Innovating state management of textbooks from a complexity thinking perspective: a case study of Economic and Legal Education at the upper secondary level
ThS. Ngô Bích Đào
Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về sách giáo khoa trung học phổ thông từ góc tiếp cận tư duy phức hợp của Edgar Morin, minh họa qua môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Chất lượng sách giáo khoa không chỉ phụ thuộc vào việc biên soạn và thẩm định ban đầu mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức toàn bộ chu trình quản trị: định chuẩn, phê duyệt, cung ứng, sử dụng, phản hồi, cập nhật và giải trình. Trên cơ sở phân tích chính sách hiện hành, bài viết đề xuất chuyển từ quản lý sách giáo khoa như một ấn phẩm đóng sang quản trị sách giáo khoa như một hệ sinh thái học liệu công, chuẩn quốc gia, học liệu mở, học liệu số và cơ chế hậu kiểm dựa trên dữ liệu.
Từ khóa: Quản lý nhà nước; sách giáo khoa; tư duy phức hợp; học liệu số; Giáo dục Kinh tế và Pháp luật; giáo dục phổ thông.
Abstract: The article examines the need to renew state management of upper-secondary textbooks in Vietnam from the perspective of Edgar Morin’s complex thinking, using Economic and Legal Education as an illustrative case. It argues that textbook quality depends not only on authorship and ex-ante appraisal, but also on how the State governs the whole policy cycle, including standard-setting, approval, distribution, use, feedback, updating, and accountability. The article proposes a shift from managing textbooks as fixed publications to governing them as a public learning-resource ecosystem that combines national standards, open resources, digital materials, and data-driven post-review mechanisms.
Keywords: State management; textbooks; complex thinking; digital learning resources; Economic and Legal Education; general education.
1. Đặt vấn đề
Sách giáo khoa có vị trí đặc biệt trong quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông. Về phương diện chuyên môn, sách giáo khoa cụ thể hóa chương trình, hỗ trợ giáo viên tổ chức hoạt động dạy học và giúp học sinh tiếp cận tri thức cơ bản. Về phương diện quản lý công, sách giáo khoa là công cụ bảo đảm quyền học tập, bình đẳng trong tiếp cận tri thức và trách nhiệm giải trình của Nhà nước về chất lượng giáo dục. Vì vậy, đổi mới sách giáo khoa không đơn thuần là thay đổi nội dung bài học mà là đổi mới cách Nhà nước quản lý tri thức giáo dục trong nhà trường.
Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 chuyển mạnh từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực của người học1. Sự chuyển đổi này làm thay đổi vai trò của sách giáo khoa. Sách không chỉ cung cấp kiến thức đúng và phù hợp với lứa tuổi mà còn phải tạo ra các tình huống học tập, khuyến khích tư duy phản biện, gắn tri thức với đời sống và giúp người học giải quyết vấn đề. Cách quản lý sách giáo khoa, vì thế, cũng cần vượt ra khỏi logic kiểm tra một sản phẩm in trước khi phát hành.
Trong giai đoạn vừa qua, chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa” đã góp phần huy động nguồn lực xã hội, tạo thêm lựa chọn học liệu và mở rộng sự tham gia của giáo viên, nhà trường và địa phương2. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những vấn đề đáng chú ý như sai sót ở một số bản mẫu, áp lực cung ứng vào đầu năm học, chi phí xã hội, khó khăn trong việc lựa chọn sách, hạn chế của cơ chế phản hồi sau khi sử dụng và thiếu dữ liệu công khai phục vụ công tác hậu kiểm3.
Từ năm 2026, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đặt ra định hướng sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông trên cả nước4. Chính sách mới có thể tăng tính đồng bộ, giảm phân mảnh và giúp Nhà nước kiểm soát tốt hơn các chuẩn giáo dục cốt lõi. Tuy nhiên, nếu chỉ chuyển từ “nhiều sách” sang “một cuốn sách” mà không đổi mới tư duy quản lý, hệ thống vẫn có nguy cơ bị chuẩn hóa cứng nhắc, chậm cập nhật và chưa đáp ứng đầy đủ sự đa dạng của bối cảnh giáo dục địa phương.
