Solutions for mobilizing capital for urban agricultural cooperatives in Hanoi city
Đào Hồng Tín
TS. Phùng Mạnh Cường
TS. Nguyễn Đức Thành
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Nông nghiệp đóng vai trò là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và ổn định xã hội. Trước áp lực đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, nông nghiệp ở thành phố Hà Nội được định hướng chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào giá trị gia tăng, chất lượng cao và nông nghiệp thông minh. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần bảo đảm tối ưu các nguồn lực cho phát triển, trong đó có nguồn lực vốn. Trên cơ sở luận giải vai trò, đánh giá thực trạng, nguyên nhân, bài viết đề xuất một số giải pháp huy động vốn cho các hợp tác xã nông nghiệp đô thị thành phố Hà Nội.
Từ khóa: Hợp tác xã nông nghiệp; nông nghiệp đô thị; huy động vốn; giải pháp; Hà Nộị.
Abstract: Agriculture plays a crucial role in the economy, contributing significantly to ensuring food security and maintaining social stability. Amid the rapid process of urbanization, agriculture in Hanoi is being reoriented from agricultural production to an agricultural economy focused on value addition, high quality, and smart agriculture. To achieve this objective, it is necessary to ensure adequate resources for development, particularly capital. Based on an analysis of the role, current situation, and causes, this article proposes several solutions for mobilizing capital for urban agricultural cooperatives in Hanoi.
Keywords: Agricultural cooperatives; urban agriculture; capital mobilization; solutions; Hanoi.
1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp luôn giữ vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và ổn định xã hội. Đối với thành phố Hà Nội, Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm định hướng chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao và nông nghiệp đô thị. Trước áp lực quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, nông nghiệp đô thị được chú trọng ứng dụng công nghệ thông minh, kết hợp chặt chẽ với các hành lang xanh để bảo tồn không gian sinh thái và phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị. Để hiện thực hóa định hướng dài hạn này, cần thay đổi phương thức sản xuất, trong đó các hợp tác xã đóng vai trò là một trong những chủ thể tổ chức liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng chuyển giao công nghệ.
Tuy nhiên, quá trình triển khai đang đối mặt với rào cản lớn về nguồn lực, nhất là vốn, bởi đặc thù của nông nghiệp đô thị cần lượng vốn đầu tư ban đầu lớn cho hạ tầng kỹ thuật, quy trình sản xuất và hệ thống quản trị số. Thực tế cho thấy, năng lực huy động vốn của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị tại Hà Nội hiện chưa đáp ứng được yêu cầu mở rộng quy mô sản xuất. Chỉ số tích lũy nội tại của khu vực kinh tế tập thể còn thấp, trong khi khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng gặp trở ngại do thiếu hụt tài sản bảo đảm pháp lý và các cơ chế hỗ trợ đặc thù.
Sự mất cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư theo quy hoạch và năng lực cung ứng vốn thực tế của các hợp tác xã tạo ra điểm nghẽn trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp Thủ đô. Nếu không có các giải pháp đồng bộ nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về hỗ trợ tài chính, các mục tiêu chiến lược trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô sẽ khó đạt khả thi về mặt kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu các giải pháp huy động vốn cho các hợp tác xã nông nghiệp đô thị thành phố Hà Nội hiện nay là một yêu cầu cần thiết, có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác hoạch định chính sách và quản lý nhà nước trong bối cảnh hiện nay.
2. Vai trò của vốn đối với hợp tác xã nông nghiệp đô thị
Hợp tác xã nông nghiệp đô thị là hình thức tổ chức kinh tế tập thể của các chủ thể sản xuất trong không gian đô thị và ven đô, vận hành trên cơ sở sở hữu chung và hợp tác nhằm tối ưu hóa chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và gia tăng giá trị đầu ra. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, các hợp tác xã này không còn hoạt động theo mô hình sản xuất truyền thống mà chuyển dịch sang các lĩnh vực có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn để đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường đô thị.
