Hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước cấp tỉnh tại các tỉnh miền Nam nước CHDCND Lào

The effectiveness of provincial-level state budget revenue management in the southern provinces of the Lao People’s Democratic Republic

KongKeo Lunmarla
NCS Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong những năm gần đây, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, công tác quản lý thu ngân sách nhà nước tại các địa phương nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tại các tỉnh miền Nam Lào, công tác quản lý thu ngân sách vẫn còn một số hạn chế, như: quy mô nguồn thu chưa ổn định, cơ cấu nguồn thu chưa bền vững và tình trạng thất thu thuế còn xảy ra ở một số lĩnh vực. Bài viết phân tích thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách, góp phần tăng cường nguồn lực tài chính phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Từ khóa: Ngân sách nhà nước; quản lý thu ngân sách; chính quyền địa phương; miền Nam Lào.

Abstract: In recent years, in tandem with the country’s socioeconomic development, the management of state budget revenue at the local level in the Lao People’s Democratic Republic has seen many positive changes. However, in the southern provinces of Laos, revenue management still faces limitations, including unstable revenue levels, an unsustainable revenue structure, and persistent tax revenue shortfalls in certain sectors. This article analyzes the current state of state budget revenue management in Laos’ southern provinces. It proposes ways to improve its effectiveness, strengthening financial resources to support local socioeconomic development.

Keywords: State budget; budget revenue management; local government; southern Laos.

1. Đặt vấn đề

Thu ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu bảo đảm cho hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Theo Quốc hội Lào, ngân sách nhà nước được hình thành từ các khoản thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách quản lý tài chính công, việc nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các địa phương. Đặc biệt, tại các tỉnh miền Nam Lào, như Champasak, Salavan, Sekong và Attapeu, việc huy động nguồn thu ngân sách còn gặp nhiều khó khăn do quy mô nền kinh tế nhỏ, cơ cấu kinh tế chưa phát triển đồng đều và nguồn thu chưa đa dạng. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường nguồn lực tài chính và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

2. Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào

2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội

Các tỉnh miền Nam Lào, gồm: Champasak, Salavan, Sekong và Attapeu là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển về nông nghiệp, khai thác tài nguyên và du lịch. Trong những năm gần đây, kinh tế của các địa phương này đã có bước tăng trưởng nhất định, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế của khu vực vẫn còn nhỏ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế và cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội chưa phát triển đồng bộ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn thu ngân sách của các địa phương.

Các tỉnh miền nam Lào có quy mô kinh tế nhỏ, cơ sở sản xuất – kinh doanh còn hạn chế, nguồn thu ngân sách chủ yếu đến từ thuế gián thu, thu từ tài nguyên và một số khoản phí, lệ phí. Khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn, gây khó khăn cho công tác quản lý và dự báo nguồn thu.

Các tỉnh Champasak, Salavan, Sekong và Attapeu thuộc khu vực Nam Lào, có vị trí chiến lược về liên kết vùng và hợp tác biên giới, song trình độ phát triển kinh tế còn thấp, hạ tầng hạn chế và khả năng tự cân đối ngân sách yếu, phụ thuộc nhiều vào ngân sách trung ương.

1) Tỉnh Champasak

Champasak có mức độ phát triển kinh tế cao nhất trong 4 tỉnh miền Nam Lào. Kinh tế phát triển tương đối đa dạng, gồm: nông nghiệp, thương mại – dịch vụ, du lịch và thủy điện. Có đô thị Pakse là trung tâm kinh tế lớn của Nam Lào, đóng vai trò đầu mối giao thương quan trọng. Dân số và lực lượng lao động đông hơn các tỉnh còn lại (có quy mô dân số là 799.950 người)1. Hạ tầng giao thông và dịch vụ tương đối phát triển. Champasak là tỉnh có khả năng tạo nguồn thu ngân sách tốt nhất trong khu vực.