2. Cơ sở tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích chính sách, phân tích chuẩn tắc – pháp lý và phân tích nội dung. Nguồn tư liệu chính gồm các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chính sách liên quan đến chương trình giáo dục phổ thông, biên soạn, thẩm định, lựa chọn, chỉnh sửa và cập nhật sách giáo khoa; trong đó trọng tâm là Nghị quyết số 88/2014/QH13, Nghị quyết số 51/2017/QH14, Luật Giáo dục năm 2019, Luật số 123/2025/QH15, Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, Thông tư số 33/2017/TT-BGDĐT, Thông tư số 27/2023/TT-BGDĐT và Thông tư số 26/2024/TT-BGDĐT. Bên cạnh đó, bài viết đối chiếu chương trình và cấu trúc học liệu công khai của môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật ở cấp trung học phổ thông nhằm nhận diện các yêu cầu quản lý đặc thù của môn học. Phân tích không nhằm đánh giá toàn bộ các bộ sách hiện hành theo nghĩa kiểm định thực nghiệm mà tập trung làm rõ những yêu cầu quản lý đặt ra đối với một môn học có tính liên ngành, biến động mạnh về bối cảnh và đòi hỏi người học có năng lực xử lý các tình huống xã hội.
Tư duy phức hợp của Edgar Morin được sử dụng như một khung lý luận để soi chiếu vấn đề. Morin cho rằng, tri thức hiện đại thường bị chia cắt thành những mảnh rời, làm suy yếu khả năng hiểu quan hệ giữa bộ phận và chỉnh thể, giữa sự kiện và bối cảnh, giữa trật tự và bất định5. Trong giáo dục, điều này dẫn tới lối dạy học tách khúc, nhấn mạnh việc ghi nhớ tri thức ổn định nhưng chưa đủ năng lực giúp người học hiểu các quan hệ phức hợp của đời sống xã hội.
Vận dụng vào quản lý sách giáo khoa, tư duy phức hợp gợi mở ra 3 nguyên tắc quan trọng. Một là, nguyên tắc đối thoại: thống nhất và đa dạng, chuẩn hóa và linh hoạt, quản lý tập trung và sáng tạo sư phạm không nhất thiết phải loại trừ nhau. Hai là, nguyên tắc đệ quy: sản phẩm của hệ thống phải quay trở lại để được nuôi dưỡng, điều chỉnh và cải thiện chính hệ thống quản lý. Ba là, nguyên tắc toàn ảnh: từng bài học, hình ảnh, ví dụ hoặc tình huống cần được đánh giá trong mối quan hệ với mục tiêu của chương trình, năng lực của người học và bối cảnh xã hội rộng hơn.
3. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về sách giáo khoa
Khung pháp lý hiện hành đã xác lập khá đầy đủ chuỗi quản lý sách giáo khoa: xây dựng chương trình, tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt, lựa chọn hoặc quyết định sử dụng, phát hành, chỉnh sửa và cập nhật. Luật Giáo dục năm 2019 xác định sách giáo khoa là tài liệu chính thức được sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông; các thông tư chuyên ngành tiếp tục cụ thể hóa tiêu chuẩn về việc tổ chức, cá nhân biên soạn, quy trình thẩm định, cơ chế lựa chọn và yêu cầu chỉnh sửa6.
Điểm mới đáng chú ý, Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi Điều 32 theo hướng sách giáo khoa có thể tồn tại dưới dạng sách in, sách chữ nổi Braille và sách điện tử; đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông được sử dụng thống nhất trên toàn quốc7. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để nâng cao vai trò điều phối của Nhà nước, nhưng cũng đặt ra yêu cầu thiết kế cơ chế học liệu linh hoạt hơn, bởi sách điện tử và học liệu số không thể được quản lý hoàn toàn theo logic của ấn phẩm in.
Từ góc độ quản lý công, hạn chế lớn nhất của chuỗi chính sách sách giáo khoa hiện nay là xu hướng tuyến tính. Các khâu biên soạn, thẩm định, phê duyệt, phát hành, sử dụng và chỉnh sửa thường được nhìn như những bước nối tiếp, trong khi phản hồi sau sử dụng chưa trở thành một tầng dữ liệu đầy đủ để điều chỉnh các tiêu chí thẩm định và cải thiện nội dung. Khi phản ánh của giáo viên, học sinh, phụ huynh chủ yếu đi qua kênh hành chính, hệ thống khó tích lũy tri thức về vận hành để học hỏi chính sách.
