Nâng cao năng lực quản trị kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo phát triển kinh tế du lịch làng nghề Hà Nội

Strengthening economic governance capacity and fostering innovation to advance craft village tourism development in Hanoi

ThS. Lê Thanh Hà
NCS Trường Đại học Thành Đô

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Hà Nội đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị và tái cấu trúc hệ thống quản trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành cơ chế quản lý theo hướng hai cấp, yêu cầu nâng cao năng lực quản trị kinh tế đối với lĩnh vực du lịch làng nghề ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích vai trò của quản trị kinh tế và đổi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế du lịch làng nghề Hà Nội trong giai đoạn mới; đánh giá thực trạng quản lý, tổ chức điều hành và năng lực cạnh tranh của các làng nghề du lịch; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái du lịch làng nghề hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế.

Từ khóa: Quản trị kinh tế; đổi mới sáng tạo; du lịch làng nghề; Hà Nội; chuyển đổi số.

Abstract: Against the backdrop of Hanoi’s efforts to intensify administrative reform, refine the urban governance model, and restructure the governance system toward greater streamlining, effectiveness, and efficiency following the reorganization of its administrative structure and the implementation of a two-tier management mechanism the need to enhance economic governance capabilities in the traditional craft village tourism sector has become increasingly urgent. This article analyzes the role of economic governance and innovation in the development of Hanoi’s craft village tourism economy in this new phase; assesses the current state of management, organizational operations, and competitive capacity of craft village tourism destinations; and, based on this, proposes solutions to enhance governance effectiveness, promote innovation, and build a modern, sustainable, and internationally integrated craft village tourism ecosystem.

Keywords: Economic governance; innovation; craft village tourism; Hanoi; digitaltransformation.

1. Đặt vấn đề

Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia mà còn là địa phương có bề dày văn hóa nghề thủ công truyền thống lớn nhất Việt Nam. Trải qua hàng trăm năm phát triển, các làng nghề Thăng Long – Hà Nội đã hình thành hệ sinh thái sản xuất, thương mại và văn hóa đặc trưng, phản ánh trình độ kỹ nghệ, bản sắc văn hóa và năng lực sáng tạo của cộng đồng cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Trong xu thế phát triển kinh tế sáng tạo và kinh tế trải nghiệm hiện nay, làng nghề không còn đơn thuần là không gian sản xuất thủ công mà đang trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và kinh tế địa phương.

Những năm gần đây, Hà Nội xác định phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa là một trong những động lực tăng trưởng mới của Thủ đô. Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đã đặt mục tiêu đưa Hà Nội trở thành trung tâm sáng tạo của khu vực Đông Nam Á. Trong đó, phát triển kinh tế du lịch làng nghề được xem là một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.

Sau quá trình tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị và sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, phân cấp mạnh hơn cho cơ sở, yêu cầu nâng cao năng lực quản trị kinh tế đối với du lịch làng nghề ngày càng rõ nét. Mô hình quản trị mới đòi hỏi sự phối hợp hiệu quả giữa cấp thành phố và cấp cơ sở trong quy hoạch, đầu tư, quản lý điểm đến, bảo tồn di sản, kiểm soát môi trường và hỗ trợ doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, tác động của chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nhu cầu du lịch trải nghiệm hậu đại dịch đã tạo ra cả cơ hội và thách thức mới đối với các làng nghề Hà Nội. Nếu không đổi mới mô hình quản trị và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhiều làng nghề sẽ đối mặt nguy cơ suy giảm sức cạnh tranh, mất bản sắc hoặc tụt hậu trong chuỗi giá trị du lịch hiện đại.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu nâng cao năng lực quản trị kinh tế gắn với thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm phát triển kinh tế du lịch làng nghề Hà Nội có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2. Vai trò của quản trị kinh tế và đổi mới sáng tạo đối với phát triển du lịch làng nghề

Quản trị kinh tế trong phát triển du lịch làng nghề được hiểu là quá trình Nhà nước và các chủ thể liên quan sử dụng hệ thống công cụ, chính sách, quy hoạch và cơ chế phối hợp để định hướng, điều tiết và hỗ trợ hoạt động sản xuất – kinh doanh – du lịch tại các làng nghề nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Khác với quản lý hành chính truyền thống, quản trị kinh tế hiện đại nhấn mạnh đến sự tham gia đa chủ thể, quản trị theo kết quả, ứng dụng dữ liệu số và tăng cường tính thích ứng của chính sách.