2) Tỉnh Salavan

Tỉnh Salavan có đặc điểm kinh tế – xã hội ở mức trung bình thấp, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp truyền thống và khai thác tài nguyên ở quy mô nhỏ. Công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa cao. Hạ tầng cơ sở còn yếu, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Thu nhập dân cư thấp, mức đô thị hóa chậm. Salavan có tiềm năng phát triển nhưng nguồn thu ngân sách nhà nước còn hạn chế và thiếu ổn định.

3) Tỉnh Sekong

Sekong là tỉnh có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn nhất trong 4 tỉnh,
(GDP của tỉmh Champasak là 42.993,11 tỷ kíp (2024); Salavan là đạt khoảng 4,969 tỷ kip (2024), Sekong là 3.183 tỷ kip (2024) và Attapu là 6.979 tỷ kip (2024)2. Địa hình đồi núi phức tạp, dân cư thưa thớt. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp và khai thác tài nguyên rừng, khoáng sản. Trình độ phát triển thấp, hạ tầng giao thông – kỹ thuật kém. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Sekong có nguồn thu ngân sách rất hạn chế, phụ thuộc lớn vào trợ cấp ngân sách trung ương.

4) Tỉnh Attapeu

Attapeu là tỉnh cực nam của Lào, có tiềm năng nhưng còn nhiều khó khăn, thách thức. Có lợi thế về đất đai, tài nguyên rừng và thủy điện. Một số dự án đầu tư lớn (thủy điện, nông nghiệp quy mô lớn) đã và đang triển khai. Tuy nhiên, mức độ phát triển kinh tế vẫn thấp, dễ bị “tổn thương” trước thiên tai. Hạ tầng và nguồn nhân lực còn yếu. Attapeu có nguồn thu ngân sách nhà nước chưa bền vững, phụ thuộc nhiều vào thu từ tài nguyên và dự án đầu tư.

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện thu ngân sách

Trong thời gian qua, các cơ quan quản lý thu tại các tỉnh miền Nam Lào đã triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà nước. Việc lập dự toán thu ngân sách được thực hiện trên cơ sở dự báo tình hình phát triển kinh tế và kết quả thu ngân sách của các năm trước.

Triển khai mở rộng các phương hướng, mục tiêu đã đề ra để tổ chức thực hiện kế hoạch, nhằm hoàn thành theo yêu cầu. Cải tiến cơ chế và quy trình quản lý thu ngân sách, quản lý chi ngân sách chặt chẽ hơn trước, từng bước chuyển sang hệ thống quản lý hiện đại và áp dụng thanh toán qua ngân hàng ở những địa bàn có điều kiện, nhằm tăng tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm, đề cao đạo đức công vụ của cán bộ ngành tài chính. Đồng thời, xử lý nghiêm tình trạng tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, thiết lập hệ thống theo dõi và giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ một cách bài bản, thường xuyên.

Công tác quản lý nhập khẩu hàng hóa trong khuôn khổ đầu tư trong và ngoài nước được thực hiện theo thông báo của Cục Hải quan và phê duyệt của cơ quan khuyến khích và quản lý đầu tư ở trung ương và địa phương. Các cơ quan chức năng đã phối hợp với doanh nghiệp nhập khẩu, đặc biệt là các công ty dầu nhiên liệu, để xây dựng kế hoạch nhập khẩu, thực hiện hạch toán hải quan – thuế và nghĩa vụ tài chính theo quy định. Đồng thời, tăng cường phối hợp với cơ quan thuế trong công tác kiểm tra, giám sát hoạt động vận chuyển và lưu trữ dầu nhiên liệu, kiểm tra kho chứa của các doanh nghiệp và quản lý hàng hóa xuất – nhập khẩu nhằm chống thất thu ngân sách và gian lận thương mại.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng đã kiểm tra hàng hóa và phương tiện tồn kho tại các cửa khẩu hải quan, hướng dẫn xử lý các vụ việc tồn đọng như gỗ, phương tiện và thiết bị điện để nộp vào ngân sách nhà nước. Công tác đào tạo và hướng dẫn khai, nộp thuế điện tử cũng được tăng cường với nhiều lớp bồi dưỡng cho doanh nghiệp và cán bộ quản lý. Hiện nay, toàn khu vực có 5.828 đơn vị sử dụng hệ thống TaxRIS, chiếm 51,98% tổng số đơn vị3.

