Some solutions for the sustainable development of industrial zones in Vietnam today
Trần Văn Hòa
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, các khu công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển nhanh về quy mô, nhiều khu công nghiệp cũng bộc lộ những hạn chế, như: ô nhiễm môi trường, sử dụng tài nguyên chưa hiệu quả, chất lượng thu hút đầu tư chưa cao, hạ tầng xã hội còn thiếu đồng bộ và nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu có hệ thống các vấn đề liên quan nhằm đề xuất các giải pháp phát triển khu công nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Khu công nghiệp; phát triển bền vững; khu công nghiệp sinh thái; tăng trưởng xanh; kinh tế tuần hoàn; chuyển đổi xanh.
Abstract: In the context of Vietnam entering a new phase of development with the imperative to accelerate industrialization and modernization in conjunction with green transition, digital transformation, and deep international integration, industrial zones continue to play a crucial role in economic growth, investment attraction, and national industrial development. However, alongside the rapid expansion in scale, many industrial zones have also revealed significant limitations, including environmental pollution, inefficient use of natural resources, suboptimal quality of investment attraction, inadequate social infrastructure, and the risk of unsustainable development. This situation calls for the need to systematically study related issues in order to propose solutions for developing industrial zones in a green, modern, and sustainable direction, meeting the requirements of national development in the new period.
Keywords: Industrial zones; sustainable development; eco-industrial parks; green growth; circular economy; green transition.
1. Đặt vấn đề
Trải qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hệ thống khu công nghiệp ở Việt Nam đã phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển công nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động. Theo thống kê, đến giữa năm 2024, Việt Nam đã có khoảng 431 khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập với tổng diện tích hơn 132 nghìn ha, phân bố tại 61/63 tỉnh, thành phố; nhiều khu công nghiệp đã trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu của đất nước1.
Cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, yêu cầu về phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết. Nếu chỉ chú trọng mở rộng quy mô sản xuất mà không quan tâm đúng mức đến bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm an sinh xã hội thì các khu công nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ phát triển thiếu bền vững, làm gia tăng áp lực đối với môi trường, hạ tầng đô thị và chất lượng sống của người dân. Thực tế cho thấy, tại một số địa phương vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường, thiếu nhà ở công nhân, quá tải hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong các khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp theo hướng bền vững. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát triển nhanh và bền vững”, thúc đẩy tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; đồng thời, xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đại hội XIV của Đảng cũng đề ra chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 – 2030 đạt từ 10%/năm trở lên, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP và kinh tế số đạt khoảng 30% GDP2.
Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách mới về phát triển công nghiệp xanh và khu công nghiệp sinh thái đã được ban hành. Đáng chú ý, Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT ngày 15/3/2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chuyển đổi mô hình phát triển khu công nghiệp theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, cộng sinh công nghiệp và giảm phát thải. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, yêu cầu thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và xu thế chuyển đổi sang kinh tế xanh đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, phát triển bền vững khu công nghiệp không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm phát triển lâu dài của đất nước.
2. Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam
2.1. Những kết quả đạt được
Những năm qua, hệ thống khu công nghiệp ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng, quy mô và chất lượng hoạt động, từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 536 khu công nghiệp, bao gồm 482 khu công nghiệp nằm ngoài khu kinh tế, 45 khu công nghiệp trong các khu kinh tế ven biển và 9 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu. Trong tổng số 536 khu công nghiệp đã thành lập, có 434 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động và 102 khu công nghiệp đang trong quá trình đầu tư, thu hút các nhà đầu tư thứ cấp. Tổng diện tích các khu công nghiệp đạt khoảng 162.981 ha, trong đó diện tích các khu công nghiệp đang hoạt động là 124.357 ha. Các khu công nghiệp tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm như vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng, góp phần hình thành các cực tăng trưởng và trung tâm công nghiệp lớn của cả nước3.
