Improving the legal framework for the National Assembly’s oversight of ethnic policy implementation in Vietnam
NCS. ThS. Nguyễn Đức Giang
Vụ Thông tin và Thư viện, Văn phòng Quốc hội
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích pháp luật về giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách dân tộc nhằm làm rõ sự phát triển của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực công tác dân tộc. Trên nền tảng hiến định về quyền giám sát tối cao và nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, bài viết đánh giá thực trạng pháp luật ở 4 phương diện: mục đích, mục tiêu giám sát; chủ thể và đối tượng giám sát; nội dung, phương thức và quy trình giám sát; hệ quả pháp lý và cơ chế xử lý sau giám sát. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường giám sát dựa trên kết quả và tác động của chính sách; thiết lập chu trình giám sát khép kín; nâng cao trách nhiệm giải trình; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động giám sát.
Từ khóa: Giám sát của Quốc hội; chính sách dân tộc; kiểm soát quyền lực nhà nước; trách nhiệm giải trình.
Abstract: This article analyzes the legal framework governing the National Assembly’s oversight of the implementation of ethnic minority policies to clarify the development of mechanisms for checking state power in the field of ethnic minority affairs. Based on the constitutional foundation of the supreme right to oversight and the principle of equality among ethnic groups, the article assesses the current state of the law across four dimensions: the purpose and objectives of oversight; the subjects and objects of oversight; the content, methods, and procedures of oversight; and the legal consequences and post-oversight resolution mechanisms. Based on this analysis, the article proposes solutions to improve the legal framework by strengthening results- and impact-based oversight; establishing a closed-loop oversight cycle; enhancing accountability; and promoting digital transformation in oversight activities.
Keywords: National Assembly oversight; ethnic minority policies; state power oversight; accountability.
1. Đặt vấn đề
Giám sát tối cao của Quốc hội là một thiết chế hiến định giữ vai trò trung tâm trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về dân tộc – một lĩnh vực có tính chiến lược, lâu dài và nhạy cảm về chính trị – xã hội. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, giám sát không chỉ dừng lại ở việc “theo dõi, xem xét” mà phải trở thành cơ chế bảo đảm trách nhiệm giải trình, phòng ngừa lạm quyền và khắc phục những khiếm khuyết trong việc tổ chức thực thi chính sách.
Chính sách dân tộc được Đảng xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị. Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/9/2019 của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; bảo đảm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, thực tiễn tổng kết cho thấy khoảng cách phát triển giữa các vùng, hiệu quả phối hợp liên ngành, cũng như chất lượng tổ chức thực hiện chính sách vẫn còn những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (viết tắt là Luật năm 2015) đã tạo lập khuôn khổ pháp lý nền tảng cho hoạt động giám sát trong một giai đoạn nhất định. Trước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước theo định hướng của Đảng, việc ban hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lập pháp về giám sát. So với Luật năm 2015, Luật năm 2025 làm rõ hơn mục đích, mục tiêu giám sát; cụ thể hóa quan hệ giữa chủ thể và đối tượng; hoàn thiện quy trình, phương thức thực hiện; đồng thời tăng cường tính ràng buộc và cơ chế xử lý các hệ quả sau giám sát.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu pháp luật về giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách dân tộc là cần thiết nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện của khuôn khổ pháp lý hiện hành và khả năng bảo đảm trách nhiệm giải trình trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách.
2. Thực trạng pháp luật về giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách dân tộc
Thứ nhất, pháp luật về mục đích, mục tiêu của hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện chính sách dân tộc. Ở tầng hiến định, mục đích giám sát chính sách dân tộc được đặt trên hai nền tảng có ý nghĩa cấu trúc: (1) Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước (Điều 69, Điều 70 Hiến pháp năm 2013); (2) Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc (Điều 5 Hiến pháp năm 2013). Sự kết hợp của hai nguyên tắc này cho thấy trong lĩnh vực dân tộc, giám sát không chỉ nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của hoạt động hành pháp mà còn nhằm bảo đảm thực thi một chuẩn mực hiến định về bình đẳng và phát triển.
