Phát triển kinh tế tuần hoàn tại tỉnh Thái Nguyên

Developing a circular economy in Thai Nguyen Province

ThS. Lê Thị Thu Huyền
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh,  Đại học Thái Nguyên

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích một số điểm chính trong thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn tại tỉnh Thái Nguyên về định hướng thể chế, chính sách và phát triển công nghiệp, nông nghiệp, hạ tầng môi trường. Tỉnh Thái Nguyên đã thiết lập được một số tiền đề quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế tuần hoàn nhờ quy mô công nghiệp lớn, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chi phối xuất khẩu, vùng nguyên liệu chè có giá trị cao và sự xuất hiện của các chương trình nông nghiệp tuần hoàn xanh. Tuy nhiên, sự chuyển đổi này còn ở giai đoạn khởi động, các yếu tố của kinh tế tuần hoàn đã xuất hiện nhưng chưa đồng bộ. Từ thực trạng đó, bài viết thảo luận một số nội dung chính sách ưu tiên nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

Từ khóa: Kinh tế tuần hoàn; công nghiệp; nông nghiệp; hạ tầng môi trường; tỉnh Thái Nguyên.

Abstract: This article analyzes several key aspects of the current state of circular economy development in Thai Nguyen Province, focusing on institutional and policy orientations as well as industrial, agricultural, and environmental infrastructure development. Based on reports and statistical data from local authorities and relevant agencies, Thai Nguyen has established several important preconditions for the transition to a circular economy, thanks to its large industrial base, the dominant role of the foreign direct investment (FDI) sector in exports, high-value tea-growing areas, and the emergence of green circular agriculture initiatives. However, this transition remains at an early stage. Although certain elements of the circular economy have emerged, they remain fragmented and have not yet developed in a coordinated manner. Based on these findings, the article discusses several policy priorities to promote circular economy development in line with the practical conditions of Thai Nguyen Province.

Keywords: Circular economy; industry; agriculture; environmental infrastructure; Thai Nguyen Province.

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, kinh tế tuần hoàn được luật hóa lần đầu tiên tại Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, xác định kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Trong văn kiện của Đảng, kinh tế tuần hoàn cũng đã trở thành một nội dung quan trọng của mô hình phát triển mới, Đại hội XIII của Đảng tiếp cận kinh tế tuần hoàn như một nội dung của mô hình phát triển thân thiện môi trường, gắn với bảo vệ sức khỏe nhân dân, quản lý tài nguyên bền vững và kiểm soát các dự án gây ô nhiễm1. Đại hội XIV của Đảng xác định kinh tế tuần hoàn là một trọng tâm của mô hình tăng trưởng mới, cùng với kinh tế số, kinh tế xanh2.

Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định rõ Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thực hiện lồng ghép kinh tế tuần hoàn ngay từ giai đoạn xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển; quản lý, tái sử dụng, tái chế chất thải. Tiếp đó, Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam đã đặt nền tảng chính sách cho quá trình chuyển đổi. Đến ngày 23/01/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 222/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035, tạo căn cứ để các bộ, ngành và địa phương cụ thể hóa bằng chương trình, nhiệm vụ và hoạt động phù hợp. Vì vậy, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện nay đang được chuyển từ định hướng chính sách toàn quốc sang một yêu cầu tái cấu trúc mô hình tăng trưởng ở cấp địa phương.

Thái Nguyên là địa phương có vị trí quan trọng trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ. Tỉnh có nền công nghiệp phát triển mạnh, tập trung nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp khai khoáng, chế biến, chế tạo, dệt may, điện tử và chế biến nông – lâm sản. Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Thái Nguyên mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn, mở rộng không gian phát triển, bổ sung thêm lợi thế về rừng, sinh thái, dược liệu, du lịch và nông nghiệp vùng cao. Tỉnh mới có diện tích hơn 8.300 km², dân số khoảng 1,8 triệu người, gồm 92 đơn vị hành chính cấp xã3. Sự thay đổi địa giới hành chính làm cho vấn đề phát triển kinh tế tuần hoàn tại Thái Nguyên cần được nhìn nhận trong một không gian mới. Một mặt, tỉnh có nền công nghiệp lớn, đặt ra yêu cầu kiểm soát phát thải, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, tái chế chất thải và thúc đẩy cộng sinh công nghiệp. Mặt khác, tỉnh có thêm dư địa lớn về kinh tế rừng, tín chỉ carbon, nông nghiệp sinh thái, chuỗi giá trị dược liệu và du lịch cộng đồng, cơ sở để Thái Nguyên phát triển kinh tế tuần hoàn theo hướng kết hợp công nghiệp xanh với nông nghiệp tuần hoàn và kinh tế rừng.