Huy động vốn trong hợp tác xã nông nghiệp đô thị là quá trình tổ chức và khai thác các nguồn lực tài chính từ nhiều kênh khác nhau, bao gồm vốn góp của thành viên, vốn tích lũy từ hoạt động sản xuất – kinh doanh; tín dụng ngân hàng, vốn liên doanh liên kết, nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các quỹ phát triển. Cấu trúc vốn đa dạng phản ánh đặc trưng của kinh tế tập thể, đồng thời, đặt ra yêu cầu về năng lực quản trị tài chính và điều phối nguồn lực ở trình độ cao hơn. Trong tổng thể các yếu tố sản xuất, vốn không chỉ đóng vai trò là đầu vào vật chất mà còn là nhân tố dẫn dắt, quyết định quá trình vận hành và phát triển toàn bộ hệ thống sản xuất của hợp tác xã. Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, tính đến tháng 8/2025 trên địa bàn thành phố Hà Nội có 1.588 hợp tác xã nông nghiệp (tăng 3,5% so với mục tiêu kế hoạch năm 2025). Trong đó thành lập mới 80 hợp tác xã (đạt 142,9% so với kế hoạch năm 2025), 7 tháng đầu năm giải thể được 3 hợp tác xã nông nghiệp; trên địa bàn thành phố có 11 liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp1.
Đối với các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở thành phố Hà Nội, vai trò của vốn được thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, vốn là nền tảng vật chất cho quá trình hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Nông nghiệp đô thị bao gồm các mô hình và hoạt động kinh tế nông nghiệp được tiến hành ở nội đô và ven đô. Trong điều kiện quỹ đất nông nghiệp ở thành phố Hà Nội ngày càng thu hẹp, việc nâng cao năng suất và hiệu quả không thể dựa vào mở rộng diện tích mà phải dựa vào tăng cường độ đầu tư trên một đơn vị diện tích. Điều này đòi hỏi các hợp tác xã nông nghiệp đô thị phải đầu tư vào nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt tự động, thiết bị cảm biến môi trường và nền tảng quản lý số có chi phí cao. Nếu thiếu vốn, quá trình này không thể triển khai, khiến các hợp tác xã bị mắc kẹt trong mô hình sản xuất truyền thống năng suất thấp và nhiều rủi ro. Bên cạnh đó, công nghệ không chỉ có thiết bị mà còn bao gồm công nghệ sinh học (giống cây trồng chất lượng cao), công nghệ bảo quản sau thu hoạch và các giải pháp số hóa (truy xuất nguồn gốc, quản trị dữ liệu sản xuất).
Với đặc thù chi phí đầu tư ban đầu lớn, thời gian hoàn vốn dài và yêu cầu duy trì liên tục, các hợp tác xã nông nghiệp đô thị cần nguồn vốn ổn định và có tính dài hạn để không chỉ mua sắm công nghệ mà còn duy trì và khai thác hiệu quả công nghệ, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường đô thị, các sản phẩm nông nghiệp đô thị phải có năng suất, chất lượng, mẫu mã phù hợp, được vận hành động bộ trong một quy trình khép kín. Việc áp dụng các tiêu chuẩn, như: VietGAP, GlobalGAP hay các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến đòi hỏi chi phí đáng kể cho đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực, kiểm soát quy trình và duy trì chứng nhận. Xu hướng hiện nay cho thấy, người tiêu dùng đô thị ngày càng coi trọng an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn này trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, vốn là nhân tố cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế của hợp tác xã nông nghiệp đô thị trong chuỗi giá trị. Đặc trưng của nông nghiệp đô thị là cạnh tranh theo chuỗi giá trị, nơi giá trị gia tăng được phân bổ không đồng đều giữa các khâu sản xuất, thu mua, chế biến, logistics, phân phối và tiêu dùng. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các hợp tác xã nông nghiệp đô thị nếu thiếu nguồn lực tài chính thường chỉ dừng lại ở khâu sản xuất ban đầu, giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc lớn vào các trung gian thương mại. Điều này dẫn đến lệ thuộc thị trường, bị ép giá và khó tích lũy để tái đầu tư phát triển. Thực tế đó cho thấy, vốn là điều kiện tiên quyết giúp hợp tác xã nông nghiệp đô thị trở thành cấu phần quan trọng trong chuỗi giá trị. Khi ấy, nguồn lực tài chính cho phép các hợp tác xã đầu tư vào hệ thống sơ chế, chế biến, kho lạnh, vận chuyển và phân phối; đồng thời, tạo điều kiện để các hợp tác xã này tổ chức lại hoạt động sản xuất theo hướng liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp, siêu thị và các kênh phân phối hiện đại, từ đó giảm thiểu chi phí trung gian và nâng cao khả năng kiểm soát đầu ra.