Trên bình diện luật định, Luật năm 2015 quy định mục đích giám sát theo hướng chung: xem xét, đánh giá việc tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; phát hiện hạn chế; kiến nghị các biện pháp khắc phục. Cách tiếp cận này bảo đảm tính thống nhất của cơ chế giám sát trong toàn bộ hệ thống pháp luật, song thiên về kiểm tra tính tuân thủ (compliance-oriented supervision), chưa phân hóa mục tiêu giám sát theo tính chất đặc thù của từng lĩnh vực chính sách. Trong lĩnh vực dân tộc, nơi các mục tiêu phát triển thường mang tính dài hạn, liên ngành và gắn với các chỉ tiêu định lượng cụ thể, cách tiếp cận này bộc lộ những hạn chế nhất định.
Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đã xác lập hệ thống mục tiêu phát triển toàn diện, từ giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm an ninh xã hội. Đồng thời, các văn kiện của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong công tác dân tộc; đặt ra yêu cầu khách quan giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực dân tộc không thể chỉ dừng ở việc kiểm tra quy trình triển khai mà phải hướng tới đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu phát triển đã được chính Quốc hội quyết định.
Luật năm 2025, trong xu hướng tăng cường kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đã làm rõ hơn mục đích giám sát theo hướng gắn với việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách và trách nhiệm giải trình của cơ quan bị giám sát. So với Luật năm 2015, sự chuyển dịch này thể hiện bước tiến từ tư duy “giám sát tuân thủ” sang “giám sát kết quả và tác động”. Đặc biệt, trong bối cảnh Quốc hội tăng cường giám sát chuyên đề và giám sát việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, mục tiêu giám sát không chỉ là phát hiện sai sót mà còn là đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu, hiệu quả phân bổ nguồn lực và tác động thực tế đối với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, về mặt cấu trúc pháp luật, việc thiết kế rõ ràng mục tiêu giám sát hiệu quả và tác động chính sách vẫn cần tiếp tục được cụ thể hóa, nhất là thông qua các tiêu chí định lượng, yêu cầu báo cáo kết quả đầu ra (output) và kết quả cuối cùng (outcome). Khoảng trống này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật về mục đích, mục tiêu giám sát trong lĩnh vực dân tộc, nhằm bảo đảm giám sát thực sự trở thành cơ chế bảo vệ các nguyên tắc bình đẳng, phát triển bền vững và kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả.
Thứ hai, pháp luật về chủ thể và đối tượng của hoạt động giám sát. Pháp luật hiện hành, trên nền tảng Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật năm 2025, xác lập hệ thống chủ thể giám sát theo mô hình đa tầng, bao gồm: Quốc hội; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Dân tộc; các Ủy ban của Quốc hội; Đoàn đại biểu Quốc hội; đại biểu Quốc hội. Cấu trúc này phản ánh tính phân công nội bộ trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao, đồng thời bảo đảm sự kết hợp giữa giám sát ở cấp độ toàn thể và giám sát chuyên môn, chuyên đề.
Trong lĩnh vực chính sách dân tộc, Hội đồng Dân tộc giữ vị trí trung tâm trong tham mưu và tổ chức giám sát, do có chức năng thẩm tra, kiến nghị về chính sách dân tộc và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, do tính chất liên ngành của chính sách dân tộc, bao trùm giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, đất đai, an ninh – quốc phòng và phát triển kinh tế vùng đặc thù, hoạt động giám sát trong lĩnh vực này tất yếu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng Dân tộc với các Ủy ban chuyên môn khác của Quốc hội. Phạm vi giám sát đã mở rộng theo hướng tổng hợp, đa lĩnh vực và mang tính chiến lược hơn, đặc biệt thông qua việc giám sát các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Về đối tượng giám sát, pháp luật xác định bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện chính sách dân tộc. Cách thiết kế này bảo đảm bao quát toàn bộ chuỗi thực thi chính sách, từ hoạch định, phân bổ nguồn lực đến tổ chức thực hiện tại địa phương. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai các chương trình quy mô lớn như Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mối quan hệ giữa các chủ thể thực thi mang tính đan xen, đa cấp và liên ngành, làm cho cấu trúc “chủ thể – đối tượng” của quan hệ giám sát trở nên phức tạp hơn so với các lĩnh vực đơn ngành.
Từ góc độ pháp luật, một số vấn đề đặt ra:
(1) Pháp luật chưa quy định rõ cơ chế điều phối giữa Hội đồng Dân tộc với các Ủy ban khác của Quốc hội khi giám sát các chương trình liên ngành quy mô lớn. Mặc dù Luật năm 2025 đã tăng cường vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong điều hòa hoạt động giám sát, song cơ chế phối hợp chuyên môn và phân định trách nhiệm chủ trì, phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội vẫn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở thực tiễn điều hành, chưa được thiết kế thành quy trình pháp lý cụ thể.