Công tác quản lý và xử lý nợ thu ngân sách cũng được đẩy mạnh, trong đó đã xử lý 157,03 tỷ kíp theo kết quả kiểm toán. Đồng thời, các cơ quan chức năng đã phối hợp rà soát hoạt động kinh doanh trên địa bàn với 5.459 đơn vị, trong đó nhiều đơn vị có doanh thu trên 400 triệu kíp/năm được đưa vào hệ thống VAT để quản lý thuế chặt chẽ hơn4.

Ngoài ra, công tác quản lý phương tiện, đất đai và nguồn thu liên quan cũng được tăng cường thông qua phối hợp giữa các sở, ngành và hệ thống ngân hàng. Đến cuối năm 2020, khu vực miền nam có 283.799 phương tiện đăng ký và 532.700 thửa đất, trong đó 376.176 thửa đã được cấp giấy chứng nhận, làm cơ sở cho việc thu ngân sách. Công tác quản lý hàng hóa, dầu nhiên liệu và khí gas được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; khu vực miền nam có 855 doanh nghiệp xuất – nhập khẩu và thương mại, trong đó 302 đơn vị thực tế hoạt động nhập khẩu, với 156 kho chứa hàng, gồm 49 kho đạt tiêu chuẩn5.

Nhìn chung, các nguồn thu chủ yếu của ngân sách địa phương bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên và các khoản phí, lệ phí. Công tác quản lý thuế từng bước được cải thiện thông qua cải cách thủ tục hành chính và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước.

Bảng 1. Thực hiện thu NSNN của tỉnh Champasas từ năm 2020 – 2024

(Đơn vị: tỷ kíp)

STTNội dungKế hoạch nămThực hiện
trong năm
So sánh %
1Thu năm 20201.456 1.557106,96%
2Thu năm 20211.4891.35791,13%
3Thu năm 20221.5731.842117,10%
4Thu năm 20231.9322.439126,24%
5Thu năm 20242.1252.578121,32%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thực hiện thu ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Champasas giai đoạn 2020 – 2024.

Số liệu cho thấy, trong giai đoạn 2020 – 2024, công tác quản lý thu ngân sách nhà nước của tỉnh nhìn chung đạt kết quả tích cực khi hầu hết các năm đều hoàn thành và vượt dự toán thu. Cụ thể, năm 2020 thu đạt 1.557 tỷ kíp, bằng 106,96% kế hoạch; năm 2021 đạt 1.357 tỷ kíp, bằng 91,13% kế hoạch và là năm duy nhất không đạt dự toán do ảnh hưởng của khó khăn kinh tế – xã hội. Từ 2022 đến 2024, thu ngân sách tăng mạnh và đều vượt kế hoạch, lần lượt đạt 1.842 tỷ kíp (117,10%), 2.439 tỷ kíp (126,24%) và 2.578 tỷ kíp (121,32%)6. Nhìn chung, thu ngân sách của tỉnh có xu hướng tăng qua các năm, phản ánh hiệu quả của các biện pháp tăng cường quản lý thu, mở rộng cơ sở thu và chống thất thu ngân sách. Tuy nhiên, kết quả năm 2021 cũng cho thấy, công tác quản lý thu vẫn chịu tác động của các yếu tố kinh tế, do đó cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và nâng cao chất lượng dự báo, lập dự toán thu ngân sách trong thời gian tới.

Bảng 2. Thực hiện thu NSNN của tỉnh Salavan giai đoạn từ năm 2020 – 2024

                                                                                                                        (Đơn vị: tỷ kíp)

STTNội dungKế hoạch nămThực hiện
trong năm
So sánh %
1Thu năm 2020144.612138.78395,97%
2Thu năm 2021173.808128.49873,93%
3Thu năm 2022158.521153.54596,86%
4Thu năm 2023181.062235.508130,07%
5Thu năm 2024211.382285.702135,16%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thực hiện thu ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Champasas giai đoạn 2020 – 2024.

