Transforming the banking sector’s development model through science, technology, innovation, and digital transformation
TS. Hoàng Đình Minh
ThS. Nguyễn Thị Minh Hằng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới mô hình phát triển theo hướng nhanh và bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển lực lượng sản xuất mới và kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Bài viết đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành Ngân hàng trong giai đoạn trước, phân tích, chỉ rõ các vấn đề đặt ra đối với ngành Ngân hàng trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển mới sẽ là cơ sở quan trọng giúp ngành Ngân hàng xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp chiến lược cần triển khai trong giai đoạn 2026 – 2030 góp phần thực hiện thành công việc đổi mới mô hình phát triển dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo; ngành ngân hàng; chuyển đổi số; tăng trưởng kinh tế.
Abstract: Transforming the development model toward rapid and sustainable growth based on science, technology, innovation, and digital transformation, while developing new productive forces and the private sector to become key drivers of the economy. This article provides a comprehensive assessment of the current state of science, technology, innovation, and digital transformation in the banking sector during the previous period, analyzes and identifies the challenges facing the banking sector in light of the need to adopt a new development model. This analysis will serve as a crucial foundation to help the banking sector clearly define the strategic tasks and solutions to be implemented during the 2026–2030 period, thereby contributing to the successful transformation of the development model based on science, technology, innovation, and digital transformation.
Keywords: Innovation; banking sector; digital transformation; economic growth.
1. Mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn sau đổi mới (năm 1986) là “mô hình tăng trưởng theo chiều rộng” chủ yếu dựa vào gia tăng số lượng yếu tố đầu vào, như: vốn, lao động và tài nguyên, thậm chí “thâm dụng các yếu tố đầu vào” trong giai đoạn 1991 – 2010 mà ít đề cập thay đổi của yếu tố công nghệ. Nền kinh tế phụ thuộc lớn vào việc gia tăng vốn đầu tư (đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư công); hiệu quả sử dụng vốn rất thấp (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) giai đoạn 2006 – 2010 đạt mức 6,1 lần, trong khi giai đoạn 1996 – 2000 là 4,5 lần), để gia tăng một đơn vị đầu ra (tổng sản phẩm quốc nội (GDP)) nền kinh tế Việt Nam cần sử dụng một lượng vốn đầu tư rất lớn. Điều đó phản ánh sự lãng phí và kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công.
Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Văn kiện Đại hội XI năm 2011 của Đảng được xác định: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững” là tất yếu khách quan khi “dư địa” của vốn, đất đai và tài nguyên không còn là lợi thế.
Trong giai đoạn 2011 – 2025, quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên việc sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, năng suất tổng hợp (TFP) mang tính “đột phá” về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo), đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, tăng trưởng dựa vào gia tăng vốn và lao động vẫn tiếp tục, việc sử dụng ngày càng “bão hòa” và kém hiệu quả (so với giai đoạn 2011 – 2015 (hệ số 5,58 lần) và 2016 – 2020 (hệ số 6,13 lần); giai đoạn 2020 – 2025 là giai đoạn có hệ số ICOR cao nhất (tiệm cận 6,5 lần) trong vòng 15 năm qua). Điều này phản ánh sự “bão hòa” của mô hình tăng trưởng kinh tế cũ và đặt ra yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn xã hội.
Thực tiễn chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thời gian qua cho thấy, mô hình hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nội tại, nhất là về hiệu quả sử dụng nguồn lực và động lực tăng trưởng dài hạn. Điều đó đặt ra yêu cầu xác lập một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, dựa trên việc nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đề ra quan điểm “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Quán triệt các định hướng, quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ngành Ngân hàng đã phản ứng nhanh, chủ động đưa ra nhiều định hướng lớn để tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã khẳng định rõ quan điểm ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đi đôi với phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao chính là những thành tố chính, then chốt cho quá trình phát triển nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của hệ thống ngân hàng so với khu vực và thế giới; đồng thời, dành riêng một nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của ngành Ngân hàng.