2. Một số vấn đề đặt ra với phát triển kinh tế tuần hoàn tại tỉnh Thái Nguyên

(1) Chính sách phát triển kinh tế tuần hoàn đã hình thành nhưng chủ yếu dưới dạng lồng ghép.

Sau hợp nhất, định hướng phát triển của tỉnh Thái Nguyên được đặt trong không gian mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định mục tiêu xây dựng tỉnh trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 và phấn đấu thành tỉnh phát triển có thu nhập cao trước năm 2045. Về kinh tế, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 GRDP theo giá hiện hành đạt 361,6 nghìn tỷ đồng, cơ cấu công nghiệp – xây dựng chiếm 54,6%, dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 36,5%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 8,9%; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân từ 10,5%/năm trở lên. Nghị quyết cũng đưa ra các chỉ tiêu môi trường trực tiếp liên quan đến kinh tế tuần hoàn: tỷ lệ che phủ rừng từ 60% trở lên; 100% chất thải nguy hại và chất thải y tế được thu gom, xử lý; chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý từ 95% trở lên; tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý đạt 70%; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; ít nhất 40% phương tiện giao thông công cộng sử dụng năng lượng xanh vào năm 20304.

Kinh tế tuần hoàn cũng được đưa vào điều chỉnh quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định mục tiêu xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030 và phấn đấu thành tỉnh phát triển có thu nhập cao trước năm 2045. Tầm nhìn đến năm 2050 là xây dựng Thái Nguyên thành thành phố trực thuộc Trung ương “xanh, thông minh, giàu bản sắc văn hóa”. Trong ba khâu đột phá, tỉnh nêu rõ định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số; phát huy lợi thế tài nguyên rừng; phát triển thị trường tín chỉ carbon gắn với bảo vệ và phát triển rừng. Đây là căn cứ chiến lược quan trọng nhất sau hợp nhất để đặt kinh tế tuần hoàn trong không gian phát triển mới của tỉnh5.

Tỉnh cũng ban hành Kế hoạch số 43-KH/TU ngày 19/11/2026 về thực hiện Đề án phát triển công nghiệp tỉnh theo hướng xanh, hiện đại giai đoạn 2026 – 2030 trong năm 2026, kế hoạch chi tiết hành động tăng trưởng xanh trong nhiều lĩnh vực cụ thể.

Những định hướng này cho thấy, Thái Nguyên đã có nền tảng chính sách quan trọng để phát triển kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, các chính sách hiện có chủ yếu lồng ghép kinh tế tuần hoàn trong tăng trưởng xanh, công nghiệp xanh, bảo vệ môi trường, nông nghiệp bền vững và kinh tế rừng, chưa có một kế hoạch hành động kinh tế tuần hoàn riêng biệt.

(2) Bước đầu hình thành công nghiệp xanh.

Lợi thế lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên nằm ở quy mô công nghiệp và mức độ tập trung của không gian sản xuất. Chuyển đổi công nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và tuần hoàn là trọng tâm quan trọng nhất trong phát triển kinh tế tuần hoàn của tỉnh. Theo Kế hoạch số 43-KH/TU, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu cơ cấu kinh tế khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 54,53% GRDP; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14% so với năm 2025; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Đồng thời, quy hoạch 19 khu công nghiệp và 68 cụm công nghiệp; đã thành lập 12 khu công nghiệp, trong đó 6 khu đang hoạt động; đã thành lập 40 cụm công nghiệp; tỷ lệ lấp đầy đạt trên 90%6. Nền tảng tăng trưởng này tạo ra nguồn vật chất đủ lớn để xuất hiện các bài toán tuần hoàn nước, tái sử dụng vật liệu và cộng sinh công nghiệp phải đặt ra ở cấp hệ thống, thay vì chỉ ở cấp doanh nghiệp đơn lẻ. Định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh cũng đã dịch chuyển theo hướng phù hợp với nguyên lý kinh tế tuần hoàn, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất một khu công nghiệp đạt chuẩn khu công nghiệp sinh thái trở lên và 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