Đối với Hà Nội, nâng cao năng lực quản trị kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng bởi các làng nghề phân bố rộng trên nhiều địa bàn ngoại thành, như: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Hoài Đức, Đan Phượng, Quốc Oai, Sơn Tây… với đặc điểm kinh tế – xã hội và năng lực phát triển không đồng đều. Nếu thiếu cơ chế điều phối hiệu quả, hoạt động du lịch làng nghề dễ rơi vào tình trạng phát triển tự phát, cạnh tranh thiếu lành mạnh, sản phẩm trùng lặp, ô nhiễm môi trường và suy giảm giá trị văn hóa.

Trong khi đó, đổi mới sáng tạo là yếu tố quyết định khả năng nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của du lịch làng nghề trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đổi mới sáng tạo không chỉ giới hạn ở công nghệ mà còn bao gồm đổi mới sản phẩm, đổi mới mô hình kinh doanh, đổi mới marketing, đổi mới tổ chức quản trị và đổi mới trải nghiệm của du khách,…

Thực tiễn cho thấy, những làng nghề có khả năng kết hợp giữa bảo tồn truyền thống với sáng tạo hiện đại thường đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Làng gốm Bát Tràng là ví dụ tiêu biểu khi kết hợp trải nghiệm làm gốm, không gian sáng tạo, thương mại điện tử, du lịch check-in và các hoạt động văn hóa cộng đồng để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Tương tự, lụa Vạn Phúc đã phát triển các tuyến phố đi bộ, không gian trình diễn nghề, sản phẩm thời trang sáng tạo và lễ hội văn hóa nhằm nâng cao giá trị thương hiệu.

Đổi mới sáng tạo còn giúp làng nghề thích ứng với xu hướng tiêu dùng mới, như du lịch xanh, du lịch trải nghiệm, du lịch số và du lịch cá nhân hóa. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các điểm đến, khả năng tạo ra sản phẩm khác biệt và trải nghiệm độc đáo sẽ quyết định vị thế của các làng nghề Hà Nội.

3. Thực trạng quản trị kinh tế và đổi mới sáng tạo trong phát triển du lịch làng nghề Hà Nội

3.1. Kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, Hà Nội đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm phát triển kinh tế du lịch làng nghề. Thành phố đã triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Chương trình phát triển công nghiệp văn hóa, Chương trình phát triển du lịch thành phố Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025 và nhiều kế hoạch hỗ trợ bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, tính đến năm 2025, toàn thành phố có khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề; trong đó có hơn 330 làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận, chiếm tỷ lệ lớn nhất cả nước1. Các làng nghề thu hút hàng trăm nghìn lao động thường xuyên, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế nông thôn và giải quyết việc làm cho người dân ngoại thành.

Du lịch làng nghề đang dần trở thành sản phẩm đặc trưng của Hà Nội. Nhiều điểm đến như Bát Tràng, Vạn Phúc, Đường Lâm, Sơn Đồng, Hạ Thái, Chuông, Phú Vinh… đã được đưa vào các tuyến du lịch của doanh nghiệp lữ hành. Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành du lịch Thủ đô khi ước đón trên 33,7 triệu lượt khách, tăng 20,87% so với năm 2024. Trong đó, khách quốc tế đạt trên 7,82 triệu lượt, tăng 22,76%, còn khách nội địa đạt trên 25,88 triệu lượt, tăng 20,32%. Kết quả này phản ánh sức hấp dẫn ngày càng rõ nét của Hà Nội trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến khu vực ngày càng gay gắt. Cùng với lượng khách tăng mạnh, tổng thu từ du lịch ước đạt trên 134,46 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với năm trước2. Đáng chú ý, sự gia tăng doanh thu gắn liền với xu hướng kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao mức chi tiêu của du khách, đặc biệt ở phân khúc khách quốc tế và khách có khả năng chi trả cao. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy du lịch Hà Nội đang dịch chuyển từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tang. Một phần đáng kể trong số này tham gia các hoạt động du lịch văn hóa và trải nghiệm làng nghề.