Một hạn chế khác là tiêu chí thẩm định còn thiên về độ chính xác, độ phù hợp và tính khả thi trong ngắn hạn. Đây là các yêu cầu cần thiết, nhưng chưa đủ đối với sách giáo khoa trong bối cảnh phát triển năng lực. Sách cần được đánh giá thêm về khả năng liên kết hệ thống, năng lực tạo tình huống mở, xử lý xung đột giá trị, bối cảnh hóa theo vùng miền và cập nhật dữ liệu. Với những môn học liên quan đến kinh tế, pháp luật, công nghệ và công dân, nội dung có thể trở nên lạc hậu nhanh chóng nếu không có cơ chế phiên bản hóa và cập nhật thường xuyên. Do đó, bài toán quản lý sách giáo khoa hiện nay không nên được giản lược thành lựa chọn “một sách” hay “nhiều sách”. Vấn đề căn bản hơn là Nhà nước tổ chức hệ thống học liệu như thế nào để đồng thời đạt 3 mục tiêu: bảo đảm chuẩn quốc gia, đáp ứng đa dạng bối cảnh giáo dục và tạo vòng phản hồi liên tục giữa lớp học và cơ quan quản lý.
Bảng 1. Chuyển đổi trọng tâm quản lý sách giáo khoa theo tư duy phức hợp
| Nội dung quản lý | Cách tiếp cận tuyến tính | Cách tiếp cận phức hợp | Hàm ý quản lý nhà nước |
| Mục tiêu quản lý | Kiểm soát sản phẩm sách trước khi phát hành | Quản trị toàn bộ vòng đời học liệu | Kết hợp tiền kiểm, hậu kiểm, cập nhật và giải trình |
| Vai trò sách giáo khoa | Ấn phẩm chính thức, tương đối đóng | Hạt nhân của hệ sinh thái học liệu | Phát triển sách cốt lõi cùng học liệu mở, học liệu số |
| Thẩm định | Rà soát tính đúng, phù hợp, khả thi | Đánh giá liên kết hệ thống, bối cảnh và năng lực vận dụng | Bổ sung tiêu chí về tình huống mở, cập nhật dữ liệu, phản hồi người dùng |
| Phản hồi xã hội | Tiếp nhận phân tán qua kênh hành chính | Dữ liệu đệ quy để cải thiện chính sách | Xây dựng cổng phản hồi, log lỗi, công bố phiên bản cập nhật |
| Quan hệ trung ương – địa phương | Trung ương quyết định, địa phương thực hiện | Thống nhất chuẩn nhưng linh hoạt học liệu bổ trợ | Thiết kế kho học liệu theo vùng dưới chuẩn quốc gia |
4. Trường hợp môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật ở trung học phổ thông
Môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật có vị trí đặc thù trong chương trình trung học phổ thông. Đây là môn học kết nối tri thức kinh tế, pháp luật, giáo dục công dân, đạo đức xã hội và năng lực tham gia vào đời sống công cộng. Nội dung môn học không chỉ giúp học sinh hiểu khái niệm và quy định mà còn hướng tới năng lực ra quyết định trong các tình huống liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm và lựa chọn của công dân8.
Cấu trúc chương trình cho thấy, trục phát triển từ đời sống cá nhân đến xã hội, từ hoạt động kinh tế cơ bản đến chính sách công, từ quyền và nghĩa vụ của công dân đến hội nhập quốc tế. Các chủ đề như thị trường, cạnh tranh, thuế, tín dụng, bảo hiểm, ngân sách nhà nước, quyền dân chủ, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và pháp luật quốc tế đều mang tính liên ngành và gắn với những biến động của thực tiễn. Vì vậy, môn học này là một trường hợp điển hình để thấy rõ giới hạn của cách quản lý sách giáo khoa như một văn bản có nội dung cố định.
Dưới góc nhìn tư duy phức hợp, sách giáo khoa môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật cần đáp ứng 4 yêu cầu.
Thứ nhất, sách phải tạo được bản đồ liên hệ giữa các chủ đề, thay vì trình bày từng bài như những mảng tri thức tách rời. Học sinh cần thấy được mối quan hệ giữa thuế và ngân sách, giữa thị trường lao động và an sinh xã hội, giữa tự do kinh doanh và trách nhiệm xã hội, giữa quyền công dân và Nhà nước pháp quyền.
