiệp; (4) Triển khai thí điểm hạ tầng số tại một số xã biên giới hoặc trung tâm hành chính; (5) Mở rộng toàn tỉnh.
Ngoài hạ tầng viễn thông, tỉnh cũng có thể hợp tác với doanh nghiệp công nghệ để xây dựng trung tâm điều hành thông minh (IOC), cơ sở dữ liệu dùng chung, nền tảng cửa khẩu số và hệ thống giám sát an toàn thông tin. Cách làm này vừa giảm áp lực ngân sách nhà nước, vừa tận dụng được công nghệ, nhân lực và kinh nghiệm quản trị hiện đại từ khu vực tư nhân.
Thứ ba, khắc phục hạn chế về dữ liệu phân tán, thiếu liên thông.
Dữ liệu được xem là “trái tim” của chuyển đổi số, là nguồn tài nguyên quan trọng phục vụ công tác quản lý, điều hành và ra quyết định. Tuy nhiên, thực tế tại UBND tỉnh Lạng Sơn cho thấy dữ liệu còn phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính kết nối và chia sẻ, làm giảm hiệu quả khai thác. Vì vậy, việc khắc phục tình trạng này cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, mang tính đột phá trong giai đoạn tới. Xây dựng kiến trúc dữ liệu tổng thể cấp tỉnh làm nền tảng cho việc quản lý và khai thác dữ liệu. Kiến trúc này phải xác định rõ các loại dữ liệu, bao gồm cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đồng thời quy định rõ cấu trúc, định dạng và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng thống nhất trên toàn tỉnh. Việc chuẩn hóa dữ liệu không chỉ giúp bảo đảm tính chính xác, nhất quán mà còn là điều kiện tiên quyết để các hệ thống có thể kết nối và trao đổi thông tin một cách hiệu quả.
Tiếp theo, cần ban hành và tổ chức thực thi hiệu quả quy chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Quy chế này cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong việc thu thập, cập nhật, bảo trì và cung cấp dữ liệu. Đồng thời, phải xác định rõ quyền khai thác và cơ chế sử dụng dữ liệu nhằm bảo đảm tính minh bạch, an toàn và hiệu quả. Đặc biệt, cần chuyển đổi tư duy từ “dữ liệu thuộc quyền quản lý riêng của từng cơ quan” sang “dữ liệu là tài sản chung của Nhà nước”, qua đó thúc đẩy văn hóa chia sẻ và khai thác dữ liệu một cách chủ động. Đồng thời, phát triển các nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu (LGSP) cấp tỉnh, đóng vai trò là “trục xương sống” kết nối các hệ thống thông tin. Tiếp tục đẩy mạnh kết nối với các nền tảng và cơ sở dữ liệu quốc gia, từ đó hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công.
Ngoài ra, chú trọng nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, bao gồm: đào tạo cán bộ chuyên trách, xây dựng quy trình quản lý dữ liệu và ứng dụng các công cụ phân tích dữ liệu. Từ đó, dữ liệu không chỉ dừng lại ở việc lưu trữ mà còn trở thành nguồn lực quan trọng hỗ trợ ra quyết định và hoạch định chính sách.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số.
Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi số trong cơ quan hành chính nhà nước. Việc phát triển nguồn nhân lực số cần được xác định là giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài. Trong đó, xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng số phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đối với lãnh đạo, cần tập trung vào nâng cao nhận thức, tư duy số và kỹ năng ra quyết định dựa trên dữ liệu. Đối với cán bộ chuyên môn, cần đào tạo kỹ năng sử dụng thành thạo các hệ thống thông tin, dịch vụ công trực tuyến và phần mềm quản lý. Đối với đội ngũ kỹ thuật, cần chú trọng nâng cao trình độ về quản trị hệ thống, an toàn thông tin và phát triển ứng dụng. Nội dung đào tạo cần gắn với thực tiễn công việc, bảo đảm tính thiết thực và khả năng áp dụng cao, tránh hình thức, dàn trải.
Trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực ngày càng gay gắt, khu vực công thường gặp khó khăn trong việc thu hút chuyên gia giỏi. Do đó, UBND tỉnh cần áp dụng các cơ chế linh hoạt như hợp đồng chuyên gia, thuê dịch vụ công nghệ thông tin, hợp tác với doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo. Đồng thời, có chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo môi trường làm việc thuận lợi để giữ chân nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực triển khai các dự án chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, tiếp tục thúc đẩy hình thành văn hóa số trong cơ quan hành chính. Đây là yếu tố mang tính nền tảng, quyết định tính bền vững của chuyển đổi số. Văn hóa số thể hiện ở tinh thần sẵn sàng đổi mới, chấp nhận thay đổi, chủ động học hỏi và ứng dụng công nghệ vào công việc. Để xây dựng văn hóa số, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đồng thời, tạo môi trường khuyến khích sáng tạo, thử nghiệm các mô hình mới. Việc gắn kết quả chuyển đổi số với đánh giá thi đua, khen thưởng cũng là động lực quan trọng thúc đẩy cán bộ tích cực tham gia.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến là một trong những mục tiêu quan trọng của chuyển đổi số trong cơ quan hành chính nhà nước. Thực tế cho thấy, mặc dù nhiều dịch vụ đã được cung cấp ở mức độ cao, nhưng tỷ lệ người dân và doanh nghiệp sử dụng vẫn còn hạn chế. Do đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ cả phía cung và phía cầu nhằm thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến một cách thực chất và hiệu quả.
Về phía cung, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và tái cấu trúc quy trình theo hướng số hóa hoàn toàn. Điều này đòi hỏi phải rà soát, loại bỏ các thủ tục không cần thiết, giảm tối đa các bước trung gian và chuẩn hóa quy trình xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử. Đồng thời, bảo đảm việc xử lý hồ sơ được thực hiện hoàn toàn trực tuyến, hạn chế tối đa việc yêu cầu bổ sung giấy tờ hoặc thực hiện các bước ngoại tuyến. Việc nâng cao chất lượng giao diện và trải nghiệm người dùng của các cổng dịch vụ công là yếu tố rất quan trọng. Giao diện cần thân thiện, dễ sử dụng, tích hợp đa nền tảng (máy tính, điện thoại), hỗ trợ người dùng tra cứu, nộp hồ sơ và theo dõi tiến độ một cách thuận tiện.
Về phía cầu, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Việc tuyên truyền cần được thực hiện đa dạng thông qua các kênh như truyền hình, mạng xã hội, hệ thống truyền thanh cơ sở và các chương trình tập huấn trực tiếp. Đặc biệt, phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng trong việc “cầm tay chỉ việc”, hỗ trợ người dân, nhất là ở khu vực nông thôn, người cao tuổi hoặc người ít tiếp cận công nghệ. Ngoài ra, cần áp dụng các cơ chế khuyến khích phù hợp nhằm thay đổi thói quen của người dân từ sử dụng dịch vụ trực tiếp sang trực tuyến. Có thể xem xét giảm phí, lệ phí đối với hồ sơ nộp trực tuyến, ưu tiên xử lý nhanh hơn hoặc tích hợp thêm các tiện ích như thanh toán điện tử, trả kết quả tại nhà. Những chính sách này sẽ tạo động lực rõ rệt, thúc đẩy người dân và doanh nghiệp chủ động sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, cần tập trung đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và kết quả cụ thể. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các sở, ban, ngành và UBND cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số tại đơn vị mình; đặc biệt, đưa các tiêu chí về chuyển đổi số vào hệ thống đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu, gắn với công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật. Điều này sẽ tạo áp lực tích cực, buộc lãnh đạo các cấp phải chủ động, quyết liệt hơn trong triển khai.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống đánh giá, xếp hạng mức độ chuyển đổi số (DTI) đối với các sở, ngành và địa phương. Hệ thống này cần dựa trên các tiêu chí cụ thể, định lượng, phản ánh đầy đủ các khía cạnh, như: hạ tầng số, dữ liệu số, dịch vụ công trực tuyến, nguồn nhân lực và mức độ ứng dụng công nghệ. Việc đánh giá định kỳ và công bố kết quả xếp hạng không chỉ giúp cơ quan quản lý có cái nhìn toàn diện về mức độ chuyển đổi số của từng đơn vị mà còn tạo động lực cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ quan, thúc đẩy cải thiện hiệu quả thực hiện. Các quyết định quản lý cần được hỗ trợ bởi hệ thống dữ liệu chính xác, kịp thời, giúp nâng cao chất lượng và tính khoa học trong điều hành. Việc xây dựng các trung tâm điều hành thông minh (IOC) cũng là một hướng đi cần được quan tâm, góp phần tích hợp dữ liệu từ nhiều lĩnh vực, hỗ trợ lãnh đạo đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả.