Các khu công nghiệp đã trở thành khu vực thu hút mạnh dòng vốn FDI, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ cao, cơ khí chế tạo, logistics và công nghiệp hỗ trợ. Tính đến năm 2024 các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI cũng đã quan tâm nhiều hơn đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp thông minh đạt được các yêu cầu về phát triển bền vững. Hơn 400 khu công nghiệp và hơn 1.000 cụm công nghiệp với hàng chục nghìn nhà máy trong cả nước đang tích cực cho quá trình chuyển đổi theo hướng thông minh, bền vững4. Trong hơn 4 năm trở lại đây, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và vốn đầu tư của các dự án sản xuất trong khu công nghiệp chiếm khoảng 27,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đồng thời, các khu công nghiệp đóng góp trung bình khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước hằng năm5, qua đó góp phần quan trọng mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Nhiều địa phương, như: Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh đã hình thành các chuỗi sản xuất công nghiệp quy mô lớn, đóng vai trò quan trọng trong mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các khu công nghiệp còn góp phần giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa. Hiện nay, các khu công nghiệp thu hút và tạo việc làm cho khoảng 3,83 triệu lao động trực tiếp, chiếm khoảng 7% lực lượng lao động cả nước6. Sự phát triển của khu công nghiệp đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, phát triển dịch vụ, thương mại và kết cấu hạ tầng tại nhiều địa phương; đồng thời, tạo động lực hình thành các đô thị công nghiệp và vùng kinh tế động lực mới.
Nhận thức về phát triển khu công nghiệp theo hướng bền vững cũng từng bước được nâng cao. Nhiều địa phương đã bắt đầu triển khai mô hình khu công nghiệp sinh thái, thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo, tái chế chất thải và ứng dụng công nghệ xử lý môi trường hiện đại. Đến năm 2023 đã có trên 72 doanh nghiệp thực hiện hơn 900 giải pháp tiết kiệm năng lượng và sản xuất sạch hơn, tiết kiệm 76 tỷ đồng/năm và huy động được khoảng 207 tỷ đồng từ khu vực tư nhân, cắt giảm được 32 Kilo tấn khí CO2 hằng năm, bước đầu đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường7. Đến nay, khoảng 91% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường với tổng công suất xử lý trên 1,3 triệu m³ nước thải/ngày đêm. Đây là bước tiến quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp. Đồng thời, việc ban hành Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT về hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Một số hạn chế, bất cập
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế và chưa thực sự bền vững, cụ thể:
Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số khu công nghiệp vẫn diễn ra khá nghiêm trọng. Mặc dù khoảng 91% khu công nghiệp đang hoạt động đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, song vẫn còn khu công nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu xử lý môi trường8. Ở một số nơi, công nghệ xử lý nước thải, khí thải và chất thải công nghiệp còn lạc hậu; tình trạng xả thải vượt quy chuẩn môi trường vẫn xảy ra. Quá trình phát triển công nghiệp nhanh với mật độ tập trung cao cũng làm gia tăng áp lực lên môi trường, tài nguyên nước, hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị tại các địa phương tập trung nhiều khu công nghiệp như vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng.
Thứ hai, chất lượng thu hút đầu tư vào khu công nghiệp chưa đồng đều. Một số khu công nghiệp vẫn chủ yếu thu hút các ngành sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình hoặc thấp, giá trị gia tăng chưa cao và tiêu hao nhiều năng lượng. Mặc dù khu vực khu công nghiệp đóng góp khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước9, song tỷ lệ nội địa hóa và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Điều này dẫn tới khả năng lan tỏa công nghệ, nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ và phát triển chuỗi giá trị nội địa chưa tương xứng với tiềm năng.
Thứ ba, hệ thống hạ tầng xã hội phục vụ người lao động còn thiếu đồng bộ. Hiện nay, các khu công nghiệp đang sử dụng khoảng 3,83 triệu lao động trực tiếp10, song tại nhiều địa phương vẫn thiếu nghiêm trọng nhà ở công nhân, cơ sở y tế, trường học, nhà trẻ và các thiết chế văn hóa phục vụ người lao động. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống, điều kiện sinh hoạt và sự ổn định lâu dài của lực lượng lao động trong các khu công nghiệp.
Thứ tư, công tác quy hoạch và quản lý phát triển khu công nghiệp ở một số địa phương còn thiếu tính liên kết và tầm nhìn dài hạn. Tính đến cuối năm 2023, cả nước đã có 418 KCN thành lập với tổng diện tích 219,1 nghìn ha, trong đó có 298 KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích khoảng 155,3 nghìn ha11. Đến năm 2024 tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN cả nước đạt khoảng 51,3 nghìn ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 57,5%12. Tính đến hết tháng 9/2025, cả nước đã thành lập 536 khu công nghiệp, bao gồm 482 khu công nghiệp nằm ngoài khu kinh tế, 45 khu công nghiệp trong các khu kinh tế ven biển và 9 khu công nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu13.