Thị trường tiêu dùng đô thị luôn đòi hỏi thông tin minh bạch và tiêu chuẩn cao về sản phẩm. Thực tế cho thấy, giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở chất lượng mà còn ở uy tín thương hiệu, bao bì, nhãn mác và khả năng truy xuất nguồn gốc. Các hoạt động này đều đòi hỏi chi phí đáng kể cho thiết kế, truyền thông, xúc tiến thương mại và xây dựng hệ thống nhận diện. Do đó, vốn góp phần chuyển hóa hợp tác xã nông nghiệp đô thị từ đơn vị sản xuất thành chủ thể kinh tế có năng lực cạnh tranh toàn diện trên thị trường. Ngoài ra, vốn còn cho phép các hợp tác xã chuyên môn hóa sản xuất và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực. Thông qua các quyết định đầu tư có trọng điểm, hợp tác xã có thể hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và phân công lao động hợp lý giữa các khâu trong chuỗi. Quá trình này không chỉ làm giảm chi phí giao dịch mà còn nâng cao hiệu quả tổng thể, tạo nền tảng tham gia bền vững vào các chuỗi cung ứng.
Như vậy, vốn giúp tái định vị vai trò của hợp tác xã trong chuỗi giá trị nông sản, chuyển từ vị thế bị động sang chủ động, từ khâu giá trị thấp sang các khâu có giá trị cao. Đây chính là điều kiện then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển bền vững của hợp tác xã nông nghiệp đô thị trong bối cảnh hội nhập và đô thị hóa.
Thứ ba, vốn là đòn bẩy thu hút, kết nối và lan tỏa các nguồn lực xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, kết quả huy động vốn phản ánh mức độ tin cậy, năng lực quản trị và khả năng thực thi cam kết của các chủ thể. Đối với các hợp tác xã nông nghiệp đô thị, vai trò này càng trở nên nổi bật, bởi sự phát triển phải dựa trên khả năng huy động và tích hợp các nguồn lực xã hội. Quy mô và cấu trúc vốn của hợp tác xã nông nghiệp đô thị là cơ sở để thiết lập và củng cố niềm tin với các chủ thể bên ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý nhà nước. Một hợp tác xã nông nghiệp đô thị có nền tảng tài chính vững vàng sẽ chứng minh được năng lực thực hiện các hợp đồng liên kết, khả năng hoàn trả vốn vay và mức độ ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngược lại, sự yếu kém về vốn thường kéo theo hạn chế trong tiếp cận tín dụng và khó khăn trong việc thiết lập quan hệ hợp tác dài hạn. Do đó, vốn ở đây không chỉ là “điều kiện cần” mà còn là cơ sở để hình thành uy tín và vị thế của hợp tác xã nông nghiệp đô thị.
Trong mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa hợp tác xã – doanh nghiệp – thị trường, vốn đóng vai trò là chất xúc tác thúc đẩy các mối liên kết kinh tế, bởi khi có đủ nguồn lực tài chính, hợp tác xã có thể tham gia vào các hợp đồng bao tiêu sản phẩm, liên doanh trong chế biến, hoặc hợp tác phát triển vùng nguyên liệu ổn định. Điều này giúp hình thành các chuỗi cung ứng có tính tổ chức cao, giảm thiểu rủi ro thị trường và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Các chủ trương phát triển kinh tế hiện nay đều nhấn mạnh yêu cầu phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân giữ vai trò là động lực quan trọng nhất, kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng, dẫn dắt thông qua đầu tư hạ tầng và chính sách hỗ trợ. Trong bối cảnh đó, một hợp tác xã có năng lực tài chính tốt sẽ dễ dàng tiếp cận các quỹ hỗ trợ phát triển, các chương trình tín dụng ưu đãi, đồng thời thu hút được dòng vốn đầu tư từ doanh nghiệp thông qua các hình thức liên kết linh hoạt. Quá trình huy động và sử dụng vốn giúp các hợp tác xã nông nghiệp đô thị lan tỏa hiệu ứng kinh tế – xã hội, tác động đến cộng đồng sản xuất và thị trường địa phương. Khi các hợp tác xã phát triển ổn định, hoạt động sản xuất được mở rộng, việc làm và thu nhập của thành viên được cải thiện sẽ thúc đẩy hình thành các liên kết ngang giữa các hợp tác xã và liên kết dọc với doanh nghiệp. Điều này góp phần hình thành mạng lưới sản xuất – tiêu thụ có tính bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, vốn là công cụ quản lý rủi ro và nâng cao tính bền vững của hợp tác xã nông nghiệp đô thị. Trong quá trình sản xuất – kinh doanh, các hợp tác xã nông nghiệp đô thị luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm rủi ro thị trường (biến động giá cả, thay đổi thị hiếu tiêu dùng), rủi ro sinh thái (dịch bệnh, thời tiết cực đoan) và rủi ro vận hành (đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng cao). Điều đó đòi hỏi vốn không chỉ là nguồn lực phục vụ mở rộng sản xuất mà còn giữ vai trò như một công cụ tài chính để quản lý và duy trì hoạt động của hợp tác xã. Đặc thù của nông nghiệp là chu kỳ sản xuất dài, độ trễ giữa đầu tư và thu hồi vốn lớn, trong khi các biến động thị trường có thể xảy ra đột ngột. Nếu không có nguồn vốn dự phòng, các hợp tác xã dễ rơi vào trạng thái gián đoạn sản xuất hoặc buộc phải bán sản phẩm với giá bất lợi. Ngược lại, khi có nền tảng vốn đủ mạnh, hợp