Thứ hai, sách cần tổ chức các tình huống học tập gắn với bối cảnh xã hội cụ thể. Nếu nội dung về lạm phát, thất nghiệp, tín dụng, bảo hiểm hoặc tiêu dùng chỉ được trình bày ở mức khái niệm, môn học khó phát triển năng lực công dân kinh tế. Ngược lại, nếu mỗi chủ đề được đặt trong một tình huống đời sống, người học có cơ hội phân tích nguyên nhân, hệ quả, lợi ích, rủi ro và các phương án hành động.
Thứ ba, sách phải giúp học sinh xử lý xung đột giữa các giá trị. Đời sống kinh tế – pháp luật luôn chứa những căng thẳng giữa hiệu quả và công bằng, tăng trưởng và tính bền vững, tự do cá nhân và trách nhiệm cộng đồng, quyền riêng tư và an ninh quốc gia. Đây là những nội dung cần được thiết kế như một tình huống tranh luận có căn cứ, thay vì chỉ chuyển hóa thành mệnh đề ghi nhớ.
Thứ tư, sách cần được cập nhật thường xuyên. Các nội dung về thuế, bảo hiểm, thị trường lao động, chuyển đổi số, quyền công dân và pháp luật quốc tế có thể thay đổi theo chính sách và thực tiễn. Do đó, sách giáo khoa in cần đi kèm học liệu số, đường dẫn đến nguồn chính thức, phiên bản cập nhật và cơ chế thông báo về các thay đổi cho giáo viên. Nếu thiếu tầng học liệu động, sách dễ bị cũ hóa, nhất là ở các chủ đề kinh tế và pháp luật.
5. Định hướng đổi mới
Đổi mới quản lý nhà nước về sách giáo khoa cần thực hiện theo công thức: một chuẩn quốc gia – nhiều tầng học liệu – một vòng phản hồi liên tục. “Một chuẩn quốc gia” khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm mục tiêu của chương trình, nội dung cốt lõi, tính khoa học, tính chính trị – pháp lý và tính công bằng trong việc tiếp cận giáo dục. “Nhiều tầng học liệu” cho phép sách giáo khoa cốt lõi được bổ trợ bởi học liệu mở, học liệu số, tình huống theo vùng miền và dữ liệu cập nhật. “Một vòng phản hồi liên tục” biến phản ánh từ lớp học thành dữ liệu phục vụ công tác hậu kiểm và điều chỉnh chính sách. Mô hình này phù hợp với nguyên tắc đối thoại trong tư duy phức hợp: thống nhất không đồng nghĩa với đơn điệu, linh hoạt không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Nhà nước vẫn giữ vai trò định chuẩn, phê duyệt và giám sát; đồng thời tạo không gian để nhà trường, giáo viên, chuyên gia và cộng đồng học thuật đóng góp học liệu bổ trợ trong khuôn khổ chuẩn quốc gia. Điều quan trọng là các tầng học liệu phải có nguồn rõ ràng, được kiểm chứng và được cập nhật theo quy trình công khai.
Đối với môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật, mô hình học liệu nhiều tầng có thể gồm: sách giáo khoa cốt lõi dùng thống nhất; kho tình huống kinh tế – pháp luật theo vùng; học liệu số cập nhật văn bản pháp luật, dữ liệu kinh tế – xã hội và ví dụ thực tiễn; ngân hàng hoạt động thảo luận, mô phỏng, tranh biện; hướng dẫn giáo viên về xử lý tình huống nhạy cảm và xung đột giá trị. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm tính thống nhất của tri thức nền, đồng thời tránh làm nghèo đi sự đa dạng của trải nghiệm học tập.
Điều kiện để mô hình vận hành là phải xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu phản hồi. Mỗi phản ánh về sai sót, khó hiểu, thiếu cập nhật, quá tải, chưa phù hợp với bối cảnh hoặc có khả năng gây hiểu nhầm cần được phân loại, xác minh, xử lý và công bố kết quả. Quá trình này không chỉ phục vụ việc sửa một lỗi cụ thể mà còn giúp cơ quan quản lý nhận diện mẫu hình vấn đề để cải thiện tiêu chí thẩm định, bồi dưỡng giáo viên và thiết kế học liệu.