Việc phát triển nhanh về số lượng trong một số giai đoạn đã dẫn tới tình trạng mở rộng khu công nghiệp dàn trải ở một số địa phương, trong khi hiệu quả sử dụng đất, chất lượng thu hút đầu tư và yêu cầu bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Một số nơi còn chạy theo mục tiêu tăng quy mô diện tích khu công nghiệp mà chưa chú trọng phát triển khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp công nghệ cao và mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Về nguyên nhân khách quan, xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia ngày càng gay gắt khiến Việt Nam chịu áp lực lớn trong việc vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao về môi trường, phát triển xanh và phát thải carbon. Đồng thời, quá trình chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh và công nghiệp xanh đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi năng lực nội tại của nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế.
Về nguyên nhân chủ quan, trước hết công tác quy hoạch phát triển khu công nghiệp ở một số địa phương chưa thực sự đồng bộ với quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch đô thị và chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Mặc dù đến năm 2025, cả nước đã có 536 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích hơn 162 nghìn ha14, song việc phân bố khu công nghiệp giữa các vùng còn chưa cân đối, tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng, gây áp lực lớn lên hạ tầng và môi trường tại các khu vực này.
Bên cạnh đó, hệ thống cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn chưa thực sự đủ mạnh để tạo động lực chuyển đổi cho doanh nghiệp. Năng lực quản lý môi trường và quản trị phát triển bền vững ở một số khu công nghiệp còn hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát môi trường chưa thường xuyên, thiếu tính răn đe. Một bộ phận doanh nghiệp vẫn đặt nặng mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn, chưa chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và thực hiện trách nhiệm xã hội. Đồng thời, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu, làm hạn chế khả năng lan tỏa công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
3. Giải pháp phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam
Một là, hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển khu công nghiệp theo hướng xanh, bền vững.
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách liên quan đến phát triển công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế ưu đãi đủ mạnh nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng xanh, tiếp cận đất đai, hỗ trợ đổi mới công nghệ và chuyển giao khoa học, công nghệ cho các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn, tái chế chất thải và ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu công nghiệp. Đây sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường.
Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quản lý và phát triển khu công nghiệp theo hướng thống nhất, đồng bộ và hiệu quả. Mặt khác, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp theo hướng toàn diện, bao gồm các tiêu chí về hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức độ phát thải, tỷ lệ tái sử dụng chất thải, mức độ ứng dụng công nghệ cao, chất lượng môi trường lao động và đóng góp xã hội của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với các khu công nghiệp; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đầu tư và sử dụng đất đai. Đồng thời, công khai minh bạch thông tin về môi trường, phát thải và kết quả thực hiện các tiêu chí phát triển bền vững của các khu công nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý khu công nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch cho doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về khu công nghiệp, kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý sẽ giúp nâng cao khả năng dự báo, giám sát môi trường, quản lý đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Hai là, đổi mới quy hoạch và phát triển hạ tầng khu công nghiệp.
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp cần bảo đảm tính đồng bộ, liên kết chặt chẽ với quy hoạch đô thị, giao thông, logistics, năng lượng và quy hoạch phát triển vùng. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ngày càng cao, việc quy hoạch khu công nghiệp không thể chỉ tập trung vào mở rộng diện tích hay thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà cần chuyển mạnh sang mô hình phát triển theo chiều sâu, lấy hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường làm tiêu chí trọng tâm. Theo đó, việc phát triển khu công nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển vùng, khai thác hiệu quả lợi thế địa lý, nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng của từng địa phương; đồng thời, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, cạnh tranh thu hút đầu tư thiếu lành mạnh giữa các địa phương dẫn đến lãng phí tài nguyên đất đai và gia tăng áp lực lên môi trường, hạ tầng xã hội.