tác xã có thể chủ động điều tiết sản lượng, lựa chọn thời điểm tiêu thụ hợp lý và bảo đảm tính liên tục của hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đối với nông nghiệp đô thị, việc ứng dụng công nghệ kiểm soát môi trường (cảm biến, tự động hóa), bảo hiểm nông nghiệp, hệ thống truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu sản xuất không chỉ nhằm nâng cao năng suất mà còn có ý nghĩa giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, các giải pháp này đều đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu và chi phí duy trì đáng kể. Do đó, khả năng tích lũy và huy động vốn quyết định trực tiếp việc hợp tác xã có thể chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động hay không. Trên thực tế, khả năng tích lũy vốn và sử dụng vốn hiệu quả tạo điều kiện để hợp tác xã tái đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Điều này phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, trong đó nhấn mạnh sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh nhu cầu thị trường đô thị biến động nhanh và khó dự báo, hợp tác xã có thể giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất thông qua đầu tư vào nhiều loại cây trồng, mô hình sản xuất khác nhau hoặc mở rộng kênh phân phối (từ chợ truyền thống đến siêu thị, thương mại điện tử).
3. Thực trạng huy động vốn tại các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở thành phố Hà Nội
Thời gian qua, hoạt động huy động vốn của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở thành phố Hà Nội đã có bước chuyển quan trọng theo hướng đa dạng hóa nguồn lực tài chính và mở rộng kênh huy động vốn. Trước đây, vốn của hợp tác xã chủ yếu dựa vào đóng góp của xã viên nên quy mô vốn nhỏ và phân tán, hiện nay nhiều hợp tác xã đã từng bước tiếp cận các nguồn vốn đa dạng như tín dụng ngân hàng, vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và vốn liên kết với doanh nghiệp. Theo thống kê, toàn thành phố Hà Nội có trên 1.300 hợp tác xã nông nghiệp, trong đó phần lớn có quy mô vốn nhỏ, với khoảng 76,6% hợp tác xã có vốn dưới 5 tỷ đồng2. Tuy nhiên, nhờ các chính sách hỗ trợ, giai đoạn 2021 – 2025 đã có khoảng 3.500 lượt hợp tác xã, tổ hợp tác được hỗ trợ xúc tiến thương mại; trên 25.000 sản phẩm nông sản, OCOP được kết nối tiêu thụ3, góp phần cải thiện dòng tiền và nâng cao năng lực tích lũy vốn. Điều này cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ nét từ mô hình huy động vốn nội bộ sang mô hình huy động vốn mở, đa kênh, phù hợp với cơ chế thị trường.
Đáng chú ý, sự phát triển các mô hình huy động vốn gắn với liên kết chuỗi giá trị đã trở thành điểm sáng trong thực tiễn. Theo kế hoạch phát triển kinh tế tập thể của thành phố, Hà Nội có khoảng 80 hợp tác xã nông nghiệp tham gia liên kết sản xuất – tiêu thụ với doanh nghiệp, đồng thời trên 50% số hợp tác xã có tham gia một hình thức liên kết thị trường4. Thông qua các liên kết này, hợp tác xã có thể tiếp cận vốn dưới dạng ứng trước vật tư, hỗ trợ kỹ thuật hoặc đồng đầu tư sản xuất. Điều này giúp giảm đáng kể áp lực vốn ban đầu, bảo đảm đầu ra sản phẩm và nâng cao vòng quay vốn, từ đó hạn chế rủi ro tài chính trong điều kiện thị trường biến động. Không chỉ mở rộng kênh huy động, việc sử dụng vốn tại các hợp tác xã cũng có sự chuyển biến theo hướng gia tăng giá trị và nâng cấp chuỗi sản xuất. Một số hợp tác xã đã đầu tư vào sơ chế, bảo quản, đóng gói và truy xuất nguồn gốc, từng bước hình thành các chuỗi sản xuất – tiêu thụ khép kín. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện vẫn còn khoảng 70% sản phẩm nông nghiệp của hợp tác xã ở dạng sơ chế, cho thấy dư địa rất lớn để tiếp tục đầu tư và nâng cao giá trị gia tăng5. Điều này phản ánh xu hướng tích cực – vốn không chỉ được huy động để duy trì sản xuất mà đã dần trở thành công cụ tái cấu trúc hoạt động kinh tế của hợp tác xã theo chiều sâu.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh của hợp tác xã từng bước được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao năng lực huy động vốn trong thời gian tới. Theo báo cáo tổng hợp về phát triển kinh tế tập thể của Liên minh Hợp tác xã thành phố Hà Nội, trong những năm gần đây, các hợp tác xã đã có xu hướng phục hồi và phát triển tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Thông qua việc chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành và chính quyền các cấp trong triển khai chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, tiếp cận thị trường tiêu thụ, kết quả sản xuất, kinh doanh của các hợp tác xã đã có những thay đổi tích cực, doanh thu bình quân của hợp tác xã đạt khoảng 2,5 tỷ đồng/năm, lợi nhuận bình quân 150 triệu đồng/năm6. Những kết quả này cho thấy khả năng tạo nguồn và tích lũy vốn đã được cải thiện, qua đó góp phần nâng cao uy tín tín dụng và khả năng tiếp cận các nguồn vốn chính thức.