Trong giai đoạn 2020 – 2024, kết quả thu ngân sách nhà nước của tỉnh Salavan có sự biến động nhưng nhìn chung có xu hướng tăng trưởng và cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây. Năm 2020 và 2022 số thu ngân sách gần đạt kế hoạch, lần lượt đạt 95,97% và 96,86% dự toán. Riêng năm 2021 chỉ đạt 73,93%, cho thấy nguồn thu ngân sách chịu ảnh hưởng bởi những khó khăn của nền kinh tế. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến 2024, thu ngân sách nhà nước của tỉnh đã vượt kế hoạch khá cao, lần lượt đạt 130,07% và 135,16% dự toán7. Điều này cho thấy, công tác quản lý và khai thác nguồn thu của tỉnh đã được tăng cường, hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước ngày càng được cải thiện.   

Bảng 3. Thực hiện thu ngân sách nhà nước của tỉnh Sekong năm 2020 – 2024

                                                                                                                       (Đơn vị: tỷ kíp)

STTNội dungKế hoạch nămThực hiện
trong năm
So sánh %
1Thu năm 202068,5073,86107,82%
2Thu năm 202181,31104,53128,55%
3Thu năm 2022118,85157,43132,46%
4Thu năm 2023201,18300,83149,53%
5Thu năm 2024298,96632,48211,56%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thực hiện thu ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Sekong giai đoạn 2020 – 2024.

Trong giai đoạn 2020 – 2024, thu ngân sách nhà nước của tỉnh Sekong liên tục đạt và vượt kế hoạch, cho thấy hiệu quả quản lý thu ngân sách ngày càng được nâng cao. Năm 2020, số thu đạt 107,82% kế hoạch; năm 2021 đạt 128,55%; năm 2022 đạt 132,46%. Đặc biệt, từ năm 2023 đến 2024, kết quả thu ngân sách tăng mạnh, lần lượt đạt 149,53% và 211,56% so với kế hoạch8. Điều này cho thấy công tác quản lý, khai thác nguồn thu và chống thất thu ngân sách của tỉnh Sekong đã được thực hiện hiệu quả, góp phần làm tăng quy mô thu ngân sách nhà nước qua các năm.

Bảng 4. Thực hiện thu NSNN của tỉnh Attapu từ năm 2020 – 2024

                                                                                                                    (Đơn vị: tỷ kíp)

STTNội dungKế hoạch nămThực hiện
trong năm
So sánh %
 Thu năm 2020156,274148,05393,48%
 Thu năm 2021358,723324,88390,57%
 Thu năm 2022432,574398,12292,03%
 Thu năm 2023769,256787,192102,33%
 Thu năm 2024703,851.350191,92%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thực hiện thu ngân sách nhà nước của Sở Tài chính tỉnh Attapu giai đoạn 2020 – 2024.

Trong giai đoạn 2020 – 2024, kết quả thu ngân sách nhà nước của tỉnh Attapu có sự biến động giữa các năm nhưng nhìn chung có xu hướng tăng trưởng rõ rệt vào những năm cuối giai đoạn. Trong các năm 2020 – 2022, số thu ngân sách của tỉnh chưa đạt kế hoạch, lần lượt đạt 93,48%, 90,57% và 92,03% dự toán. Tuy nhiên, đến năm 2023, thu ngân sách nhà nước đã đạt và vượt kế hoạch, đạt 102,33%. Đặc biệt, năm 2024, số thu ngân sách tăng mạnh, đạt 191,92% so với kế hoạch9. Kết quả này cho thấy công tác quản lý, khai thác nguồn thu và tổ chức thực hiện thu ngân sách nhà nước của tỉnh Attapu đã được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách trong những năm gần đây.

2.3. Công tác kiểm tra và chống thất thu ngân sách

Công tác thanh tra, kiểm tra thuế được tăng cường nhằm phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Các cơ quan quản lý thu đã phối hợp với các cơ quan liên quan để kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần hạn chế tình trạng trốn thuế và gian lận thuế.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế như việc quản lý các nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên và khu vực kinh tế phi chính thức còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách.