2. Thực trạng triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng
Những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngành ngân hàng luôn đi đầu trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Với quan điểm lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, coi sự thuận tiện và trải nghiệm của khách hàng là thước đo, ngành ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giai đoạn mới, qua đó đạt được nhiều kết quả tích cực.
Ngân hàng Nhà nước đã chủ động ban hành hoặc tham mưu trình cấp thẩm quyền ban hành, triển khai nhiều quy định pháp lý nhằm phát triển thanh toán và thúc đẩy chuyển đổi số, cụ thể: xây dựng, trình Chính phủ, nghị định về thanh toán không dùng tiền mặt, nghị định về cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, nghị định về hoạt động cung ứng dịch vụ tiền di động; quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của ngành tập trung vào 5 trụ cột: phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; dữ liệu và Đề án 06 (theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030).
Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số của ngành ngân hàng cũng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp và phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng vận hành thông suốt, an toàn và hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử được tích hợp, kết nối với các sản phẩm, dịch vụ và nền tảng của nhiều ngành, lĩnh vực khác. Ngân hàng Nhà nước cũng đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và một số quốc gia, như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc; đồng thời, tiếp tục mở rộng hợp tác với các quốc gia khác trong thời gian tới.
Năm 2025, Ngân hàng Nhà nước chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, nâng tổng số lên 57 dịch vụ; qua đó hoàn thành mục tiêu 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.
Về phía các tổ chức tín dụng, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là động lực then chốt để nâng cao năng suất lao động, quản trị rủi ro hiệu quả và phát triển bền vững. Ngành ngân hàng đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số, ngân hàng thông minh và tài chính mở. Hàng loạt công nghệ hiện đại, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), sinh trắc học, tự động hóa quy trình bằng robot (RPA)… được nghiên cứu và ứng dụng sâu rộng trong hoạt động ngân hàng. Nếu như trước đây, các giao dịch tài chính chủ yếu thực hiện trực tiếp tại quầy, thì nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, người dân có thể mở tài khoản trực tuyến bằng quy trình định danh khách hàng điện tử (eKYC), chuyển tiền tức thời 24/7, thanh toán mã QR, gửi tiết kiệm online, vay vốn số hay sử dụng nhiều dịch vụ tài chính hiện đại khác.
Các tổ chức tín dụng tích cực nghiên cứu và triển khai ngân hàng số, ứng dụng AI trong chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu để cá thể hóa dịch vụ, tăng cường bảo mật bằng sinh trắc học và xác thực đa lớp. Nhiều quy trình nội bộ được tự động hóa, giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao hiệu quả hoạt động. Những bước tiến ấy là minh chứng rõ nét cho vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng.
Tinh thần đổi mới sáng tạo còn được thể hiện ở việc các ngân hàng chủ động hợp tác với doanh nghiệp công nghệ tài chính (Fintech), Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, gia tăng tiện ích cho người dân và doanh nghiệp. Những sáng kiến đổi mới không chỉ giúp tiết giảm chi phí vận hành mà còn mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính đến vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện. Đến nay, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành ngân hàng đã phát triển đa dạng, với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi, được kết nối liên thông và tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn.
Tính đến hết quý I/2026, nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam ghi nhận trên 90% giao dịch được thực hiện qua kênh số. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng mạnh; trong năm 2025, tổng giá trị giao dịch đạt khoảng 28 lần GDP, cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong thói quen thanh toán của người dân. Trong kết nối và liên thông dữ liệu, ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư, nâng cấp hạ tầng dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm dữ liệu được cập nhật “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của Đề án 06, Ngân hàng Nhà nước xem đây là nhiệm vụ trọng tâm và chỉ đạo toàn ngành vào cuộc một cách quyết liệt. Các đơn vị đã nhanh chóng đầu tư hạ tầng kỹ thuật để kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm rà soát và xác thực thông tin chính chủ. Công tác làm sạch dữ liệu được thực hiện liên tục, giúp loại bỏ các tài khoản ảo và ngăn ngừa gian lận tài chính. Các thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp được đơn giản hóa tối đa, giúp tiết giảm đáng kể thời gian và chi phí tuân thủ. Những nỗ lực này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý của ngành mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy văn minh xã hội và thanh toán không dùng tiền mặt.