Thứ bảy, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.
Việc bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trở thành yêu cầu bắt buộc, có ý nghĩa sống còn đối với sự thành công của chuyển đổi số. Vì vậy, tỉnh cần chú trọng việc xây dựng và vận hành hệ thống giám sát, cảnh báo an toàn thông tin ở cấp tỉnh. Hệ thống này có chức năng theo dõi, phát hiện sớm các nguy cơ tấn công mạng, từ đó đưa ra cảnh báo và biện pháp xử lý kịp thời. Việc thiết lập trung tâm giám sát an toàn thông tin (SOC) sẽ giúp nâng cao khả năng bảo vệ hệ thống và giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra sự cố; đồng thời, tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức về an ninh mạng cho đội ngũcán bộ, công chức, theo đó cần trang bị kiến thức về bảo mật, kỹ năng nhận diện các nguy cơ như lừa đảo trực tuyến, mã độc… cho đội ngũ này để xử lý sự cố và ứng phó hiệu quả khi xảy ra tình huống rủi ro.
Việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo mật trong quản lý và khai thác dữ liệu cần được thiết kế và vận hành theo nguyên tắc bảo mật ngay từ đầu, bao gồm kiểm soát truy cập, mã hóa dữ liệu, sao lưu định kỳ và phân quyền rõ ràng. Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn của các hệ thống để kịp thời phát hiện và khắc phục lỗ hổng.
4. Kết luận
Chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong bối cảnh phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đối với UBND tỉnh Lạng Sơn, quá trình chuyển đổi số trong thời gian qua đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận, đặc biệt, trong việc xây dựng chính quyền điện tử, triển khai dịch vụ công trực tuyến và từng bước hình thành nền tảng dữ liệu số. Các chủ trương, kế hoạch và đề án được ban hành đã tạo cơ sở quan trọng cho việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Việc nhanh chóng triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt và phù hợp với điều kiện thực tiễn, tỉnh Lạng Sơn hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu xây dựng chính quyền số hiện đại, minh bạch và hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững của tỉnh trong giai đoạn tới.
Chú thích:
1. UBND tỉnh Lạng Sơn (2024). Đề án chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
2, 8. UBND tỉnh Lạng Sơn (2025). Báo cáo tổng kết chuyển đổi số năm 2024 và phương hướng năm 2025.
3, 4, 7. UBND tỉnh Lạng Sơn (2024). Kế hoạch chuyển đổi số năm 2025 (Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 06/11/2024)
5. UBND tỉnh Lạng Sơn (2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2024
6. Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Lạng Sơn tháng 12, Quý IV, năm 2025. https://thongkelangson.nso.gov.vn/bao-cao-kinh-te-xa-hoi-nam/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tinh-lang-son-thang-12-quy-iv-nam-2025-524.html
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2021). Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021–2030
2. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
3. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
4. UBND tỉnh Lạng Sơn (2024). Quyết định số 1878/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 ban hành Đề án Chuyển đổi số tỉnh Lạng Sơn đến năm 2030.
5. UBND tỉnh Lạng Sơn (2025). Kế hoạch số 96/KH-UBND ngày 02/4/2025 về triển khai thực hiện Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
6. UBND tỉnh Lạng Sơn (2024). Kế hoạch số 153/KH-UBND năm 2024 nhằm triển khai Chiến lược dữ liệu quốc gia đến năm 2030
7. World Bank (2021). GovTech Maturity Index: The State of Public Sector Digital Transformation. Washington, D.C.