Việc phát triển các trung tâm thiết kế sáng tạo, không gian văn hóa cộng đồng và phố nghề đã tạo động lực mới cho các làng nghề truyền thống. Hà Nội cũng đang thúc đẩy xây dựng mạng lưới “Thành phố sáng tạo” trong khuôn khổ UNESCO, tạo điều kiện để các làng nghề tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Sau quá trình cải cách bộ máy và tăng cường phân cấp, nhiều địa phương đã chủ động hơn trong xúc tiến thương mại, tổ chức lễ hội nghề, quảng bá sản phẩm và xây dựng mô hình du lịch cộng đồng. Cơ chế phối hợp giữa chính quyền thành phố với cơ sở từng bước được cải thiện theo hướng linh hoạt và sát thực tiễn hơn.

3.2. Những hạn chế và bất cập

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song năng lực quản trị kinh tế đối với du lịch làng nghề Hà Nội vẫn còn không ít hạn chế.

Trước hết, quy hoạch phát triển du lịch làng nghề còn thiếu đồng bộ và chưa gắn chặt với quy hoạch không gian đô thị, quy hoạch giao thông và quy hoạch bảo tồn văn hóa. Một số làng nghề phát triển mạnh về du lịch nhưng hạ tầng giao thông, bãi đỗ xe, hệ thống vệ sinh công cộng và cơ sở lưu trú chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng quá tải cục bộ vào dịp cuối tuần hoặc mùa lễ hội vẫn diễn ra tại Bát Tràng, Vạn Phúc và một số điểm du lịch nổi tiếng.

Thứ hai, cơ chế phối hợp quản lý giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương còn chồng chéo. Du lịch làng nghề liên quan đồng thời đến lĩnh vực văn hóa, du lịch, công thương, nông nghiệp, xây dựng, môi trường và giao thông, nhưng cơ chế điều phối liên ngành chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn tới tình trạng chính sách hỗ trợ phân tán, thiếu tính tích hợp và khó triển khai đồng bộ.

Thứ ba, năng lực đổi mới sáng tạo của nhiều cơ sở sản xuất còn hạn chế. Không ít làng nghề vẫn chủ yếu sản xuất theo phương thức truyền thống, thiếu đội ngũ thiết kế, thiếu ứng dụng công nghệ số và chưa khai thác hiệu quả thương mại điện tử. Một số sản phẩm còn trùng lặp mẫu mã, thiếu tính thẩm mỹ hiện đại và chưa đáp ứng tiêu chuẩn thị trường quốc tế.

Thứ tư, ô nhiễm môi trường làng nghề vẫn là vấn đề nghiêm trọng. Nhiều làng nghề chế biến nông sản, dệt nhuộm, sơn mài, tái chế nhựa… gây áp lực lớn lên môi trường nước, không khí và chất thải rắn. Trong khi đó, nguồn lực đầu tư cho xử lý môi trường còn hạn chế, làm giảm sức hấp dẫn du lịch và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của cộng đồng cư dân.

Thứ năm, chất lượng nguồn nhân lực du lịch làng nghề chưa đáp ứng yêu cầu mới. Phần lớn lao động tại làng nghề chưa được đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh, marketing số, ngoại ngữ, kỹ năng du lịch cộng đồng và kỹ năng phục vụ khách quốc tế.

3.3. Tác động của mô hình quản trị mới sau sắp xếp tổ chức bộ máy

Việc tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tinh gọn đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong quản trị địa phương. Các địa phương ngoại thành Hà Nội có điều kiện chủ động hơn trong huy động nguồn lực xã hội hóa, xúc tiến đầu tư và phát triển sản phẩm du lịch đặc thù.

Mô hình quản trị theo hướng giảm tầng nấc trung gian giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh du lịch làng nghề. Đồng thời, việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý công đã hỗ trợ tốt hơn cho công tác cấp phép, quảng bá điểm đến, cập nhật dữ liệu du lịch và kết nối dịch vụ công trực tuyến.

Sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, chức năng quản lý giữa các cơ quan chuyên môn từng bước được điều chỉnh theo hướng liên thông hơn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực du lịch làng nghề vốn mang tính liên ngành cao, liên quan đồng thời đến quản lý văn hóa, công thương, nông nghiệp, môi trường, xây dựng và du lịch. Việc tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền giúp nhiều địa phương chủ động hơn trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn như cấp phép hoạt động du lịch, quản lý không gian công cộng, tổ chức sự kiện văn hóa nghề truyền thống và kết nối với doanh nghiệp lữ hành.