(2) Nghĩa vụ phối hợp và cung cấp thông tin của đối tượng giám sát tuy đã được xác định, nhưng vẫn còn thiên về quy định nguyên tắc. Một số bộ, ngành, địa phương chưa cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu; việc phản hồi và thực hiện kiến nghị giám sát còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả theo dõi sau giám sát. Điều này cho thấy pháp luật chưa thiết lập đầy đủ cơ chế bảo đảm trách nhiệm giải trình và chế tài tương xứng đối với hành vi không tuân thủ nghĩa vụ phối hợp.
(3) Pháp luật chưa thiết kế rõ cơ chế huy động chuyên gia độc lập, tổ chức nghiên cứu hoặc cơ sở đào tạo tham gia hỗ trợ hoạt động giám sát trong lĩnh vực dân tộc, một lĩnh vực đòi hỏi tri thức liên ngành và am hiểu đặc thù của từng vùng, miền. Trong khi đó, yêu cầu đánh giá hiệu quả và tác động chính sách theo Luật năm 2025 đặt ra tiêu chuẩn phân tích sâu hơn về dữ liệu, chỉ tiêu và kết quả đầu ra, điều mà bộ máy giúp việc hiện tại của các cơ quan giám sát có thể chưa đáp ứng đầy đủ.
Như vậy, mặc dù hệ thống chủ thể và đối tượng giám sát đã được xác lập tương đối đầy đủ về mặt hình thức, song ở bình diện cấu trúc pháp lý, cơ chế phối hợp nội bộ giữa các chủ thể giám sát, cũng như cơ chế bảo đảm trách nhiệm của đối tượng giám sát, vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện. Đây là điều kiện quan trọng để hoạt động giám sát chính sách dân tộc thực sự vận hành như một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, pháp luật về nội dung, phương thức và quy trình hoạt động giám sát. Luật năm 2025 kế thừa và hoàn thiện hệ thống phương thức giám sát gồm: xem xét báo cáo; chất vấn và trả lời chất vấn; giám sát chuyên đề; giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giải trình; lấy phiếu tín nhiệm. So với Luật năm 2015, cách tiếp cận mới nhấn mạnh các nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch và hiệu quả, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình trực tiếp của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực chính sách dân tộc – nơi hiệu quả thực thi phụ thuộc vào điều hành liên ngành và việc phân bổ nguồn lực ở nhiều cấp độ.
Về nội dung, pháp luật cho phép giám sát toàn bộ quá trình thực thi chính sách: ban hành văn bản hướng dẫn, phân bổ vốn, tổ chức thực hiện, kết quả và trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan. Thực tiễn giám sát Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã phát hiện những vấn đề mang tính hệ thống như: chồng chéo chính sách, cơ chế phân bổ vốn bất cập, tiến độ giải ngân chậm, qua đó khẳng định vai trò “phản biện thể chế” của giám sát. Tuy nhiên, về phương diện pháp luật, nội dung giám sát vẫn thiên về đánh giá việc triển khai và tuân thủ quy định hơn là bắt buộc phải đánh giá hiệu quả và tác động của chính sách.
Pháp luật chưa thiết kế hệ thống chỉ số định lượng bắt buộc; chưa quy định nghĩa vụ công khai và chuẩn hóa dữ liệu phục vụ giám sát; và chưa hình thành đầy đủ chu trình giám sát khép kín (tiền giám sát – giám sát – hậu giám sát – tái giám sát). Vì vậy, dù khuôn khổ phương thức và quy trình đã được hoàn thiện hơn, yêu cầu chuyển mạnh sang giám sát dựa trên kết quả và tác động vẫn là vấn đề cần tiếp tục được thể chế hóa sâu hơn trong thời gian tới.
Thứ tư, pháp luật về hệ quả pháp lý và việc xử lý hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát.Theo Luật năm 2025, hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát được thể hiện thông qua kết luận giám sát, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các kiến nghị yêu cầu cơ quan chịu sự giám sát khắc phục hạn chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật. Luật xác định rõ nguyên tắc giám sát phải bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả và gắn với trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát. Như vậy, về phương diện pháp lý, kết luận và nghị quyết giám sát là căn cứ xác lập nghĩa vụ thực hiện và là cơ sở cho hoạt động giám sát lại.