Một thực tế quan trọng khác là sự gắn kết giữa tăng trưởng công nghiệp và sức ép thị trường, đặc biệt là từ các quy định quốc tế như CBAM (Carbon Border Adjustment Mechanism, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU). Giá trị xuất khẩu lớn, với khu vực FDI chiếm gần như toàn bộ tổng xuất khẩu năm 20257 cho thấy, yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn xanh của chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tác động trực tiếp đến lựa chọn công nghệ, vật liệu, năng lượng và quy trình sản xuất tại địa phương. Với Thái Nguyên, kinh tế tuần hoàn trước hết phải gắn với yêu cầu chất lượng tăng trưởng công nghiệp, chính sách địa phương và thông tin ban đầu đã phản ánh công nghiệp xanh là trụ cột rõ nhất của phát triển kinh tế tuần hoàn tại địa phương, nhưng mới ở giai đoạn chuyển đổi ban đầu, có nền tảng chính sách và hạ tầng cơ bản. Nhưng để xác định tỉnh đã có hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh ở mức độ nào sẽ cần có nhiều thống kê và dữ liệu công bố cụ thể hơn.

Ở cấp độ doanh nghiệp, tại Thái Nguyên cũng đã có một số mô hình kinh tế tuần hoàn có biểu hiện rõ nét trong lĩnh vực khai khoáng – vật liệu công nghệ cao, như: Công ty Masan High-tech Materials Núi Pháp đã tuần hoàn 7,8 triệu m3 nước thải phục vụ sản xuất, tỷ lệ tái chế chất thải tại nhà máy chế biến sâu vonfram đạt hơn 80%8. Trong lĩnh vực dệt may, TNG đã thực hiện chuyển đổi xanh, ESG (E – Environment, S – Social, G – Governace; bộ tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện trách nhiệm về môi trường, xã hội và quản trị của doanh nghiệp), tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi số. Thu hút đầu tư công nghệ xanh trong công nghiệp, phát triển kinh tế tuần hoàn trong chuỗi cung ứng công nghiệp, hợp tác với Samsung E&A nghiên cứu các dự án phát triển kinh tế tuần hoàn tại các khu công nghiệp của tỉnh, trong đó có phương án chuyển đổi chất thải rắn từ các nhà máy Samsung tại Khu công nghiệp Yên Bình thành nhiên liệu rắn tái sinh để sử dụng cho nhà máy cấp hơi nước9. Sự triển khai hiệu quả mô hình này với định hướng “cộng sinh công nghiệp” sẽ xử lý chất thải hiệu quả; đồng thời, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp với nguyên lý tuần hoàn: đầu ra của một quá trình trở thành đầu vào của quá trình khác.

(3) Nông nghiệp tuần hoàn: chuyển từ mô hình nhỏ sang dự án quy mô lớn.

Dự án “Hỗ trợ kinh tế tuần hoàn xanh thông qua cải thiện chuỗi giá trị nông nghiệp ở miền Bắc Việt Nam” do KOICA – Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc hỗ trợ là bước tiến của địa phương phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, tổng mức đầu tư là gần 288,92 tỷ đồng, được triển khai tại 14 xã khu vực phía Bắc của tỉnh giai đoạn 2025 – 2029. Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương thông qua cải thiện toàn diện chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ theo định hướng kinh tế tuần hoàn xanh. Dự án tập trung vào ba chuỗi giá trị nông sản chủ lực, gồm: dong riềng, nghệ và bí xanh; hỗ trợ đào tạo, tập huấn kỹ thuật, tiếp cận vốn vay ưu đãi, đầu tư hạ tầng nhà kho, cơ sở chế biến, chứng nhận, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Dự án thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp thông qua tận dụng, tái chế phụ phẩm nhằm giảm chất thải, bảo vệ môi trường, tăng liên kết thị trường, phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng gắn với sinh thái và kinh tế dưới tán rừng10.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản phẩm chè là ngành chủ lực có giá trị kinh tế. Tỉnh Thái Nguyên hiện có trên 22,2 nghìn ha chè, trong đó 20,9 nghìn ha đang cho sản lượng; sản lượng búp tươi đạt trên 262 nghìn tấn; giá trị sản phẩm sau chế biến đạt trên 12,1 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Khoảng 80% hợp tác xã và doanh nghiệp chè đã đầu tư công nghệ đóng gói tự động, sử dụng tem điện tử để truy xuất nguồn gốc. Những chỉ tiêu này cho thấy, chuỗi sản xuất chè Thái Nguyên có thể chuyển đổi theo hướng sản xuất hữu cơ, VietGAP, giảm hóa chất, sử dụng phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng bã chè và cành lá sau chế biến, tiết kiệm nước và năng lượng trong chế biến, truy xuất nguồn gốc, bao bì thân thiện môi trường, du lịch sinh thái và kéo dài giá trị văn hóa trà. Từ đó, phát triển mô hình tuần hoàn với sản xuất chè sẽ giúp giảm thất thoát, kéo dài giá trị sản phẩm và từng bước tích hợp kinh tế tuần hoàn thông qua tiêu chuẩn hóa, truy xuất và nâng cấp chuỗi giá trị11.