Một số địa phương ngoại thành Hà Nội đã bước đầu tận dụng hiệu quả mô hình quản trị mới để xây dựng các mô hình phát triển du lịch làng nghề theo hướng linh hoạt và thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường. Làng gốm Bát Tràng đã thúc đẩy mạnh các hoạt động chuyển đổi số trong quảng bá và bán hàng trực tuyến; tuyến phố lụa Vạn Phúc (Hà Đông) kết hợp không gian đi bộ và trải nghiệm văn hóa; Thường Tín đẩy mạnh liên kết giữa làng nghề sơn mài Hạ Thái (Duyên Thái) với các doanh nghiệp thiết kế nội thất và du lịch sáng tạo để tạo ra các sản phẩm ứng dụng thực tế nhằm thu hút du khách.

Việc phân cấp mạnh hơn cho cơ sở cũng góp phần nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản nghề truyền thống. Trước đây, nhiều hoạt động sửa chữa, tôn tạo không gian làng nghề hoặc tổ chức sự kiện văn hóa phải trải qua nhiều tầng phê duyệt, dẫn tới chậm tiến độ và thiếu tính linh hoạt. Trong mô hình quản trị mới, chính quyền cơ sở có điều kiện chủ động hơn trong quản lý và huy động nguồn lực xã hội hóa.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, mô hình quản trị mới cũng bộc lộ một số khó khăn và thách thức. Năng lực cán bộ quản lý ở một số địa phương chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số và quản trị hiện đại. Một số đơn vị còn lúng túng trong phân định trách nhiệm giữa các cơ quan chuyên môn sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Điều này ảnh hưởng tới hiệu quả phối hợp trong xử lý các vấn đề liên ngành như môi trường, quản lý xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng.

Ngoài ra, việc phân cấp mạnh cho địa phương nếu không đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát và chuẩn hóa quy trình quản lý có thể dẫn tới tình trạng phát triển thiếu đồng bộ giữa các địa bàn. Một số nơi có khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa tốt sẽ phát triển nhanh, trong khi những địa bàn còn khó khăn có nguy cơ tụt hậu. Vì vậy, Hà Nội cần xây dựng cơ chế điều phối thống nhất ở cấp thành phố nhằm bảo đảm cân bằng giữa tính chủ động của cơ sở với yêu cầu phát triển đồng bộ toàn hệ thống.

Trong bối cảnh Hà Nội triển khai mạnh mẽ Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2024 và chiến lược chuyển đổi số toàn diện, mô hình quản trị mới cần được tiếp tục hoàn thiện theo hướng quản trị đô thị thông minh, quản trị dựa trên dữ liệu và lấy người dân – doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch làng nghề trong giai đoạn tới.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và mô hình quản trị liên ngành theo hướng hiện đại.

Trong điều kiện mô hình quản trị địa phương đang chuyển dịch theo hướng tinh gọn và tăng cường phân quyền, Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý đối với kinh tế du lịch làng nghề theo hướng tích hợp, linh hoạt và thích ứng nhanh với biến động thị trường. Thực tiễn cho thấy các chính sách liên quan đến làng nghề hiện vẫn phân tán ở nhiều lĩnh vực khác nhau như công thương, nông nghiệp, văn hóa, du lịch và môi trường, dẫn tới thiếu tính liên kết trong triển khai.

Để khắc phục tình trạng này, thành phố cần xây dựng cơ chế điều phối thống nhất giữa các sở, ngành và chính quyền cơ sở; hình thành đầu mối chuyên trách hoặc trung tâm điều phối phát triển du lịch làng nghề có chức năng kết nối dữ liệu, hỗ trợ chính sách và giám sát thực hiện. Cơ chế điều phối cần bảo đảm tính liên thông giữa quy hoạch không gian làng nghề, phát triển hạ tầng, bảo tồn văn hóa và khai thác du lịch.

Song song với đó, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản trị du lịch làng nghề theo hướng định lượng, bao gồm các chỉ tiêu về thu hút khách du lịch, doanh thu, bảo vệ môi trường, chất lượng dịch vụ, mức độ hài lòng của du khách và hiệu quả bảo tồn di sản. Việc quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả đầu ra sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong điều hành.

Thành phố cũng cần đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về làng nghề Hà Nội. Cơ sở dữ liệu này không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn hỗ trợ doanh nghiệp lữ hành, nhà đầu tư và du khách tiếp cận thông tin nhanh chóng. Việc tích hợp dữ liệu số với nền tảng quản trị đô thị thông minh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dự báo nhu cầu thị trường và quản trị điểm đến.

