The role of legal liability in human rights education in Vietnam
TS. Lã Văn Xự
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
ThS. Phạm Thị Hoàng Ngân
Trường Đại học điều dưỡng Nam Định
(Quanlynhanuoc.vn) – Trách nhiệm pháp lý là một trong những chế định trung tâm của khoa học pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và bảo vệ quyền con người. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trách nhiệm pháp lý không chỉ là công cụ để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà còn là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm, thúc đẩy và hiện thực hóa quyền con người trong đời sống xã hội. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản về trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam và mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý với việc bảo đảm quyền con người. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng vận dụng trách nhiệm pháp lý vào giáo dục pháp luật về quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Pháp lý; pháp luật; trách nhiệm pháp lý; pháp luật Việt Nam; quyền con người; giáo dục pháp luật; Nhà nước pháp quyền.
Abstract: Legal responsibility is one of the central institutions of legal science, playing a particularly important role in ensuring the effectiveness and efficiency of the law, maintaining social order and discipline, and protecting human rights. In the process of building and perfecting the socialist rule of law in Vietnam, legal responsibility is not only a tool for addressing legal violations but also an important legal mechanism to ensure, promote, and realize human rights in social life. This article focuses on clarifying some basic issues regarding legal responsibility in Vietnamese law and the relationship between legal responsibility and the guarantee of human rights. Based on this, it proposes some directions for applying legal responsibility to human rights education in Vietnam today.
Keywords: Legal; law; legal responsibility; Vietnamese law; human rights; legal education; rule of law.
1. Đặt vấn đề
Trong mọi xã hội có nhà nước và pháp luật, trách nhiệm pháp lý luôn tồn tại như một tất yếu, khách quan, phản ánh thái độ của Nhà nước và xã hội đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua việc xác lập và thực hiện trách nhiệm pháp lý, pháp luật không chỉ trừng trị, răn đe các hành vi vi phạm mà còn giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần bảo vệ các giá trị xã hội cơ bản, trong đó có quyền con người và quyền công dân.
Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”1 (Điều 14). Để những quy định đó đi vào cuộc sống, việc thiết lập và thực thi một cơ chế trách nhiệm pháp lý nghiêm minh, công bằng, nhân văn là đặc biệt quan trọng. Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam và vận dụng vào giáo dục pháp luật về quyền con người ở Việt Nam hiện nay không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc.
2. Quan niệm và đặc điểm trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam
2.1. Quan niệm về trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam
Từ góc độ pháp lý, trách nhiệm pháp lý có thể được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau: Một là, nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện theo quy định của pháp luật; hai là, nghĩa vụ pháp lý là nghĩa vụ phát sinh từ mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ba là, nghĩa vụ pháp lý là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản; bốn là, nghĩa vụ pháp lý là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật. Trong các cách tiếp cận này, cách hiểu thứ tư, coi trách nhiệm pháp lý là hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, phản ánh đầy đủ nhất bản chất của trách nhiệm pháp lý như một chế định độc lập của pháp luật.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, trách nhiệm pháp lý thường được phân thành trách nhiệm pháp lý tích cực và trách nhiệm pháp lý tiêu cực. Trách nhiệm pháp lý tích cực gắn với việc thực hiện tự giác, chủ động các nghĩa vụ pháp lý; trong khi trách nhiệm pháp lý tiêu cực thể hiện phản ứng của Nhà nước trước hành vi vi phạm pháp luật thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật. Theo cách tiếp cận của bài viết, trách nhiệm pháp lý là hậu quả pháp lý bất lợi do Nhà nước áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định, thể hiện thông qua việc buộc chủ thể đó phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhằm khôi phục và bảo vệ trật tự pháp luật bị xâm hại.