Tuy nhiên, ngành chè mới đang hình thành nền tảng cho kinh tế tuần hoàn, chủ yếu thông qua sản xuất sạch, hữu cơ, truy xuất nguồn gốc… Các vòng tuần hoàn vật chất trong chuỗi chè, như: tận dụng phụ phẩm chế biến, tái sử dụng bao bì, giảm phát thải trong sao sấy, xử lý nước thải… chưa có dữ liệu đầy đủ. Hoạt động du lịch sinh thái gắn với vùng chè còn phát triển hạn chế. Vì vậy, bên cạnh những định hướng, mục tiêu phát triển ngành chè theo hướng hữu cơ, quản lý chuỗi sản xuất, chế biến – tiêu thụ và truy xuất nguồn gốc trên nền tảng số…, để phù hợp định hướng kinh tế tuần hoàn cần phải bổ sung quy định quản lý phụ phẩm, năng lượng, nước, bao bì và phát thải carbon trong toàn bộ chuỗi chè.

(4) Kinh tế rừng và tín chỉ carbon: định hướng mới gắn với tỉnh mới sau hợp nhất.

Sau hợp nhất, kinh tế rừng trở thành một trụ cột mới trong phát triển kinh tế tuần hoàn của Thái Nguyên. Phát triển kinh tế rừng gắn với chuỗi giá trị lâm nghiệp, công nghiệp chế biến gỗ, xây dựng thương hiệu lâm sản và tham gia thị trường tín chỉ carbon đang mở ra hướng đi mới cho kinh tế nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân miền núi, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Tuy nhiên, kinh tế rừng tuần hoàn cũng đặt ra yêu cầu quản lý cao hơn. Tỉnh cần kiểm soát chất lượng chứng chỉ, truy xuất nguồn gốc gỗ, phòng, chống khai thác bất hợp pháp, bảo vệ đa dạng sinh học, phòng, cháy chữa cháy rừng, chia sẻ lợi ích carbon công bằng cho hộ dân và cộng đồng. Nếu thiếu cơ chế dữ liệu và phân phối lợi ích, tín chỉ carbon có thể chỉ dừng ở tiềm năng, chưa trở thành động lực kinh tế thực chất.

(5) Quản lý chất thải và hạ tầng môi trường còn hạn chế.

Các mục tiêu mới của tỉnh cho thấy, quản lý chất thải đã được đặt ở vị trí quan trọng. Kế hoạch triển khai các nghị quyết về bảo vệ môi trường đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn 70%; nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm giảm tối thiểu 10% so với năm 2024; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 95% và nông thôn đạt trên 90%; đồng thời, tỉnh sẽ thực hiện lộ trình di dời cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư và triển khai chương trình hạn chế nhựa dùng một lần12.

Đánh giá về hạ tầng môi trường, tỉnh Thái Nguyên đã đạt được những cải thiện nhưng chưa tạo được vòng tuần hoàn đủ sâu. 5/6 khu công nghiệp và 8/16 cụm công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tỉnh có khoảng 40% nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý. Tỷ lệ chất thải sinh hoạt được xử lý đạt khoảng 83%, với lượng phát sinh khoảng 946 tấn/ngày và lượng thu gom khoảng 792 tấn/ngày. Công nghệ xử lý đã chuyển dần từ chôn lấp sang đốt với 6 nhà máy xử lý13. Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ môi trường thể hiện trong Đề án phát triển công nghiệp có thay đổi đáng kể. Giai đoạn 2021 – 2024, hoạt động quản lý và xử lý nước thải tăng bình quân 26,4%/năm; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 24,7%/năm14.