Hoạt động tín dụng tiếp tục được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; trong đó có các lĩnh vực gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh. Đến tháng 11/2025, tín dụng vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đạt 15.804.805 tỷ đồng, tăng 16,27% so với cuối năm 2024. Trong đó, đến cuối tháng 11/2025, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 95.191 tỷ đồng, tăng 22,39% so với cuối năm 2024, chiếm 0,52% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Dư nợ tín dụng lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 29,44% so với cuối năm 2024, chiếm 0,43% dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Những kết quả đạt được không chỉ khẳng định vai trò tiên phong của ngành ngân hàng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia mà còn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ngành Ngân hàng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mới như: tiến độ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuyển đổi số trong ngành ngân hàng hiện còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, gây khó khăn cho công tác đổi mới sáng tạo. Nhu cầu chuyển đổi số đồng loạt ở tất cả các ngân hàng tạo ra cuộc chạy đua về nhân sự, khiến nguồn cung nhân lực phù hợp vốn đã ít lại càng trở nên khan hiếm, trong khi nhu cầu tuyển dụng của các ngân hàng ngày càng tăng mạnh.
Cơ sở hạ tầng thanh toán chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị do nhu cầu sử dụng các phương thức thanh toán điện tử khác nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn. Hạ tầng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số ngành ngân hàng tại Việt Nam vẫn đối mặt với các hạn chế do hệ thống lõi (core banking) khá cũ, khó tích hợp công nghệ mới, nguy cơ gia tăng rủi ro an ninh mạng; khung pháp lý về quản trị dữ liệu và các chuẩn mực liên quan đến chia sẻ dữ liệu vẫn đang trong quá trình hoàn thiện (chưa có quy định pháp luật về tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật, các loại dữ liệu được chia sẻ, quyền tiếp cận và nghĩa vụ liên quan…).
Tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng với thủ đoạn tinh vi, khó lường, làm gia tăng rủi ro an ninh mạng. Trong khi đó, dữ liệu vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa đồng đều; việc chuẩn hóa, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực chưa thực sự thông suốt.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập của thể chế để khơi thông nguồn lực đang bị ách tắc. Nghiên cứu, hoàn thiện các quy định qua việc ban hành các thông tư và văn bản quy phạm pháp luật để tiếp tục thúc đẩy và tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng, nhất là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh tế mới, kinh doanh dựa trên công nghệ và nền tảng số, tạo dựng hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống (như; trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu…), cơ chế, chính sách cho hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Rà soát, nghiên cứu xây dựng Luật các hệ thống thanh toán làm trụ cột pháp lý, thống nhất cho việc quản lý, giám sát hoạt động thanh toán trong nền kinh tế.
Thứ hai, tăng cường nguồn lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ưu tiên kinh phí để phục vụ các hoạt động hỗ trợ chuyển đổi nhận thức, kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng số, phát triển nền tảng số, tạo lập niềm tin, bảo đảm an toàn an ninh mạng, hợp tác quốc tế, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo trong môi trường số và chuyển đổi kỹ năng trong môi trường số và các nhiệm vụ, dự án do Ngân hàng Nhà nước chủ trì thực hiện.