Thứ hai, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển du lịch làng nghề

Đổi mới sáng tạo cần được xác định là động lực cốt lõi của phát triển kinh tế du lịch làng nghề trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các điểm đến văn hóa. Hà Nội không thể phát triển du lịch làng nghề theo mô hình truyền thống dựa chủ yếu vào bán sản phẩm thủ công đơn thuần mà cần chuyển mạnh sang mô hình kinh tế trải nghiệm, kinh tế sáng tạo và kinh tế số.

Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các làng nghề. Thành phố cần hỗ trợ hình thành các trung tâm thiết kế sáng tạo, không gian trải nghiệm văn hóa, khu trình diễn nghề và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo gắn với nghề truyền thống. Việc kết nối nghệ nhân với nhà thiết kế, trường đại học, startup công nghệ và doanh nghiệp văn hóa sẽ tạo điều kiện để phát triển các sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao.

Đối với chuyển đổi số, Hà Nội cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, quản lý và kinh doanh du lịch làng nghề. Các nền tảng số như bản đồ du lịch thông minh, hệ thống đặt vé trực tuyến, tour thực tế ảo, thanh toán điện tử và thương mại điện tử xuyên biên giới cần được triển khai rộng rãi.

Hiện nay, nhiều làng nghề Hà Nội đã bước đầu tiếp cận nền tảng số nhưng mức độ ứng dụng còn chưa đồng đều. Làng gốm Bát Tràng là một trong số ít địa phương đã hình thành hệ sinh thái kinh doanh trực tuyến khá phát triển với hoạt động livestream bán hàng, trải nghiệm làm gốm trực tuyến và quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội quốc tế. Tuy nhiên, phần lớn các làng nghề khác vẫn gặp khó khăn về nhân lực số, kỹ năng marketing và nguồn vốn đầu tư công nghệ.

Do đó, thành phố cần có chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo kỹ năng số cho các hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp làng nghề. Đồng thời, cần xây dựng chương trình hỗ trợ sở hữu trí tuệ, đăng ký thương hiệu quốc tế và truy xuất nguồn gốc sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thủ công Hà Nội trên thị trường toàn cầu.

Thứ ba, phát triển hạ tầng đồng bộ và xây dựng môi trường du lịch bền vững.

Hạ tầng du lịch là điều kiện nền tảng quyết định chất lượng trải nghiệm và khả năng kết nối thị trường của các làng nghề. Trong nhiều năm qua, mặc dù Hà Nội đã đầu tư đáng kể cho giao thông nông thôn và hạ tầng du lịch, song nhiều làng nghề vẫn thiếu bãi đỗ xe, hệ thống biển chỉ dẫn, trung tâm đón tiếp khách và không gian công cộng phục vụ du lịch.

Để giải quyết vấn đề này, thành phố cần ưu tiên đầu tư hạ tầng theo hướng hình thành các cụm du lịch làng nghề liên kết vùng. Hệ thống giao thông cần được kết nối thuận lợi giữa khu vực trung tâm với các địa bàn có tiềm năng du lịch nghề truyền thống như Gia Lâm, Thường Tín, Phú Xuyên, Sơn Tây, Chương Mỹ và Đan Phượng.

Bên cạnh hạ tầng cứng, hạ tầng số cũng cần được chú trọng đầu tư nhằm hỗ trợ du khách tiếp cận dịch vụ nhanh chóng và thuận tiện hơn. Việc phủ sóng wifi miễn phí tại các điểm du lịch, xây dựng hệ thống hướng dẫn tự động đa ngôn ngữ và tích hợp dữ liệu du lịch trên nền tảng số sẽ góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.

Đặc biệt, bảo vệ môi trường là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch làng nghề bền vững. Thực tế cho thấy, nhiều làng nghề Hà Nội đang chịu áp lực lớn về ô nhiễm nước thải, khí thải và chất thải rắn. Tình trạng ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng tới đời sống cư dân mà còn làm giảm sức hấp dẫn của điểm đến.