Về năng lực quản lý môi trường của chính quyền địa phương, hồ sơ PGI (Provincial Green Index, Chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng quản trị môi trường của địa phương, do VCCI xếp hạng từ 2023) của tỉnh cho thấy, một số chỉ số môi trường kinh doanh xanh của tỉnh Thái Nguyên đã cải thiện trong năm 2024 so với năm 2023. Chỉ số “bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường tối thiểu” tăng từ 5,48 lên 6,48; “vai trò lãnh đạo của chính quyền tỉnh trong bảo vệ môi trường” tăng từ 3,95 lên 4,97 và “chính sách ưu đãi, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường” tăng từ 4,75 lên 6,0115.Các chỉ số của PGI chưa đủ để kết luận tỉnh đã đạt mức độ phát triển kinh tế tuần hoàn cao, nhưng có thể cho thấy, tín hiệu điều phối và hỗ trợ doanh nghiệp đang tốt lên, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các sáng kiến kinh tế tuần hoàn vượt khỏi cấp độ dự án riêng lẻ.

Có thể thấy, kinh tế tuần hoàn ở Thái Nguyên hiện chưa vận hành như một hệ thống hoàn chỉnh, với một số vấn đề cơ bản như sau:

Thứ nhất, các yếu tố kinh tế tuần hoàn đã xuất hiện ở công nghiệp xanh, nông nghiệp chuỗi giá trị, xử lý chất thải và dịch vụ môi trường, nhưng chưa được liên kết chặt chẽ để tạo thành một cấu trúc phát triển mới nhằm “khép vòng tuần hoàn”. Kinh tế tuần hoàn đã có mặt trong các chính sách lồng ghép của chính quyền địa phương, nhưng cần một chương trình hành động cấp tỉnh để xác định rõ mục tiêu ưu tiên, ngành trọng điểm, chỉ tiêu đo lường, trách nhiệm cơ quan đầu mối và nguồn lực thực hiện.

Thứ hai, công nghiệp là lợi thế lớn; đồng thời, là áp lực môi trường chủ yếu, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 12,5%. Cơ hội bứt phá của Thái Nguyên với kinh tế tuần hoàn nằm ở chỗ tỉnh có quy mô công nghiệp đủ lớn để hình thành cộng sinh vật chất và có khả năng cải thiện năng lực điều phối chính sách.

Thứ ba, nông nghiệp tuần hoàn có tiềm năng lớn nhưng còn phụ thuộc vào mô hình dự án.

Thứ tư, kinh tế rừng và tín chỉ carbon là hướng phát triển mới nhưng cần xây dựng cơ chế phân phối lợi ích để tránh “xanh hóa hình thức”, tạo nguồn thu ổn định cho người dân vùng rừng.

Thứ năm, dữ liệu và giám sát trong phát triển kinh tế tuần hoàn của tỉnh vẫn là điểm hạn chế lớn, chưa đo lường được các tiêu chuẩn môi trường và xác định mức độ “tuần hoàn” trong các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Tỉnh Thái Nguyên có khá nhiều dữ liệu về tăng trưởng, công nghiệp, xuất khẩu, chè, chất thải, nước thải và điều hành xanh, nhưng chưa xây dựng riêng bộ chỉ tiêu trực tiếp gắn với tiêu chí kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, việc truy xuất làm phát sinh chi phí về hạ tầng công nghệ, tem nhãn, phần mềm, nhân lực vận hành và duy trì cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và tính liên thông giữa các hệ thống còn thiếu đồng bộ.

Thứ sáu, hạ tầng xử lý môi trường còn nhiều bất cập. Hệ thống xử lý nước thải đô thị thường xuyên ứ đọng, mưa lớn dễ xuất hiện ngập úng. Tình hình ô nhiễm môi trường ở các khu đô thị, khu công nghiệp còn diễn biến phức tạp.

3. Một số giải pháp

Một là, xây dựng kế hoạch hành động phát triển kinh tế tuần hoàn cấp tỉnh theo giai đoạn, tầm nhìn bám sát Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến 2035 theo Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Trong kế hoạch cần tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, như: khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai khoáng, chè, chất thải rắn và nước thải đô thị. Kế hoạch cần tránh dàn trải, có thể chọn mô hình trọng điểm có khả năng đo lường.