Bảng 2. Gợi ý tiêu chí bổ sung khi thẩm định sách giáo khoa theo tư duy phức hợp
| Tiêu chí bổ sung | Ý nghĩa quản lý | Chỉ báo gợi ý |
| Liên kết hệ thống | Tránh trình bày tri thức rời rạc, bảo đảm gắn bài học với mục tiêu chương trình | Có ma trận nối mục tiêu – chủ đề – năng lực – bối cảnh; có sơ đồ liên hệ giữa các chủ đề chính |
| Bối cảnh hóa và học liệu vùng miền | Bảo đảm thống nhất chuẩn nhưng vẫn phù hợp điều kiện địa phương | Có tình huống đa vùng; hướng dẫn giáo viên thay thế ví dụ bằng dữ liệu địa phương đã kiểm chứng |
| Xử lý tình huống mở và xung đột giá trị | Phát triển năng lực công dân, năng lực phản biện và ra quyết định | Mỗi chương có tình huống tranh luận hoặc mô phỏng quyết định; nêu rõ câu hỏi phân tích hệ quả |
| Cập nhật và truy xuất nguồn | Giảm nguy cơ lạc hậu, đặc biệt với nội dung kinh tế – pháp luật | Có nguồn chính thức, ngày cập nhật, lịch sử phiên bản và quy trình hiệu chỉnh |
| Cơ chế phản hồi sau sử dụng | Chuyển phản hồi xã hội thành dữ liệu hậu kiểm | Có kênh phản hồi, phân loại lỗi, thời hạn xử lý và công bố kết quả xử lý |
6. Khuyến nghị chính sách
Một là, hoàn thiện bộ tiêu chí thẩm định sách giáo khoa theo hướng hệ thống. Bên cạnh các tiêu chí về tính chính xác, tính sư phạm, tính thẩm mỹ và tính khả thi, cần bổ sung các tiêu chí về liên kết liên ngành, bối cảnh hóa, xử lý tình huống mở, cập nhật dữ liệu và phản hồi sau khi sử dụng. Với môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật, 3 yêu cầu cần được coi là trọng tâm là liên kết kinh tế – pháp luật – công dân, xử lý xung đột giá trị và cập nhật chính sách.
Hai là, thiết lập cổng phản hồi quốc gia về sách giáo khoa. Cổng phản hồi cần cho phép giáo viên, học sinh, phụ huynh, nhà khoa học và cơ sở giáo dục gửi ý kiến theo mẫu chuẩn; phân loại phản ánh thành lỗi nội dung, lỗi kỹ thuật, nội dung thiếu cập nhật, nội dung khó triển khai hoặc kiến nghị bổ sung học liệu. Kết quả xử lý cần được công bố theo từng phiên bản để tạo niềm tin xã hội và tăng trách nhiệm giải trình.
Ba là, xây dựng mô hình sách giáo khoa cốt lõi quốc gia gắn với kho học liệu mở. Sách giáo khoa cốt lõi bảo đảm chuẩn chung, trong khi kho học liệu mở cung cấp tình huống, dữ liệu, ví dụ và hoạt động bổ trợ theo vùng, nhóm đối tượng và điều kiện dạy học. Kho học liệu cần được kiểm duyệt, cấp quyền sử dụng rõ ràng, gắn với nguồn chính thức và có cơ chế cập nhật định kỳ.
Bốn là, tăng tính đa thành phần của hội đồng và quy trình thẩm định. Ngoài chuyên gia môn học và chuyên gia sư phạm, quy trình thẩm định cần có sự tham gia phù hợp của chuyên gia quản lý nhà nước, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia công nghệ giáo dục, giáo viên thực địa và đại diện khảo sát người học. Sự đa thành phần này giúp nhận diện rõ hơn tác động thực tiễn của sách sau khi đưa vào lớp học.
Năm ưu tiên sách giáo khoa điện tử và học liệu số có kiểm soát. Số hóa không nên chỉ là việc chuyển bản in sang tệp điện tử, mà phải bao gồm khả năng cập nhật, truy xuất nguồn, ghi nhận lịch sử chỉnh sửa, liên kết văn bản pháp luật và dữ liệu chính thức. Với môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật, học liệu số có vai trò đặc biệt quan trọng vì nhiều nội dung phụ thuộc trực tiếp vào các thay đổi của chính sách và thực tiễn xã hội.