Thời gian qua, hoạt động huy động vốn của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở Hà Nội đã có sự chuyển biến rõ nét về quy mô, cơ cấu và phương thức. Việc gia tăng số lượng hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị, mở rộng kênh tiêu thụ với quy mô thị trường ngày càng lớn, cùng sự cải thiện về hiệu quả sản xuất, kinh doanh là những minh chứng cho xu hướng nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn. Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để phát triển nông nghiệp đô thị theo hướng hiện đại, giá trị gia tăng cao, đồng thời mở ra khả năng thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội trong thời gian tới.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song thực tế cho thấy hoạt động huy động vốn của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở thành phố Hà Nội còn tồn tại một số hạn chế đó là: khả năng mở rộng sản xuất và đầu tư chiều sâu chưa nhiều; các mô hình và hoạt động sản xuất nông nghiệp đô thị chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh nền nông nghiệp Thủ đô; năng lực quản trị, tiếp cận thị trường và xây dựng phương án kinh doanh còn yếu… Những hạn chế này làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và khả năng thu hút các nguồn lực tài chính bên ngoài.
Những hạn chế trong thu hút vốn phát triển các hợp tác xã nông nghiệp đô thị ở thành phố Hà Nội hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, song về cơ bản do phần lớn hợp tác xã có quy mô nhỏ, năng lực tài chính yếu, tài sản bảo đảm không đúng quy định nên khó đáp ứng điều kiện vay vốn của các tổ chức tín dụng; đồng thời, trình độ quản lý và khả năng xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh còn thấp làm giảm độ tin cậy tài chính. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách hỗ trợ tuy đã ban hành nhưng chưa đồng bộ, thủ tục tiếp cận vốn còn phức tạp, trong khi các kênh vốn trung và dài hạn cho hợp tác xã còn hạn chế. Ngoài ra, thị trường nông sản biến động, liên kết chuỗi chưa bền vững cùng với đặc thù nông nghiệp đô thị của Hà Nội như chi phí cao, quỹ đất hạn chế cũng làm gia tăng rủi ro, khiến cả hợp tác xã và tổ chức tín dụng đều thận trọng trong huy động và cho vay vốn.
4. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách khơi thông các nguồn lực tài chính cho hợp tác xã nông nghiệp đô thị.
Đây là giải pháp nền tảng nhằm tạo lập môi trường thể chế thuận lợi cho quá trình huy động và phân bổ nguồn lực tài chính đối với khu vực kinh tế tập thể. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống cơ chế, chính sách không chỉ tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận vốn của các hợp tác xã mà còn định hình tính ổn định, minh bạch và hiệu quả của thị trường vốn phục vụ phát triển nông nghiệp đô thị. Với vị thế là đô thị đặc biệt, trung tâm tài chính, thương mại và dịch vụ lớn của cả nước, Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các cơ chế hỗ trợ tài chính mang tính đặc thù cho các hợp tác xã nông nghiệp đô thị, nhất là tại các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn hay Đan Phượng. Đây là những khu vực có lợi thế về quỹ đất ven đô, hạ tầng giao thông kết nối thị trường tiêu dùng lớn và khả năng phát triển các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái gắn với chuỗi giá trị đô thị.