Hai là, xây dựng bộ chỉ tiêu và cơ sở dữ liệu kinh tế tuần hoàn cấp tỉnh. Tỉnh cần công bố định kỳ các chỉ tiêu, như: tỷ lệ phân loại tại nguồn, tỷ lệ tái chế, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu thứ cấp trong một số ngành chủ lực, tỷ lệ tuần hoàn nước trong khu công nghiệp, khối lượng phụ phẩm nông nghiệp được tái sử dụng và giá trị kinh tế tạo ra từ tái sử dụng, tái chế. Cơ sở dữ liệu cần kết nối với hệ thống quan trắc môi trường, truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu sản phẩm OCOP, dữ liệu rừng, dữ liệu phát thải và dữ liệu đầu tư. Cấp xã phải có vai trò cập nhật dữ liệu cơ sở. Doanh nghiệp và hợp tác xã cần được hướng dẫn báo cáo theo biểu mẫu đơn giản, có thể số hóa.

Ba là, phát triển khu công nghiệp sinh thái và cộng sinh công nghiệp. Tỉnh Thái Nguyên có lợi thế lớn về công nghiệp, nên có thể coi khu công nghiệp sinh thái là trụ cột trong phát triển kinh tế tuần hoàn. Với quy mô công nghiệp lớn, mật độ doanh nghiệp cao và sự hiện diện mạnh của khu vực FDI, tỉnh có thể thí điểm nhanh các mô hình tuần hoàn nước, tái sử dụng vật liệu, nhiên liệu thay thế và trao đổi đầu vào – đầu ra giữa doanh nghiệp trong cùng không gian sản xuất.

Bốn là, thúc đẩy mô hình nông nghiệp tuần hoàn theo chuỗi giá trị. Dự án KOICA có thể được xem là mô hình nền tảng để xây dựng năng lực nông nghiệp tuần hoàn của tỉnh. Trong quá trình triển khai, tỉnh có thể xây dựng bộ chỉ số riêng cho nông nghiệp tuần hoàn: tỷ lệ phụ phẩm được tái sử dụng, lượng phân hữu cơ sản xuất từ phụ phẩm, tỷ lệ hộ áp dụng quy trình tuần hoàn, thu nhập tăng thêm, số hợp tác xã tham gia, tỷ lệ sản phẩm có chứng nhận, số mô hình du lịch nông nghiệp gắn với sinh thái. Đối với chè, cần chuyển từ sản xuất sạch, hữu cơ sang chuỗi chè tuần hoàn. Chính sách hỗ trợ không nên chỉ bao gồm VietGAP, hữu cơ và truy xuất nguồn gốc mà bổ sung khuyến khích xử lý phụ phẩm chè, sử dụng năng lượng sạch trong chế biến, tiết kiệm nước, bao bì thân thiện môi trường, phát triển sản phẩm từ bã chè, liên kết du lịch sinh thái và văn hóa trà. Các hợp tác xã chè cần được hỗ trợ về dữ liệu, tiêu chuẩn, thiết kế sản phẩm, thương mại điện tử và quản trị chuỗi. Đối với phát triển kinh tế rừng gắn với tín chỉ carbon và chia sẻ lợi ích, tỉnh cần xây dựng chương trình phát triển kinh tế rừng tuần hoàn, làm rõ cơ chế quản lý đo đạc, báo cáo, thẩm định carbon, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, phương thức chia sẻ lợi ích giữa doanh nghiệp, cộng đồng và Nhà nước.

Năm là, đổi mới quản lý chất thải theo hướng coi chất thải là tài nguyên. Đối với đô thị, cần thí điểm mô hình khu dân cư phân loại rác tại nguồn có giám sát số hóa. Đối với nông thôn, cần nhân rộng mô hình xử lý rác hữu cơ hộ gia đình, hợp tác xã dịch vụ môi trường, thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp. Đối với khu công nghiệp, cần công khai dữ liệu nước thải, chất thải, tái chế, tái sử dụng và phát thải.

Sáu là, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và huy động doanh nghiệp. Kinh tế tuần hoàn đòi hỏi sự phối hợp của nhiều sở, ngành, địa phương, do vậy, tỉnh cần xác định rõ đầu mối điều phối, thành lập tổ công tác liên ngành về kinh tế tuần hoàn hoặc giao một cơ quan chủ trì với thẩm quyền điều phối rõ ràng. Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện chuyển đổi. Chính quyền địa phương cần tạo môi trường thuận lợi thông qua tiêu chuẩn, ưu đãi, tín dụng xanh, hỗ trợ đổi mới công nghệ, mua sắm công xanh, truyền thông và công khai thông tin. Các doanh nghiệp lớn, như: Masan High-Tech Materials, TNG, Samsung… và các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có thể đóng vai trò dẫn dắt. Hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ cần được hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính, dữ liệu và thị trường.