Phát triển nguồn nhân lực, xây dựng cơ chế thu hút, đào tạo và sử dụng đội ngũ chuyên gia về dữ liệu, AI, an ninh mạng và công nghệ lõi; nâng cao năng lực quản trị chuyển đổi số, quản trị đổi mới sáng tạo và quản trị hệ sinh thái số trong toàn ngành ngân hàng. Hợp tác với các cơ quan, tổ chức liên quan, doanh nghiệp công nghệ để thu hút chuyên gia, nguồn lực, tìm hiểu giải pháp, công nghệ phục vụ chuyển đổi số của ngành Ngân hàng. Tận dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ kỹ thuật trong nước và quốc tế để học tập, trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận các công nghệ hiện đại, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thu hẹp khoảng cách về công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng với các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Hợp tác, trao đổi thông tin trong lĩnh vực an ninh, an toàn thông tin để nâng cao hiệu quả ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro an ninh công nghệ thông tin.
Thứ ba, phát triển, hoàn thiện hạ tầng thanh toán, phát triển hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng. Đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai hạ tầng tập trung tại các tổ chức tín dụng, tích hợp, kết nối mở rộng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ dựa trên dữ liệu hướng đến các mô hình kinh doanh mới như ngân hàng mở (Open banking), tài chính nhúng (Embedded Finance), ngân hàng như một dịch vụ (Banking as a Service – BaaS),… để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thân thiện, an toàn, tiện lợi với chi phí thấp. Đẩy mạnh thanh toán xuyên biên giới qua mã QR, thông qua tăng cường hợp tác, kết nối với các hệ thống thanh toán khu vực và quốc tế, góp phần phát triển du lịch, thương mại, dịch vụ và thúc đẩy hội nhập của hạ tầng thanh toán bán lẻ quốc gia.
Thứ tư, phát triển, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, an ninh an toàn bảo mật ngành Ngân hàng. Nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống mạng, cơ sở dữ liệu và các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng, đặc biệt là các hệ thống thanh toán quan trọng, hệ thống ngân hàng lõi, hệ thống cung cấp dịch vụ cho khách hàng trên Internet đáp ứng các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Tích hợp yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn thông tin ngay từ khâu thiết kế đối với việc xây dựng các trung tâm dữ liệu, các hệ thống thông tin, nền tảng số và các ứng dụng mới.
Tổ chức rà soát, xử lý, khắc phục kịp thời các lỗ hổng bảo mật trong các hệ thống thông tin; không để phát sinh, kéo dài tình trạng không tuân thủ các quy định về an ninh, an toàn thông tin. Quy định về an ninh mạng, bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu là thành phần bắt buộc trong tất cả các chương trình, kế hoạch, đề án và dự án công nghệ thông tin. Bố trí kinh phí cho các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, bảo mật thông tin, dữ liệu với tỷ lệ tối thiểu 15% tổng kinh phí triển khai, bảo đảm hiệu quả, đúng quy định, tránh lãng phí.
Thứ năm, phát triển và hoàn thiện hạ tầng, cơ sở dữ liệu ngành ngân hàng. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước để kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quy mô quốc gia theo yêu cầu, thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và nền tảng chia sẻ, điều phối của Trung tâm dữ liệu quốc gia. Tiếp tục hiện đại hóa hoạt động thu thập, xử lý và quản trị dữ liệu theo Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 của Ngân hàng Nhà nước.
Phát triển hệ sinh thái dữ liệu tín dụng và đổi mới sáng tạo tài chính số; thúc đẩy liên kết, đẩy mạnh hợp tác công – tư giữa Ngân hàng Nhà nước, CIC, các tổ chức tín dụng, các công ty công nghệ tài chính (Fintech), doanh nghiệp công nghệ và viện nghiên cứu; triển khai các mô hình thử nghiệm về dữ liệu tín dụng, dịch vụ tín dụng số; thúc đẩy chia sẻ – kết nối – liên thông dữ liệu, khai thác dữ liệu lớn, dữ liệu phi truyền thống phục vụ phát triển kinh tế số và quản lý nhà nước trên nền tảng số.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Ngân hàng Nhà nước (2026). Chuyên đề mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số và những vấn đề đặt ra đối với ngành Ngân hàng.