Từ năm 2020 – 2024, có 43 đoàn thanh tra, kiểm tra, giám sát thu ngân sách nhà nước: kiểm toán nhà nước: 35 đợt; Thanh tra Chính phủ, bộ, ngành trung ương: 9 đợt; thanh tra tỉnh: 18 đợt; thanh tra các sở, ngành địa phương: 30 đợt. Kết quả là: có ý kiến 20,968 tỷ kíp (kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước 8,845 tỷ kíp; Giảm trừ dự toán năm sau, giảm trừ quyết toán: 10 tỷ kíp; kiến nghị xử lý tài chính khác: 12,6 tỷ kíp). Xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan 56 vụ việc, các trường hợp: chuyển cơ quan điều tra Công an tỉnh 16 vụ việc, kỷ luật 32 vụ; kiểm điểm rút kinh nghiệm 23 vụ10, cụ thể:

Tỉnh Champasak, công tác kiểm tra đã tiến hành theo dõi việc thực hiện chế độ kế toán năm 2021 của các đơn vị kinh doanh với tổng số 410 đơn vị, trong đó, 352 đơn vị đang hoạt động tiếp tục, 58 đơn vị thành lập mới. Đồng thời, đã đôn đốc, theo dõi, kiểm tra và ban hành văn bản xác nhận việc thực hiện chế độ kế toán năm 2021 cho 28 đơn vị dự toán ngân sách nhà nước thuộc các sở, ban, ngành cấp tỉnh, đạt 100% số đơn vị đã gửi báo cáo tổng hợp. Đối với 24 đơn vị còn lại, cơ quan chức năng đã tiến hành hướng dẫn và đôn đốc tại tất cả các cơ quan liên quan, tuy nhiên chưa thể cấp văn bản xác nhận việc thực hiện chế độ kế toán, do việc thực hiện quy định về kế toán của các đơn vị này chưa đầy đủ theo quy định. Đã hoàn thành kiểm tra việc thực hiện thu – chi ngân sách của 6 đơn vị dự toán chuyên ngành, đạt 50% kế hoạch, trong đó gồm: 4 sở, ngành cấp tỉnh; 3 phòng tài chính cấp huyện. Đã hoàn thành kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách của các doanh nghiệp với 17 đơn vị, đạt 70% kế hoạch, trong đó: 15 công ty đặt trụ sở tại tỉnh Champasak; 2 doanh nghiệp khác. Đồng thời, đã đôn đốc thu hồi các khoản nợ còn tồn theo biên bản kết quả kiểm tra của 4 doanh nghiệp còn nợ đọng; qua đó kiểm tra và thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 250.765.768 kíp11.

Trong giai đoạn gần đây, tỉnh Salavan đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cũng như nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn. Tỉnh đã tiến hành kiểm tra 28 dự án đầu tư của Nhà nước có giá trị từ 10 tỷ kíp trở lên và nhiều dự án dưới 10 tỷ kíp12; đồng thời triển khai kiểm tra thực địa, kiểm tra hồ sơ và phối hợp với các cơ quan liên quan để đánh giá việc thực hiện dự án. Bên cạnh đó, công tác theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước tại các Phòng Tài chính cấp huyện được thực hiện hằng năm; kiểm tra hoạt động kinh doanh của người nước ngoài, việc thu ngân sách tại một số huyện, cũng như nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp thu mua nông sản và các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu hồi nhiều khoản chưa nộp ngân sách nhà nước, góp phần tăng thu ngân sách và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính. Đồng thời, tỉnh đã phối hợp với các cơ quan liên quan để khắc phục các tồn tại theo kết luận kiểm tra, kiểm toán trong 5 năm qua, trong đó đã thu hồi phần lớn các khoản nợ tạm ứng của các đơn vị sử dụng ngân sách; tuy nhiên vẫn còn một số khoản tồn đọng, đặc biệt là khoản chi tạm ứng liên quan đến việc sử dụng tiền bán gỗ để thanh toán các dự án đường giao thông với tổng số tiền hơn 38,69 tỷ kíp đang tiếp tục được xử lý13.