4. Kết luận

Tỉnh Thái Nguyên đã tạo lập được những tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế tuần hoàn, trong đó quy mô công nghiệp lớn, mức độ hội nhập cao, vai trò dẫn dắt của khu vực FDI, vùng sản xuất chè có giá trị cao, hạ tầng môi trường đang được cải thiện và các dự án tuần hoàn xanh. Tuy nhiên, tỉnh cần hướng đến xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đo lường, tăng cường hạ tầng xử lý nước thải và tạo điều kiện hình thành trên thực tế các vòng liên kết vật chất chặt chẽ giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ môi trường. Tỉnh Thái Nguyên cần chuyển từ các định hướng, đề án chính sách hiện có sang bước vận hành thực tế, đo lường thực tế các kết quả mô hình sản xuất – kinh doanh tuần hoàn để kinh tế tuần hoàn thực sự trở thành một phần, tiến tới bao trùm toàn bộ mô hình tăng trưởng địa phương.

Chú thích:
1. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-3734
2. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/tin-hoat-dong/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.html
3. Thái Nguyên kiến tạo động lực tăng trưởng mới. https://baothainguyen.vn/kinh-te/202601/thai-nguyen-kien-tao-dong-luc-tang-truong-moi-3663208/
4. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. https://baothainguyen.vn/chinh-tri/202509/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-thai-nguyen-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-8ab1e96/
5. Thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. https://thainguyen.gov.vn/tin-hoat-dong-cua-tinh/thong-qua-dieu-chinh-quy-hoach-tinh-thai-nguyen-thoi-ky-2021-2030-tam-nhin-den-nam-2050-243603
6. Đề án phát triển công nghiệp tỉnh Thái Nguyên theo hướng xanh, hiện đại giai đoạn 2026-2030. https://thainguyen.dcs.vn/van-kien-tu-lieu/van-kien-dai-hoi-dang-bo-tinh/20-de-an-cua-ban-chap-hanh-dang-bo-tinh-thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-436.html?download=1&id=8
7. Xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn Thái Nguyên đạt 29,9 tỷ USD. https://nhandan.vn/xuat-khau-hang-hoa-tren-dia-ban-thai-nguyen-dat-299-ty-usd-post935307.html
8. Masan High-Tech Materials: “giảm thiểu – tái sử dụng – tái chế” trong hành trình phát triển bền vững. https://baothainguyen.vn/kinh-te/cong-nghiep/202406/masan-high-tech-materialsgiam-thieu-tai-su-dung-tai-che-trong-hanh-trinh-phat-trien-ben-vung-91618e2/
9. Ký kết văn kiện hợp tác về kinh tế tuần hoàn giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên và Samsung E&A. https://sotaichinh.thainguyen.gov.vn/hoat-dong-dau-tu/ky-ket-van-kien-hop-tac-ve-kinh-te-tuan-hoan-giua-so-ke-hoach-va-dau-tu-tinh-thai-nguyen-va-samsung-177999
10. Thái Nguyên khởi động dự án nông nghiệp tuần hoàn xanh. https://thainguyen.gov.vn/tin-hoat-dong-cua-tinh/thai-nguyen-khoi-dong-du-an-nong-nghiep-tuan-hoan-xanh-254765
11. Sản xuất chè “sạch” gắn với du lịch sinh thái. https://thainguyen.gov.vn/giao-thuong/san-xuat-che-sach-gan-voi-du-lich-sinh-thai-162790
12, 14. Triển khai thực hiện các Nghị quyết về bảo vệ môi trường. https://thainguyen.gov.vn/van-hoa-xa-hoi/trien-khai-thuc-hien-cac-nghi-quyet-ve-bao-ve-moi-truong-261286
13. Thái Nguyên ưu tiên thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp xanh. https://thainguyen.gov.vn/bai-viet-ve-thai-nguyen/thai-nguyen-uu-tien-thu-hut-dau-tu-phat-trien-cong-nghiep-xanh-262695
15.  Hồ sơ chỉ số PGI tỉnh, Thái Nguyên, VCCI. https://pcivietnam.vn/pgi/ho-so-tinh/thai-nguyen.