Từ kết quả giám sát việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Quốc hội đã kiến nghị Chính phủ hoàn thiện cơ chế phân cấp, điều chỉnh phương thức phân bổ vốn theo hướng tập trung, tránh dàn trải; đồng thời rà soát, lồng ghép các chính sách để giảm trùng lặp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Những kiến nghị này không chỉ mang ý nghĩa khắc phục các sai sót cụ thể, mà còn có giá trị định hướng thể chế, tác động trực tiếp đến cấu trúc chính sách dân tộc trong giai đoạn tiếp theo.
Xét dưới góc độ pháp luật, cơ chế xử lý hệ quả sau giám sát vẫn còn những hạn chế: (1) Pháp luật chưa quy định chế tài cụ thể trong trường hợp cơ quan chịu sự giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận, kiến nghị giám sát. (2) Mặc dù Luật năm 2025 đặt ra nghĩa vụ báo cáo việc thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát và cho phép tiến hành giám sát lại, nhưng chưa thiết kế cơ chế bắt buộc báo cáo định kỳ với tiêu chí đánh giá định lượng rõ ràng. (3) Trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát trong trường hợp chậm khắc phục hạn chế chủ yếu vẫn được xử lý thông qua cơ chế chính trị (chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm), chưa được cấu trúc thành một chế định trách nhiệm pháp lý độc lập. Do đó, hệ quả pháp lý của giám sát trong lĩnh vực chính sách dân tộc hiện vẫn mang tính định hướng và khuyến nghị mạnh về chính trị, trong khi mức độ ràng buộc pháp lý và cơ chế hậugiám sát chưa tương xứng với yêu cầu kiểm soát quyền lực của nhà nước. Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường trách nhiệm giải trình, xác lập nghĩa vụ báo cáo định kỳ bắt buộc và gắn hệ quả giám sát với cơ chế trách nhiệm cá nhân là điều kiện cần thiết để bảo đảm giám sát thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn.
Như vậy, pháp luật hiện hành đã xác lập tương đối đầy đủ nền tảng hiến định và luật định cho hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực chính sách dân tộc. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền giám sát tối cao của Quốc hội và nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc, Luật năm 2025 đã cụ thể hóa thẩm quyền, hình thức và quy trình giám sát theo hướng thống nhất, minh bạch và hiệu quả. Cấu trúc pháp luật được thiết kế áp dụng chung cho mọi lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có chính sách dân tộc, qua đó bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và tránh phân mảnh thể chế. Đồng thời, pháp luật đã ghi nhận rõ hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát thông qua nghị quyết, kết luận và quyền yêu cầu giải trình, khắc phục, hoàn thiện chính sách; thực tiễn giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia cho thấy nhiều kiến nghị đã góp phần điều chỉnh cơ chế phân bổ nguồn lực và hoàn thiện thể chế thực hiện chính sách dân tộc. Nhìn tổng thể, khuôn khổ pháp luật hiện hành đã hình thành một thiết chế giám sát tương đối hoàn chỉnh về mặt hình thức và thủ tục, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong lĩnh vực công tác dân tộc.
Bên cạnh đó, pháp luật về giám sát trong lĩnh vực chính sách dân tộc vẫn bộc lộ một số hạn chế mang tính cấu trúc. Mô hình pháp luật hiện hành còn thiên về kiểm soát tính hợp pháp hơn là kiểm soát hiệu quả và tác động chính sách, khi trọng tâm giám sát vẫn đặt vào việc xem xét sự tuân thủ quy định mà chưa thiết kế đầy đủ cơ chế đánh giá kết quả đầu ra và mức độ đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, cũng như thu hẹp khoảng cách vùng miền. Đồng thời, cơ chế bảo đảm thực thi kết luận giám sát chưa tương xứng do thiếu chế tài rõ ràng đối với trường hợp chậm hoặc không thực hiện kiến nghị, khiến hệ quả pháp lý của giám sát còn nghiêng về tính chính trị hơn là tính ràng buộc pháp lý. Cấu trúc pháp luật chưa phản ánh đầy đủ tính liên ngành, liên cấp của chính sách dân tộc và chưa luật hóa đầy đủ yêu cầu minh bạch hóa dữ liệu, cũng như việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát. Vì vậy, dù đã hình thành khung quyền lực và thủ tục tương đối hoàn chỉnh, pháp luật vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường tính ràng buộc, trách nhiệm giải trình và giám sát dựa trên kết quả, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực quản trị trong giai đoạn mới.