Tại tỉnh Sekong, công tác quản lý rủi ro và kiểm tra sau kê khai được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kiểm tra thuế nhằm phát hiện các trường hợp che giấu doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế. Cơ quan thuế đã thực hiện phân tích rủi ro, kiểm tra việc kê khai và nộp thuế của các doanh nghiệp, đồng thời đôn đốc các đơn vị kinh doanh nộp báo cáo tài chính hằng năm để phục vụ kiểm tra theo các hình thức như kiểm tra toàn diện, kiểm tra nhanh và kiểm tra theo đề nghị của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cơ quan thuế còn theo dõi, quản lý và kiểm tra kho hàng hóa, xăng dầu và khí gas của các đơn vị kinh doanh thuộc phạm vi quản lý. Tổng cộng đã kiểm tra 103 đơn vị, qua đó phát hiện số thu tăng thêm 2.554.621.123 kíp, đạt 149% kế hoạch. Trong giai đoạn 2020 – 2024, công tác khắc phục sau kiểm tra cũng được tăng cường, với tổng số tiền nợ thuế được đôn đốc thu hồi theo kết quả kiểm tra đạt hơn 8,07 tỷ kíp14.

Tại tỉnh Attapu, công tác kiểm tra và giám sát tài chính được triển khai thông qua việc xây dựng kế hoạch kiểm tra thường xuyên và kiểm tra trọng tâm năm 2024. Qua kiểm tra hoạt động thu – chi của doanh nghiệp nhà nước thương mại xuất nhập khẩu tỉnh năm 2023 phát hiện khoản phải thu 909.791.247 kíp và khoản phải trả 546.438.165 kíp. Đồng thời, kiểm tra việc thu phí, lệ phí năm 2023 tại 5 sở, ban, ngành cấp tỉnh, phát hiện khoản phí chưa nộp ngân sách tại Công an tỉnh 139.956.500 kíp và yêu cầu nộp trước khi khóa sổ ngân sách năm 2024. Công tác theo dõi và thực hiện kết luận kiểm tra tiếp tục được đẩy mạnh, trong đó yêu cầu 6 doanh nghiệp nộp ngân sách theo kết quả kiểm tra với tổng số tiền 61.319.446 kíp. Ngoài ra, các cơ quan chức năng còn theo dõi xử lý các khoản nợ theo kết luận kiểm tra tại cơ quan hải quan tỉnh với tổng số 8.960.962.400 kíp (đã xử lý 500.000.000 kíp, còn 8.460.964.400 kíp) và tại cơ quan thuế nội địa 23.184.024.407 kíp (đã xử lý 2.693.095.539 kíp, còn 20.490.928.868 kíp). Đối với phòng Tài chính 5 huyện, tổng số nợ cần xử lý giai đoạn 2021- 2022 là 1.943.064.821 kíp và 118.433 USD, trong đó đã xử lý 478.386.540 kíp và 25.388 USD, còn tồn 1.464.678.281 kíp và 93.045 USD. Bên cạnh đó, qua kiểm tra việc thu ngân sách từ sắn và hạt ươi tại các trạm kiểm soát đã thu được 4.434.277.541 kíp và yêu cầu nộp bổ sung 10.211.200 kíp do thu chưa đầy đủ theo quy định15.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về thu ngân sách nhà nước. Rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quản lý thu ngân sách, đặc biệt là các chính sách thuế, phí và lệ phí nhằm bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý nguồn thu giữa trung ương và địa phương, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc quản lý và khai thác hiệu quả các nguồn thu trên địa bàn.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý thu ngân sách. Tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý thuế điện tử, khai thuế và nộp thuế trực tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về người nộp thuế và nguồn thu ngân sách. Việc hiện đại hóa hệ thống quản lý thu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí hành chính, hạn chế thất thu ngân sách và tăng tính minh bạch trong quản lý tài chính công.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và chống thất thu ngân sách.
Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế, phí và các nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, cá nhân; tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ thất thu cao như khai thác tài nguyên, thương mại, dịch vụ, đầu tư xây dựng và hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe và bảo đảm sự công bằng trong thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

Thứ tư, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý thu ngân sách.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trong ngành tài chính, thuế và hải quan; nâng cao trình độ quản lý, kỹ năng phân tích dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu ngân sách. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công vụ.