Do đó, Hà Nội cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung, hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn và thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất thủ công truyền thống. Thành phố cũng cần tăng cường thanh tra, kiểm tra môi trường và có cơ chế hỗ trợ tín dụng xanh cho các cơ sở sản xuất đầu tư công nghệ xử lý chất thải.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và cộng đồng sáng tạo.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của du lịch làng nghề Hà Nội là chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Phần lớn lao động tại làng nghề có tay nghề thủ công tốt nhưng thiếu kỹ năng quản trị, marketing, ngoại ngữ và tổ chức hoạt động du lịch trải nghiệm.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực không chỉ cần kỹ năng nghề mà còn phải có năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng công nghệ và tư duy kinh doanh hiện đại. Vì vậy, Hà Nội cần xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu cho du lịch làng nghề.

Các chương trình đào tạo cần tập trung vào quản trị du lịch cộng đồng, kỹ năng hướng dẫn du lịch, marketing số, thương mại điện tử, thiết kế sản phẩm sáng tạo và kỹ năng ngoại ngữ. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nhằm gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Bên cạnh đó, cần có chính sách tôn vinh và hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề cho thế hệ trẻ. Nghệ nhân không chỉ là người giữ gìn kỹ thuật truyền thống mà còn là chủ thể sáng tạo văn hóa của làng nghề. Việc xây dựng cộng đồng sáng tạo trẻ tại các làng nghề sẽ góp phần tạo ra động lực đổi mới và bảo đảm tính kế thừa văn hóa.

Thứ năm, đẩy mạnh liên kết vùng và hội nhập quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa và phát triển kinh tế sáng tạo, du lịch làng nghề Hà Nội cần được đặt trong mối liên kết vùng và chuỗi giá trị quốc tế rộng lớn hơn. Thành phố cần tăng cường liên kết với các tỉnh đồng bằng sông Hồng để hình thành các tuyến du lịch văn hóa – làng nghề liên vùng.

Việc kết nối Hà Nội với Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình và Hải Dương sẽ tạo ra chuỗi trải nghiệm đa dạng về văn hóa nghề truyền thống, góp phần kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách.

Đồng thời, Hà Nội cần đẩy mạnh quảng bá quốc tế thông qua các hội chợ du lịch, triển lãm thủ công mỹ nghệ, nền tảng số và mạng lưới Thành phố sáng tạo UNESCO. Các sản phẩm làng nghề cần được xây dựng thương hiệu theo tiêu chuẩn quốc tế, gắn với câu chuyện văn hóa và giá trị bản sắc riêng.

Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế trong đào tạo, thiết kế sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường xuất khẩu sẽ tạo điều kiện để du lịch làng nghề Hà Nội hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

5. Kết luận

Trong bối cảnh Hà Nội đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao năng lực quản trị kinh tế gắn với thúc đẩy đổi mới sáng tạo là yêu cầu tất yếu đối với phát triển kinh tế du lịch làng nghề.

Thực tiễn cho thấy, các làng nghề truyền thống không chỉ là không gian sản xuất thủ công mà còn là nguồn lực văn hóa – kinh tế đặc biệt quan trọng của Thủ đô. Nếu được quản trị hiệu quả và phát huy đúng tiềm năng sáng tạo, du lịch làng nghề sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, tạo việc làm, bảo tồn di sản và quảng bá hình ảnh Hà Nội ra thế giới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, Hà Nội cần tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị theo hướng hiện đại, liên ngành và dựa trên dữ liệu số; đồng thời đẩy mạnh phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở. Thành phố cũng cần tập trung phát triển hạ tầng đồng bộ, bảo vệ môi trường, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chú thích:
1. UBND thành phố Hà Nội (2025). Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Năm 2025, du lịch Hà Nội đón trên 33,7 triệu lượt khách, doanh thu đạt hơn 134.000 tỷ đồng. https://bvhttdl.gov.vn/nam-2025-du-lich-ha-noi-don-tren-337-trieu-luot-khach-doanh-thu-dat-hon-134000-ty-dong-20251225145641446.htm, ngày 25/12/2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
3. Cục Thống kê thành phố Hà Nội (2025). Niên giám thống kê Hà Nội năm 2024. H. NXB Thống kê.
4. Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
5. Quốc hội (2024). Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2024.
6. Sở Du lịch Hà Nội (2025). Báo cáo kết quả hoạt động du lịch Hà Nội năm 2025.
7. Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội (2026). Báo cáo tổng hợp về phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
8. UBND thành phố Hà Nội (2025). Kế hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội giai đoạn 2025 – 2030.