3. Một số giải pháp
Một là, hoàn thiện pháp luật theo hướng thiết lập mô hình giám sát dựa trên kết quả và tác động của chính sách, bảo đảm hoạt động giám sát của Quốc hội thực sự trở thành công cụ kiểm soát quyền lực gắn với hiệu quả thực thi chính sách dân tộc, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Bổ sung vào Luật năm 2025 quy định mang tính nguyên tắc: đối với nghị quyết của Quốc hội về chính sách phát triển, nội dung giám sát bắt buộc phải bao gồm: đánh giá mức độ đạt được mục tiêu đã được Quốc hội quyết nghị; đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công; đánh giá tác động kinh tế – xã hội đối với đối tượng thụ hưởng. Quy định này nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa thẩm quyền quyết định chính sách và thẩm quyền giám sát việc thực hiện chính sách của Quốc hội.
Luật hóa nghĩa vụ cung cấp dữ liệu định lượng chuẩn hóa phục vụ giám sát. Các cơ quan chịu sự giám sát phải có trách nhiệm xây dựng, cập nhật và công khai hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện chính sách dân tộc; người đứng đầu chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác của dữ liệu. Việc này phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật về đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và tăng cường đánh giá hiệu quả trong việc thi hành pháp luật.
Quy định rõ trong luật về cơ chế sử dụng đánh giá độc lập và tham vấn chuyên gia trong các cuộc giám sát chuyên đề quy mô lớn, đặc biệt đối với các chương trình mục tiêu quốc gia. Cơ chế này nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học và liên ngành của hoạt động giám sát, phù hợp với yêu cầu “đánh giá hiệu quả của pháp luật sau ban hành” được nêu trong Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Bổ sung quy định yêu cầu kết luận giám sát phải xác định rõ mức độ hoàn thành của từng mục tiêu chính sách và trách nhiệm tương ứng của cơ quan, cá nhân liên quan, làm căn cứ cho giai đoạn hậu giám sát và tái giám sát.
Hai là, hoàn thiện cơ chế điều phối, giám sát và trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện chính sách dân tộc. Pháp luật về giám sát cần được hoàn thiện theo hướng thiết lập cơ chế điều phối thống nhất đối với các chính sách liên ngành, trong đó chính sách dân tộc là một ví dụ điển hình. Đối với các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc các chính sách có phạm vi tác động đa lĩnh vực, luật cần quy định rõ cơ quan chủ trì giám sát và cơ chế phối hợp bắt buộc giữa các cơ quan của Quốc hội, thay vì để việc phân công chủ yếu dựa trên thực tiễn điều hành. Việc xác lập rõ vai trò trung tâm của Hội đồng Dân tộc trong các cuộc giám sát liên quan đến chính sách dân tộc sẽ bảo đảm tính chuyên sâu, đồng thời tránh trùng lặp hoặc phân tán nội dung giám sát.
Pháp luật cần cụ thể hóa nghĩa vụ phối hợp và cung cấp thông tin của các bộ, ngành và địa phương. Nghĩa vụ này phải được quy định rõ thời hạn, chuẩn dữ liệu và trách nhiệm pháp lý, gắn với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát. Định hướng này phù hợp với yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm được xác định trong Nghị quyết số 66-NQ/TW đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Bên cạnh đó, cần luật hóa cơ chế huy động chuyên gia độc lập, cơ sở nghiên cứu và tăng cường vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các cuộc giám sát chuyên đề quy mô lớn. Chính sách dân tộc có tính liên ngành và đặc thù theo vùng, miền; vì vậy, giám sát hiệu quả đòi hỏi nền tảng tri thức đa chiều và sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội. Việc thể chế hóa cơ chế này không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn của hoạt động giám sát mà còn góp phần thực hiện yêu cầu phát huy giám sát và phản biện xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật.
Ba là, hoàn thiện pháp luật theo hướng thiết lập chu trình giám sát khép kín và tăng cường tính ràng buộc của hậu giám sát. Để bảo đảm giám sát chính sách dân tộc thực sự phát huy hiệu lực, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng thiết lập chu trình giám sát khép kín, bao gồm: tiền giám sát – giám sát – hậu giám sát – tái giám sát.