Ưu tiên phát triển các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh và khu công nghiệp công nghệ cao. Các khu công nghiệp mới cần được đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại, tích hợp công nghệ số trong quản lý sản xuất, quản lý năng lượng, giám sát môi trường và điều hành hoạt động khu công nghiệp. Tăng cường đầu tư hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp theo hướng đồng bộ, hiện đại và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Các khu công nghiệp phải được đầu tư đầy đủ hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống quan trắc môi trường tự động, công nghệ tái chế và tái sử dụng chất thải nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Ngoài hạ tầng kỹ thuật, cần đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng xã hội phục vụ người lao động trong các khu công nghiệp. Thực tiễn cho thấy, nhiều khu công nghiệp hiện nay phát triển nhanh về quy mô sản xuất nhưng chưa quan tâm đúng mức đến điều kiện sống và phúc lợi xã hội của công nhân, dẫn đến tình trạng thiếu nhà ở, quá tải hạ tầng y tế, giáo dục và phát sinh nhiều vấn đề xã hội. Vì vậy, cần có cơ chế quy hoạch đồng bộ giữa khu công nghiệp với khu đô thị, khu dân cư và các công trình phúc lợi công cộng; ưu tiên quỹ đất và nguồn lực đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, ký túc xá công nhân, bệnh viện, trường học, nhà trẻ, trung tâm văn hóa – thể thao và các thiết chế phục vụ đời sống tinh thần cho người lao động.
Ba là, thúc đẩy chuyển đổi xanh và đổi mới công nghệ trong khu công nghiệp.
Phát triển bền vững khu công nghiệp đòi hỏi phải đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn và dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ hiện đại. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ và các cam kết quốc tế về giảm phát thải ngày càng chặt chẽ, việc đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam. Xây dựng và triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có nguy cơ tiêu hao nhiều năng lượng và phát thải lớn. Cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng xanh, quỹ đổi mới công nghệ, quỹ phát triển khoa học – công nghệ và các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số quốc gia nhằm khuyến khích đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, công nghệ sạch và thiết bị tiết kiệm năng lượng.
Thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn và liên kết cộng sinh công nghiệp trong các khu công nghiệp. Thay vì mô hình sản xuất tuyến tính truyền thống “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ”, các khu công nghiệp cần từng bước chuyển sang mô hình sản xuất tuần hoàn, trong đó chất thải, phụ phẩm hoặc năng lượng dư thừa của doanh nghiệp này trở thành đầu vào cho doanh nghiệp khác. Việc tăng cường liên kết cộng sinh công nghiệp không chỉ góp phần tận dụng hiệu quả tài nguyên, giảm lượng chất thải phát sinh và chi phí xử lý môi trường mà còn tạo ra giá trị gia tăng mới cho doanh nghiệp. Mặt khác, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ xanh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tiếp thu kinh nghiệm quản lý khu công nghiệp hiện đại từ các quốc gia phát triển. Tạo điều kiện để doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia sâu hơn vào mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, tiếp cận các nguồn lực tài chính xanh, công nghệ tiên tiến và mô hình quản trị hiện đại.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản trị phát triển bền vững khu công nghiệp.
Theo đó, cần tập trung đổi mới căn bản công tác giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực thông qua mô hình liên kết giữa nhà trường – doanh nghiệp – cơ quan quản lý nhà nước nhằm bảo đảm chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và sự phát triển của các khu công nghiệp hiện đại. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý khu công nghiệp có trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và năng lực quản trị hiện đại. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ quản lý khu công nghiệp nhằm tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển và mô hình quản trị khu công nghiệp tiên tiến.
Song song với phát triển nguồn nhân lực, cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với phát triển khu công nghiệp theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và bền vững. Trước yêu cầu phát triển mới, công tác quản lý khu công nghiệp không chỉ dừng ở việc cấp phép đầu tư hay quản lý hành chính mà cần chuyển mạnh sang mô hình quản trị phát triển dựa trên dữ liệu, công nghệ số và quản trị thông minh. Thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám sát môi trường, quản lý hạ tầng kỹ thuật, điều hành sản xuất và cung cấp dịch vụ công trong khu công nghiệp. Tăng cường ứng dụng các công nghệ hiện đại, như: AI, IoT, hệ thống quan trắc tự động và nền tảng quản trị số trong giám sát chất lượng môi trường, tiêu thụ năng lượng, xử lý chất thải và vận hành hạ tầng khu công nghiệp.
Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư chất lượng cao.
Quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, xu hướng chuyển dịch đầu tư quốc tế và yêu cầu phát triển xanh đang mở ra nhiều cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư mới, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo và sản xuất thông minh. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ hội này, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy thu hút đầu tư theo số lượng sang ưu tiên chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của các dự án đầu tư. Ưu tiên thu hút các dự án FDI công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và có giá trị gia tăng lớn. Các dự án đầu tư mới vào khu công nghiệp cần đáp ứng các tiêu chí nghiêm ngặt về công nghệ, bảo vệ môi trường, hiệu quả sử dụng đất và năng lượng; hạn chế tiếp nhận các dự án sử dụng lao động giản đơn, tiêu hao nhiều năng lượng hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Nâng cao khả năng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy chuyển giao công nghệ, trong đó đã đặt mục tiêu thu hút tổng vốn FDI đăng ký vào các khu công nghiệp, khu kinh tế đến năm 2030 đạt khoảng 280 – 330 tỷ USD, tổng số vốn FDI thực hiện đạt khoảng 240 290 tỷ USD10.
Ngoài ra, Việt Nam cần chủ động học tập kinh nghiệm quốc tế trong phát triển khu công nghiệp sinh thái, công nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị khu công nghiệp hiện đại. Việc nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng phù hợp các kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp Việt Nam rút ngắn quá trình chuyển đổi mô hình phát triển khu công nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng thời, tăng cường tham gia các sáng kiến, diễn đàn và chương trình hợp tác quốc tế về phát triển xanh, chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải carbon và thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm tranh thủ nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển khoa học – công nghệ phục vụ phát triển khu công nghiệp bền vững. Mặt khác, phát huy hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư và thúc đẩy chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế.
4. Kết luận
Phát triển bền vững khu công nghiệp là yêu cầu tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay. Trong thời gian qua, hệ thống khu công nghiệp đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế về môi trường, chất lượng đầu tư và hạ tầng xã hội. Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững, thúc đẩy chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Đây là định hướng quan trọng để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển công nghiệp và khu công nghiệp trong giai đoạn tới. Để thực hiện mục tiêu đó cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch, phát triển hạ tầng, thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế. Phát triển bền vững khu công nghiệp không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất công nghiệp mà còn tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Chú thích:
1. Thực trạng và quy mô khu công nghiệp tại Việt Nam năm2025. https://vntt.com.vn/thuc-trang-va-quy-mo-khu-cong-nghiep-tai-viet-nam-nam-2025.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 84.
3, 8, 13, 14. Thực trạng phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm liên kết công nghiệp tại Việt Nam. https://www.vioit.vn/thuc-trang-phat-trien-khu-cong-nghiep-cum-cong-nghiep-cum-lien-ket-cong-nghiep-tai-viet-nam.html
4. Phát triển khu công nghiệp thông minh bền vững-Yếu tố then chốt thu hút đầu tư. https://baochinhphu.vn/phat-trien-khu-cong-nghiep-thong-minh-ben-vung-yeu-to-then-chot-thu-hut-dau-tu-102240816002149138.htm
5, 6, 7. Thúc đẩy phát triển khu công nghiệp sinh thái giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a trong khuôn khổ Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu. https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2023-9-11/Thuc-day-phat-trien-khu-cong-nghiep-sinh-thai-giuae9ua59.aspx
9, 10, 11, 15. Phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam và vai trò của thu hút FDI. https://tapchicongthuong.vn/phat-trien-ben-vung-cac-khu-cong-nghiep-o-viet-nam-va-vai-tro-cua-thu-hut-fdi-124014.html
12. Phát triển bền vững khu công nghiệp góp phần hướng tới cam kết Netzro. https://baochinhphu.vn/phat-trien-ben-vung-khu-cong-nghiep-gop-phan-huong-toi-cam-ket-netzro-102240328165850922.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2018). Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
2. Chính phủ (2023). Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ngày 20/6/2023 về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
3. Chính phủ (2024). Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 về quản lý và phát triển cụm công nghiệp.
4. Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (2024). Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển ngành công nghiệp giai đoạn 2026 – 2030.
5. Chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng bền vững là xu hướng tất yếu. https://www.vietnamplus.vn/chuyen-doi-khu-cong-nghiep-theo-huong-ben-vung-la-xu-huong-tat-yeu-post972155.vnp
6. Kinh tế tuần hoàn dần làm xanh hóa các khu công nghiệp. https://moit.gov.vn/phat-trien-ben-vung/kinh-te-tuan-hoan-dan-lam-xanh-hoa-cac-khu-cong-nghiep.html