Sáu là, gắn đổi mới sách giáo khoa với bồi dưỡng giáo viên. Giáo viên cần được hỗ trợ không chỉ để “dạy theo sách”, mà còn để khai thác học liệu mở, tổ chức tranh luận, hướng dẫn học sinh phân tích tình huống, cập nhật dữ liệu pháp luật – kinh tế và gửi phản hồi về chính sách. Nếu thiếu năng lực sư phạm tương ứng, học liệu mở và sách điện tử khó phát huy hiệu quả trong công tác quản lý.
7. Kết luận
Quản lý nhà nước về sách giáo khoa trung học phổ thông đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Việc hướng tới một bộ sách giáo khoa được sử dụng thống nhất trên toàn quốc có thể tăng tính đồng bộ và trách nhiệm giải trình, nhưng chỉ có ý nghĩa bền vững nếu đi kèm với đổi mới trong tư duy quản lý. Trọng tâm của cải cách không chỉ là số lượng bộ sách mà còn là năng lực quản trị toàn bộ hệ sinh thái học liệu, từ thiết kế theo chuẩn quốc gia đến việc sử dụng trong lớp học và phản hồi trở lại chính sách9.
Tư duy phức hợp của Edgar Morin giúp chỉ ra rằng, sách giáo khoa không nên được nhìn như một sản phẩm đóng mà là một cấu phần của hệ thống giáo dục đang vận động. Trong hệ thống đó, chương trình, tri thức môn học, năng lực giáo viên, điều kiện địa phương, công nghệ số, phản hồi xã hội và trách nhiệm giải trình có mối quan hệ tác động qua lại liên tục. Vì vậy, quản lý sách giáo khoa cần kết hợp tiền kiểm với hậu kiểm, thống nhất với linh hoạt, chuẩn hóa với bối cảnh hóa.
Trường hợp môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật cho thấy, môn học liên ngành, giàu tính thời sự và gắn với năng lực công dân không thể phát huy đầy đủ nếu sách giáo khoa chỉ cung cấp khái niệm và quy định. Sách cần giúp học sinh hiểu quan hệ giữa thị trường và Nhà nước, giữa quyền và nghĩa vụ, giữa pháp luật và đạo đức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng. Do đó, đổi mới quản lý nhà nước về sách giáo khoa theo tư duy phức hợp là điều kiện để xây dựng thế hệ học liệu vừa chuẩn hóa, vừa mở, vừa có khả năng tự điều chỉnh theo thực tiễn giáo dục.
Chú thích:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017). Thông tư số 33/2017/TT-BGDĐT ngày 22/12/2017 quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa; tiêu chuẩn tổ chức, cá nhân biên soạn sách giáo khoa; tổ chức và hoạt động của Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa.
2. Quốc hội (2014). Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
3, 4, 7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
5. Morin, E. (1999). Seven complex lessons in education for the future. Paris: UNESCO.
6. Quốc hội (2025). Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2025.
8. Bộ sách Cánh Diều (2022-2024). Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lớp 10, 11, 12.
9. Bài viết được cấp kinh phí bởi Trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội trong khuôn khổ nhiệm vụ KHCN & ĐMST cấp Trường, mã số N.24.24.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Thông tư số 27/2023/TT-BGDĐT ngày 28/12/2023 quy định về việc lựa chọn sách giáo khoa trong cơ sở giáo dục phổ thông.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Thông tư số 26/2024/TT-BGDĐT ngày 25/12/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về tiêu chuẩn và quy trình biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa.
3. Quốc hội (2023). Thông tin giám sát việc thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Cổng thông tin điện tử Quốc hội.
4. Quốc hội (2017). Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 88/2014/QH13.
5. Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (2022-2024). Giáo dục Kinh tế và Pháp luật lớp 10, 11, 12.
6. Morin, E. (2008). On Complexity. Cresskill, NJ: Hampton Press.
7. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục – chìa khóa kiến tạo quốc gia thịnh vượng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/08/28/bai-3-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-giao-duc-chia-khoa-kien-tao-quoc-gia-thinh-vuong/