Để thực hiện mục tiêu trên, thành phố cần chuẩn hóa quy trình pháp lý cho phép thực thi quyền sử dụng đất và các công trình hạ tầng công nghệ cao, như nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, kho lạnh hoặc nền tảng quản trị số được tham gia đầy đủ vào các giao dịch bảo đảm tín dụng. Đối với các vùng sản xuất hoa, rau công nghệ cao tại Mê Linh hoặc Đông Anh, cần phát huy các mô hình hợp tác xã ứng dụng công nghệ nhà kính, tưới nhỏ giọt và truy xuất nguồn gốc điện tử để hình thành cơ sở định giá tài sản nông nghiệp công nghệ cao trong hoạt động tín dụng. Đồng thời, xây dựng bộ tiêu chí định giá tài sản nông nghiệp theo hướng thống nhất, đồng bộ với cơ sở dữ liệu đất đai và hệ thống thông tin tài chính của các tổ chức tín dụng nhằm rút ngắn thời gian thẩm định và giảm chi phí giao dịch cho hợp tác xã. Cùng với đó, cần nâng cao vai trò của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã và Quỹ bảo lãnh tín dụng trong hỗ trợ thẩm định phương án sản xuất – kinh doanh, tư vấn hoàn thiện hồ sơ pháp lý và chia sẻ rủi ro tín dụng cho các tổ chức cho vay. Trên cơ sở đó, các ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực “tam nông” như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam hoặc Ngân hàng Chính sách xã hội có thể mở rộng các gói tín dụng trung và dài hạn phù hợp với chu kỳ sản xuất của nông nghiệp đô thị.
Để nâng cao hiệu quả triển khai chính sách, thành phố cần xây dựng cơ chế phối hợp liên thông giữa cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống ngân hàng, Liên minh Hợp tác xã và các tổ chức tư vấn tài chính. Các chính sách ưu đãi về lãi suất, thuế hoặc hỗ trợ đầu tư cần được thực hiện thông qua nền tảng số “một cửa”, gắn với các tiêu chí sản xuất xanh, tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và truy xuất nguồn gốc. Qua đó, nguồn lực tài chính công được phân bổ đúng trọng tâm, thúc đẩy các hợp tác xã nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển phù hợp với bối cảnh hiện nay.
Hai là, đa dạng hóa các kênh và công cụ huy động vốn theo cơ chế thị trường.
Đây là giải pháp đột phá giúp Hà Nội giảm dần sự phụ thuộc của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị vào ngân sách nhà nước và tín dụng truyền thống, từ đó giúp họ chủ động khai thác các nguồn lực tài chính trong xã hội. Việc vận hành các công cụ huy động vốn theo nguyên tắc thị trường không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn vốn, mà còn nâng cao tính minh bạch để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của nhà đầu tư.
Trong thời gian tới, thành phố cần thí điểm mô hình hợp tác công – tư (PPP), trong đó Nhà nước hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng, tạo cơ sở để hợp tác xã, doanh nghiệp cùng góp vốn đầu tư công nghệ chế biến sâu và hệ thống logistics lạnh. Hoạt động sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đầu tư ban đầu, bảo đảm tính bền vững của dự án thông qua năng lực quản trị chuyên nghiệp của các đối tác doanh nghiệp. Cùng với đó, thành phố cần phát triển hình thức tín dụng chuỗi giá trị trên cơ sở các hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm giữa hợp tác xã với hệ thống phân phối hiện đại như WinMart, BRGMart, Co.opmart, GO!, MM Mega Market và các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch trên địa bàn Hà Nội. Thông qua cơ chế này, các tổ chức tín dụng có thể xem xét giải ngân dựa trên dòng tiền hình thành từ hợp đồng kinh tế, đơn hàng hoặc kế hoạch tiêu thụ sản phẩm thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm.
Với định hướng phát triển Thủ đô theo mô hình đô thị xanh, thông minh và bền vững, các dự án nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ hoặc nông nghiệp ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng có nhiều điều kiện để tiếp cận các quỹ đầu tư phát triển xanh, quỹ đổi mới sáng tạo và các chương trình tài trợ quốc tế về biến đổi khí hậu. Thành phố có thể phát huy vai trò kết nối thông qua Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Hà Nội (HANIF), mô hình đầu tư ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị), các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo hoặc các dự án hợp tác quốc tế về tăng trưởng xanh đang triển khai trên địa bàn. Việc chuẩn hóa báo cáo phi tài chính, công khai các chỉ số môi trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm sẽ giúp các hợp tác xã nâng cao mức độ tín nhiệm, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận các dòng vốn trung và dài hạn phục vụ phát triển bền vững. Thông qua ứng dụng công nghệ số và các giải pháp Fintech, thành phố có thể xây dựng các nền tảng số kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp, nhà đầu tư và tổ chức tín dụng nhằm hỗ trợ giới thiệu dự án, gọi vốn cộng đồng, thanh toán điện tử và quản trị chuỗi cung ứng. Cách làm này giúp Hà Nội hình thành các mô hình kết nối tài chính số phục vụ nông nghiệp đô thị theo hướng minh bạch, linh hoạt và chi phí thấp. Điều này phù hợp với tinh thần của Luật Thủ đô năm 2024 về phát triển Hà Nội trở thành đô thị đặc biệt, trung tâm đổi mới sáng tạo, tài chính và tăng trưởng xanh của cả nước trong giai đoạn mới.