2.2. Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý trong pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật là căn cứ trực tiếp, là cơ sở để phát sinh trách nhiệm pháp lý. Chỉ khi chủ thể có hành vi trái với quy định của pháp luật, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ thì Nhà nước mới có cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý. Những thiệt hại phát sinh trong các trường hợp như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hoặc bất khả kháng không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý, bởi trong các trường hợp này, hành vi tuy gây thiệt hại nhưng không mang tính trái pháp luật. Đặc điểm này thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trách nhiệm pháp lý chỉ được áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý, tránh tình trạng tùy tiện, lạm quyền trong quá trình xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, trách nhiệm pháp lý thể hiện phản ứng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật. Thông qua việc áp dụng trách nhiệm pháp lý, Nhà nước khẳng định tính nghiêm minh, tính bắt buộc và giá trị của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trách nhiệm pháp lý vì vậy không chỉ là phản ứng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm, mà còn mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, thể hiện thái độ lên án của Nhà nước và xã hội đối với hành vi xâm hại trật tự xã hội do Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
Thứ ba, trách nhiệm pháp lý luôn mang tính bất lợi đối với chủ thể vi phạm. Sự bất lợi này biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như bị hạn chế hoặc bị tước bỏ một số quyền, bị buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, bị chịu hình phạt hoặc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác do pháp luật quy định. Tính bất lợi là dấu hiệu không thể thiếu của trách nhiệm pháp lý, bởi nếu không có yếu tố bất lợi thì trách nhiệm pháp lý sẽ không đủ sức răn đe và phòng ngừa vi phạm. Tuy nhiên, mức độ bất lợi phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc công bằng và nhân đạo trong việc áp dụng pháp luật.
Thứ tư, trách nhiệm pháp lý là một loại nghĩa vụ pháp lý đặc biệt, mang tính bắt buộc, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Khác với các nghĩa vụ pháp lý thông thường được thực hiện trên cơ sở tự giác, nghĩa vụ gánh chịu trách nhiệm pháp lý phát sinh không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người vi phạm. Khi đã có đủ căn cứ pháp lý, chủ thể vi phạm pháp luật buộc phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Đặc trưng này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa trách nhiệm pháp lý và quyền lực nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của cưỡng chế nhà nước trong việc bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật.
Thứ năm, trách nhiệm pháp lý được thực hiện thông qua các thủ tục, trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định. Việc áp dụng trách nhiệm pháp lý không thể diễn ra tùy tiện, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, bảo đảm tính khách quan, công bằng và minh bạch. Yếu tố này góp phần hạn chế nguy cơ lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể liên quan, đồng thời nâng cao tính chính danh và hiệu quả trong việc thực thi trách nhiệm pháp lý trong thực tiễn quản lý nhà nước.
Như vậy, các đặc điểm của trách nhiệm pháp lý không tồn tại một cách rời rạc, độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau, đồng thời phản ánh bản chất của trách nhiệm pháp lý với tư cách là một chế định trung tâm của pháp luật. Việc nhận thức đầy đủ, đúng đắn về các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lý luận cũng như trong quá trình xây dựng, áp dụng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
3. Trách nhiệm pháp lý và vấn đề bảo đảm quyền con người trong pháp luật Việt Nam
3.1. Mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý và bảo đảm quyền con người
Quyền con người và trách nhiệm pháp lý có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau. Một mặt, trách nhiệm pháp lý là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, và xử lý các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mặt khác, việc xác lập và thực hiện trách nhiệm pháp lý phải nhằm mục tiêu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không được tùy tiện, lạm dụng, xâm phạm các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Mọi chủ thể trong xã hội cần phải “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”2.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội”3 (Điều 15). Đồng thời, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Chính vì thế, quyền con người, quyền công dân không thể tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý. Mỗi cá nhân khi thực hiện quyền của mình phải tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cũng như lợi ích của Nhà nước và xã hội; nếu vi phạm, tất yếu phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng4.
3.2. Trách nhiệm pháp lý – một cơ chế hữu hiệu trong việc bảo đảm quyền con người
Thông qua các loại trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật, Nhà nước thiết lập những cơ chế cụ thể để bảo vệ quyền con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền tự do của con người không chỉ mang ý nghĩa trừng phạt mà còn có tác dụng phòng ngừa, răn đe và giáo dục chung trong xã hội. Đồng thời, pháp luật Việt Nam cũng đặt ra những giới hạn đối với việc áp dụng trách nhiệm pháp lý nhằm bảo vệ quyền con người, như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một hành vi phạm tội, nguyên tắc cấm tra tấn, bức cung, nhục hình… Những nguyên tắc này thể hiện rõ tính nhân văn, tiến bộ của pháp luật Việt Nam trong việc kết hợp giữa xử lý vi phạm và bảo vệ quyền con người.
4. Một số định hướng
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi chủ thể trong xã hội về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc giáo dục pháp luật về quyền con người.