Ở giai đoạn tiền giám sát, luật cần quy định rõ nghĩa vụ xây dựng kế hoạch giám sát gắn với mục tiêu cụ thể, tiêu chí đánh giá và yêu cầu dữ liệu đầu vào ngay từ khi quyết định chương trình giám sát. Điều này bảo đảm hoạt động giám sát không chỉ phản ứng sau khi có vấn đề phát sinh mà còn chủ động định hình nội dung và chuẩn mực đánh giá ngay từ đầu, phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành pháp luật và đánh giá hiệu quả chính sách như được nêu trong Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Ở giai đoạn thực hiện giám sát, pháp luật cần nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát trong việc báo cáo, giải trình và cam kết thực hiện các kết luận giám sát. Kết luận giám sát phải xác định rõ nội dung cần khắc phục, thời hạn thực hiện và chủ thể chịu trách nhiệm chính, tránh tình trạng kết luận chung chung, khó kiểm chứng.
Ở giai đoạn hậu giám sát, luật cần thiết lập cơ chế bắt buộc báo cáo định kỳ việc thực hiện kết luận giám sát, gắn với quyền tiến hành giám sát lại trong trường hợp nội dung chưa được thực hiện đầy đủ. Cơ chế này phải được quy định với tính chất bắt buộc về thời hạn và trách nhiệm, thay vì chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào chương trình giám sát hằng năm. Việc thể chế hóa tái giám sát như một bước tất yếu trong chu trình giám sát sẽ khắc phục khoảng trống giữa “ban hành nghị quyết giám sát” và “bảo đảm thực hiện nghị quyết”.
Đồng thời, pháp luật cần gắn kết luận giám sát với cơ chế đánh giá trách nhiệm của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ. Khi kết luận giám sát được tích hợp vào quy trình đánh giá trách nhiệm, tính ràng buộc pháp lý của giám sát sẽ được nâng cao một cách thực chất.
Việc hoàn thiện theo hướng thiết lập chu trình giám sát khép kín không chỉ nâng cao hiệu lực của từng cuộc giám sát cụ thể, mà còn góp phần hiện thực hóa yêu cầu “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật”, “tăng cường kiểm soát quyền lực” và “nâng cao hiệu quả thực thi” được xác định trong Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Bốn là, hoàn thiện pháp luật về minh bạch hóa dữ liệu và chuyển đổi số trong hoạt động giám sát. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hiện đại hóa quản trị quốc gia, giám sát của Quốc hội không thể chỉ dựa trên báo cáo hành chính truyền thống, mà phải được đặt trên nền tảng dữ liệu số, minh bạch và có khả năng kiểm chứng độc lập. Vì vậy, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng thiết lập cơ sở pháp lý rõ ràng cho chuyển đổi số trong hoạt động giám sát chính sách dân tộc.
Cần luật hóa nghĩa vụ xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát đối với các chương trình, chính sách phát triển quy mô quốc gia, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cơ sở dữ liệu này phải bảo đảm tính chuẩn hóa, liên thông giữa các bộ, ngành và địa phương, đồng thời cho phép cơ quan giám sát truy cập, đối chiếu và phân tích theo thời gian thực. Định hướng này phù hợp với yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật được xác định trong Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Pháp luật cần quy định nghĩa vụ công khai hóa dữ liệu giám sát ở mức độ phù hợp, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ sở nghiên cứu và người dân tham gia giám sát xã hội. Minh bạch dữ liệu không chỉ nâng cao chất lượng giám sát của Quốc hội mà còn góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan thực thi chính sách dân tộc. Đồng thời, cần bổ sung quy định về việc ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và hệ thống cảnh báo sớm trong quá trình theo dõi việc thực hiện kết luận giám sát. Việc này giúp chuyển hoạt động giám sát từ trạng thái “hậu kiểm định kỳ” sang “theo dõi liên tục”, kịp thời phát hiện rủi ro trong việc phân bổ vốn, tiến độ thực hiện hoặc chồng chéo chính sách.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc trong tình hình mới.
3. Quốc hội (2015). Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.
4. Quốc hội (2025). Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025.
5. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2024). Báo cáo tóm tắt đánh giá kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2023 và triển khai chương trình giám sát năm 2024.