Ba là, nâng cao năng lực nội tại và tính minh bạch tài chính của các hợp tác xã.
Đây là giải pháp then chốt giúp gia tăng mức độ tín nhiệm của các hợp tác xã trên thị trường, bởi trong nền kinh tế thị trường, sự minh bạch sẽ tạo tín hiệu quan trọng giúp xóa bỏ tình trạng thông tin bất đối xứng giữa hợp tác xã và các tổ chức tín dụng, từ đó gia tăng cơ hội tiếp cận vốn. Việc củng cố năng lực quản trị tài chính không chỉ giúp hợp tác xã tối ưu hóa các nguồn lực hiện có mà còn tạo nền tảng vững chắc để tiếp nhận các khoản đầu tư lớn từ bên ngoài.
Vấn đề đặt ra hiện nay là chính quyền thành phố Hà Nội cần triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu và dài hạn về quản trị tài chính doanh nghiệp dành riêng cho ban điều hành các hợp tác xã nông nghiệp đô thị. Phương thức triển khai cần tập trung hướng dẫn hợp tác xã xây dựng các bộ chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh (KPIs), kỹ năng phân tích dòng tiền và lập dự toán đầu tư theo chuẩn mức quy định. Bên cạnh đó, áp dụng các phần mềm kế toán số hóa dùng chung đảm bảo chính xác, kịp thời và nhất quán dữ liệu tài chính. Cách làm này không chỉ giúp hợp tác xã kiểm soát chi phí vận hành mà còn tạo ra các báo cáo tài chính minh bạch, đủ độ tin cậy, làm cơ sở cho các quyết định giải ngân từ phía ngân hàng hoặc các quỹ đầu tư.
Trên nền tảng dữ liệu số hóa, việc chuyên nghiệp hóa công tác thẩm định và kiểm soát tài chính trở thành yêu cầu bắt buộc. Theo đó, các hợp tác xã cần được khuyến khích và hỗ trợ thực hiện kiểm toán độc lập định kỳ cũng như áp dụng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro trong nông nghiệp công nghệ cao. Thành phố có thể hỗ trợ một phần kinh phí thuê dịch vụ tư vấn tài chính chuyên nghiệp trong giai đoạn đầu để giúp các hợp tác xã kiện toàn bộ máy kế toán và xây dựng lộ trình nâng hạng tín nhiệm. Việc công khai hóa các báo cáo hoạt động và kết quả tài chính trên hệ thống thông tin của Liên minh hợp tác xã hoặc các nền tảng số của thành phố sẽ giúp các hợp tác xã nông nghiệp đô thị khẳng định vai trò tự chủ kinh tế, đủ năng lực phát triển nguồn vốn xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm theo Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội.
Bốn là, phát triển các mô hình hợp tác xã gắn với tiêu chuẩn xanh và bền vững.
Đây là giải pháp trọng tâm giúp định hình khả năng thích ứng và tạo lợi thế cạnh tranh cho các hợp tác xã trong bối cảnh hiện nay. Trước áp lực đô thị hóa và biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ, việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh không đơn thuần chỉ bảo vệ môi trường mà còn là phương thức để gia tăng giá trị tài sản vô hình và mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi (tín dụng xanh). Việc thực thi các tiêu chuẩn bền vững giúp hợp tác xã tối ưu hóa vòng đời sản phẩm, giảm thiểu chi phí xử lý ngoại ứng tiêu cực, từ đó chuyển hóa các áp lực về môi trường thành động lực tăng trưởng kinh tế.