Trong xã hội hiện đại, việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là mục tiêu, tiêu chí phấn đấu, là thước đo trình độ phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bởi, giáo dục pháp luật về quyền con người không chỉ nhằm trang bị kiến thức pháp lý mà còn hướng tới hình thành thái độ tôn trọng pháp luật, ý thức trách nhiệm xã hội và năng lực ứng xử pháp lý đúng đắn; giúp mọi người nhận thức được quyền con người không phải là những đặc quyền tuyệt đối, mà luôn gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm trước Nhà nước và xã hội.
Thông qua giáo dục về trách nhiệm pháp lý, nhất là pháp luật về quyền con người, công dân có thể hiểu rõ hơn bản chất của các chế tài pháp luật, tránh cách nhìn phiến diện cho rằng trách nhiệm pháp lý chỉ mang tính trừng phạt, từ đó nâng cao ý thức thực hiện, khả năng phân tích, phản biện và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, chính trị hóa vấn đề quyền con người. Theo đó, các chủ thể trong xã hội (cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể các cấp) và mọi người dân cần quán triệt sâu sắc các chủ trương, quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền công dân; coi giáo dục pháp luật về quyền con người là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đồng thời là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Các cơ quan truyền thông, báo chí, đội ngũ cán bộ, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, nhất là những người trực tiếp làm công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, cần thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật nâng cao kiến thức về quyền con người, quyền công dân, nhất là đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam, pháp luật quốc tế, nhất là các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, tham gia. Qua đó, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền và giáo dục.
Hai là, đổi mới nội dung giáo dục pháp luật về quyền con người theo hướng tăng cường tính đấu tranh và tính phản biện.
Nội dung giáo dục pháp luật về quyền con người cần được thiết kế theo hướng vừa bảo đảm tính cơ bản, tính hệ thống, vừa làm nổi bật sự khác biệt về bản chất giữa quan điểm nhân quyền xã hội chủ nghĩa và quan điểm nhân quyền tư sản. Cần làm rõ âm mưu, thủ đoạn chính trị hóa vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch, nhất là việc sử dụng các báo cáo “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “xã hội dân sự” … để xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Kết hợp nội dung lý luận với số liệu và báo cáo thực tiễn về kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để minh chứng, nhất là trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục… nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Cần làm rõ mối quan hệ giữa quyền con người và trách nhiệm pháp lý, nhấn mạnh nguyên tắc quyền đi đôi với nghĩa vụ, tự do gắn liền với kỷ luật, kỷ cương để mọi công dân hiểu đúng và có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Ba là, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật về quyền con người theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và năng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận của mọi đối tượng, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh phương pháp giáo dục truyền thống, cần tăng cường các phương pháp tuyên truyền, giáo dục như thảo luận nhóm, tọa đàm khoa học, tranh luận có định hướng và xử lý các tình huống pháp lý liên quan đến quyền con người. Coi trọng tổ chức các diễn đàn, chuyên đề, cuộc thi về nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về “nhân quyền” trên không gian mạng.
Kết hợp lồng ghép, vận dụng linh hoạt, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp phù hợp với từng đối tượng, sát với đặc điểm, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, như: Tuyên truyền, giáo dục thông qua hệ thống truyền thông, báo chí, nhất là trên các nền tảng số, các trang mạng xã hội; thông qua hệ thống truyền thanh của các cơ quan, đơn vị, tổ, khu dân cư; qua sinh hoạt ngày Pháp luật, sinh hoạt chính trị, tư tưởng, các hoạt động văn hoá, văn nghệ; xem các băng ghi hình xét xử các vụ án hình sự, dân sự điển hình; qua các phong trào thi đua, cuộc vận động,… Qua đó, giúp mọi người dễ hiểu, dễ nhớ, nâng cao nhận thức pháp luật về quyền con người, và vận dụng hiệu quả trong thực tiễn.
5. Kết luận
Trách nhiệm pháp lý là một chế định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa là công cụ bảo vệ trật tự pháp luật, vừa là cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc nhận thức đúng đắn và vận dụng hiệu quả trách nhiệm pháp lý vào giáo dục pháp luật về quyền con người có ý nghĩa rất quan trọng, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Thông qua việc làm rõ bản chất, đặc điểm của trách nhiệm pháp lý, giáo dục pháp luật về quyền con người góp phần hình thành nhận thức toàn diện, khoa học về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Chú thích:
1, 3. Quốc hội (2013, 2025). Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 8.