Thứ năm, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quản lý nguồn thu ngân sách. Đẩy mạnh sự phối hợp giữa cơ quan tài chính, thuế, hải quan, kho bạc, công an, các sở, ngành và chính quyền địa phương trong việc trao đổi thông tin, kiểm soát nguồn thu và xử lý các trường hợp vi phạm. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan sẽ giúp quản lý tốt hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, từ đó, khai thác hiệu quả các nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Thứ sáu, nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro trong thu ngân sách.

Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ trong các cơ quan quản lý tài chính, thuế và hải quan; áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong quản lý thu ngân sách nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu gian lận, thất thu và sai phạm trong quá trình quản lý. Đồng thời, thường xuyên rà soát, đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu để kịp thời điều chỉnh các biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn.

Thứ bảy, mở rộng và khai thác hiệu quả các nguồn thu trên địa bàn.

Chú trọng khai thác các nguồn thu tiềm năng như thu từ tài nguyên thiên nhiên, đất đai, hoạt động thương mại – dịch vụ, du lịch và đầu tư nước ngoài. Đồng thời, tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn nhằm hạn chế tình trạng thất thu và bảo đảm nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương.

4. Kết luận

Quản lý thu ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực tài chính cho hoạt động của chính quyền địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Qua phân tích thực trạng công tác quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào cho thấy các địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc tăng cường quản lý nguồn thu, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý rủi ro và xử lý các khoản thất thu ngân sách. Nhờ đó, một số khoản thu đã được phát hiện, truy thu và nộp vào ngân sách nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý thu ngân sách tại các địa phương vẫn còn một số hạn chế như công tác kiểm tra và giám sát chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu còn hạn chế, năng lực cán bộ quản lý thu chưa đồng đều và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quản lý nguồn thu chưa thật sự hiệu quả.

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước tại các tỉnh miền Nam Lào, cần triển khai đồng bộ các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương trong thời gian tới.

Chú thích:
1. UBND tỉnh Champasak (2025). Đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ IX (2021 – 2025).
2, 10. Sở tài chính tỉnh Champasak, Salavan, Sekong, Attapu (2024). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu – chi NSNN các tỉnh năm 2024.
3, 4, 5. Sở tài chính các tỉnh Champasak, Salavan, Sekong, Attapu (2025). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu – chi NSNN các tỉnh năm 2025.
6, 11. Sở tài chính tỉnh Champasak (2024). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu NSNN tỉnh giai đoạn 2020 – 2024.
7, 12, 13. Sở tài chính tỉnh Salavan (2024). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu NSNN tỉnh giai đoạn 2020 – 2024.
8, 14. Sở tài chính tỉnh Sekong (2024). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu NSNN tỉnh giai đoạn 2020 – 2024.
9, 15. Sở tài chính tỉnh Attpu (2024). Báo cáo tổng kết việc tổ chức thực hiện thu ngân sách nhà nước tỉnh giai đoạn 2020 – 2024.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội Lào (2015). Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.
2. Quốc hội Lào (2025). Luật Về chính quyền địa phương năm 2025.
3. Bộ Tài chính Lào (2023). Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách nhà nước.
4. World Bank (2022). Public Finance Review for Lao PDR.
5. International Monetary Fund (2023). Fiscal Policy and Revenue Mobilization in Lao PDR.
6. Asian Development Bank (2021). Public Financial Management Reform in Lao PDR.
7. Nguyễn Văn Hậu (2021). Quản lý thu ngân sách nhà nước ở địa phương. H. NXB Tài chính.
8. Trần Xuân Hải (2020). Quản lý tài chính công. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Viêng Thoong Sỉ Phăn Đon (2010). Quản lý thu ngân sách nhà nước ở CHDCND Lào. Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
10. Võ Quang Hợp (2025). Quản lý thu, chi ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực y tế ở tỉnh Đắk Nông. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.