Để thực hiện hiệu quả, chính quyền thành phố Hà Nội cần ban hành lộ trình xanh hóa nông nghiệp gắn với các định mức kỹ thuật phù hợp đặc thù không gian hạn hẹp của Hà Nội. Phương thức triển khai cần tập trung hỗ trợ hợp tác xã lắp đặt hệ thống năng lượng tái tạo tại chỗ, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm tuần hoàn và chuyển đổi sang các loại vật tư đầu vào có nguồn gốc sinh học. Bên cạnh đó, hình thành các liên minh hợp tác xã xanh để chia sẻ hạ tầng xử lý chất thải dùng chung và giảm suất đầu tư trên mỗi đơn vị thành viên, đồng thời tạo ra sự đồng bộ về chất lượng sản phẩm sinh thái. Cách làm này không chỉ giúp hiện đại hóa diện mạo nông thôn mới mà còn biến các hợp tác xã thành những “lá phổi xanh”, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện chỉ số đáng sống của đô thị.
Trên nền tảng các giá trị sinh thái đã được xác lập, việc định giá và thương mại hóa các kết quả bảo vệ môi trường trở thành công cụ tài chính tiềm năng. Thông qua việc hỗ trợ các hợp tác xã thực hiện kiểm kê khí nhà kính và cấp chứng nhận nhãn sinh thái đạt chuẩn quốc tế, thành phố đóng vai trò kiến tạo, giúp các hợp tác xã nông nghiệp đô thị tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai. Việc lồng ghép các chỉ số bền vững sẽ giúp hợp tác xã trở thành đối tác ưu tiên của các quỹ đầu tư ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) và các chương trình tài trợ xanh quốc tế. Sự kết hợp giữa quy trình sản xuất sạch với cơ chế bù trừ tín chỉ carbon sẽ giúp các hợp tác xã nông nghiệp đô thị khẳng định vị thế là những chủ thể kinh tế văn minh, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) của Việt Nam đến năm 2050 và định phướng phát triển Thủ đô xanh, bền vững trong thời gian tới.
5. Kết luận
Trong lộ trình hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô, các hợp tác xã nông nghiệp đô thị cần được định vị là hạt nhân của nền kinh tế xanh và bền vững. Việc đầu tư cho khu vực này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp mà còn tạo ra giá trị xã hội và môi trường cho không gian đô thị. Để đáp ứng nhu cầu vốn của các hợp tác xã nông nghiệp đô thị cần sự phối hợp quyết liệt giữa chính quyền Thành phố, các tổ chức tín dụng và liên minh các hợp tác xã. Khi nguồn lực tài chính được khơi thông dựa trên nền tảng minh bạch và trách nhiệm bền vững, các hợp tác xã nông nghiệp đô thị sẽ phát huy vai trò, góp phần xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại, xứng đáng là trung tâm kinh tế – chính trị hàng đầu của cả nước.
Chú thích:
1. Hợp tác xã nông nghiệp Thủ đô – động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. https://baochinhphu.vn/hop-tac-xa-nong-nghiep-thu-dodong-luc-quan-trong-thuc-day-phat-trien-kinh-te-nong-thon-102251106170913702.htm
2. Hà Nội: Phát triển kinh tế hợp tác cả về chất và lượng. https://vnbusiness.vn/ha-noi-phat-trien-kinh-te-hop-tac-ca-ve-chat-va-luong.html
3. Liên minh Hợp tác xã TP Hà Nội – khẳng định vai trò “bà đỡ” trong xúc tiến thương mại. https://kinhtedothi.vn/lien-minh-hop-tac-xa-tp-ha-noi-khang-dinh-vai-tro-ba-do-trong-xuc-tien-thuong-mai.946525.html
4. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2022). Kế hoạch số 294/KH-UBND ngày 14/11/2022 về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2023.
5. Nâng cao năng lực chế biến cho các HTX nông nghiệp. https://www.nongthonmoihanoi.gov.vn/tin-tuc/nang-cao-nang-luc-che-bien-cho-cac-htx-nong-nghiep-3376
6. Hà Nội: Nổi bật trong phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. https://thanhuyhanoi.vn/tin-tuc/hanoi-portal/ha-noi-noi-bat-trong-phat-trien-kinh-te-tap-the-hop-tac-xa-50006927.html?utm_source=chatgpt.com
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021). Phát triển nông nghiệp đô thị xanh, bền vững tại Việt Nam: Lý luận và thực tiễn. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Quốc hội (2023). Luật Hợp tác xã năm 2023.
4. Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 313/QĐ-TTg ngày 17/4/2024 phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
5. Khơi thông nguồn vốn cho hợp tác xã nông nghiệp. https://nhandan.vn/khoi-thong-nguon-von-cho-hop-tac-xa-nong-nghiep-post868218.html
6. Một số giải pháp phát triển hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. https://tapchicongthuong.vn/mot-so-giai-phap-phat-trien-hop-tac-xa-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-hien-nay-106493.htm



