Citizen evaluation of determinants promoting participation in the new rural construction program in Ho Chi Minh City
NCS. Ngô Văn Huấn
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nhận diện và mô tả các đánh giá của người dân về các nhóm yếu tố thúc đẩy sự tham gia của người dân trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên khung lý thuyết về chính sách công, bối cảnh kinh tế – xã hội và đặc điểm của chủ thể, tác giả đã triển khai khảo sát 460 hộ gia đình tại 12 xã thuộc 5 huyện ngoại thành. Qua phân tích thống kê cho thấy, mức độ đồng thuận rất cao và thái độ tích cực của cộng đồng đối với 5 nhóm yếu tố: lòng tin (Mean = 4,59); giá trị và chuẩn mực xã hội (Mean = 4,65); mạng lưới xã hội (Mean = 4,45); nhận thức và tâm lý chủ quan (Mean = 4,41); và chính sách nông thôn mới thông minh/chuyển đổi số trong nông nghiệp (Mean = 4,56). Đáng chú ý, yếu tố giá trị và chuẩn mực xã hội, với trọng tâm là quy chế dân chủ cơ sở, đạt mức đánh giá cao nhất, qua đó khẳng định vai trò nền tảng của các thiết chế dân chủ trong việc thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân.
Từ khóa: Tham gia của người dân, chính sách công, xây dựng nông thôn mới, TP. Hồ Chí Minh.
Abstract: This study examines citizens’ evaluations of the factors that promote participation in the National Target Program on New Rural Construction (NRC) in Ho Chi Minh City. Drawing on a public policy framework and considering socio-economic contexts and individual characteristics, a quantitative survey was conducted with 460 households across 12 communes in five suburban districts. Descriptive statistical analysis revealed strong consensus and positive attitudes toward five groups of factors: trust (M = 4.59), social values and norms (M = 4.65), social networks (M = 4.45), awareness and subjective psychology (M = 4.41), and smart NRD policies/digital transformation in agriculture (M = 4.56). Among these, social values and norms, particularly the Grassroots Democracy Regulation, received the highest evaluation, highlighting the foundational role of democratic institutions in fostering citizen participation.
Keywords: Citizen participation; Public policy; New Rural Development; Ho Chi Minh City
1. Đặt vấn đề
Sự tham gia của người dân được xem là một trong những tiêu chí phản ánh thành công và sự phát triển bền vững của chính sách. Tại Việt Nam, vai trò trung tâm của người dân thể hiện trong việc thực hiện nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng” trong các chương trình phát triển, điển hình là Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Mặc dù vai trò chủ thể của người dân luôn được khẳng định, thực tiễn triển khai cho thấy mức độ tham gia thực quyền vẫn còn những khoảng cách nhất định, đòi hỏi sự phân tích mang tính thực nghiệm về các động lực và rào cản đối với việc tham gia.
Địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã hợp nhất và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 và Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025. Chương trình xây dựng nông thôn mới tại TP. Hồ Chí Minh phù hợp với quá trình đô thị hóa, hướng tới mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu. Mục tiêu đến cuối năm 2024 là tối thiểu 50% tổng số xã (28/56 xã) đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và đến năm 2025 hoàn thành việc đạt chuẩn cho toàn bộ xã. Sự tham gia của người dân là yếu tố quyết định đối với TP. Hồ Chí Minh để đạt được mục tiêu này.
2. Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách công là một lĩnh vực liên ngành quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh tăng cường quản lý và phát triển bền vững. Người dân, với tư cách là chủ thể thụ hưởng, đóng vai trò quan trọng đối với sự thành bại của chính sách. Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò này thường chưa được thể hiện rõ nét và mang tính thực quyền. Bài viết tìm hiểu các yếu tố tác động chủ yếu: yếu tố chính sách và chương trình; yếu tố bối cảnh kinh tế – xã hội và văn hóa cộng đồng; và yếu tố cá nhân của người dân (chủ thể).
2.1. Yếu tố chính sách và quá trình thực thi chính sách
Nội dung các hợp phần của chính sách: Rad (2019)1 chỉ ra rằng các hợp phần chính sách phát triển đô thị như chính sách chiết khấu vay vốn, hỗ trợ lãi suất, trao đổi và thu mua tài sản xuống cấp đã làm gia tăng đáng kể sự tham gia của người dân vào việc tái thiết đô thị xuống cấp tại Tehran. Điều này gợi mở hàm ý về chính sách, về sự cần thiết phải khảo sát nhu cầu, hoạch định và thực thi chính sách phù hợp với nguyện vọng của người dân. Ngược lại, việc thiếu linh hoạt trong chi tiêu theo điều kiện thực địa, thiếu các hoạt động đầu vào (EPA) và sự khác biệt trong thanh toán tiền lương đã được xác định là những rào cản từ phía chương trình, làm giảm sự tham gia của người dân.
Quá trình thực thi và truyền thông chính sách: Nguyễn Thị Kim Nhung (2015)2 chỉ ra rằng các yếu tố chính sách không được quy định rõ ràng và việc thực thi thiếu hiệu quả, như việc phổ biến chính sách và thông tin về phân loại rác đô thị chưa đầy đủ, đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự tham gia của người dân. Tương tự, nghiên cứu của Phan Văn Tuấn (2017)3 về xây dựng nông thôn mới khẳng định rằng công tác tuyên truyền chính sách kịp thời, người dân được tham gia bàn bạc ý kiến, nắm rõ nội dung và được giám sát sẽ tăng mức độ sẵn sàng tham gia đóng góp. Ngược lại, Bing & Du (2018)4 nêu lên rào cản từ quá trình xây dựng, ban hành và thực thi chính sách mang nặng tính ý chí chính trị, tính hình thức, làm giảm động lực tham gia của người dân tại Trung Quốc. Mặc dù vậy, Diệp Thanh Tùng (2023)5 không tìm thấy ảnh hưởng trực tiếp của hệ thống truyền thông đối với sự hài lòng của người dân về xây dựng nông thôn mới, cho thấy mối quan hệ này vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn.
2.2. Yếu tố bối cảnh kinh tế – xã hội và văn hóa cộng đồng
Bên cạnh yếu tố chính sách, bối cảnh kinh tế – xã hội và văn hóa cộng đồng cũng là những lực tác động mạnh mẽ đến mức độ tham gia của người dân.
Yếu tố kinh tế – lợi ích: Nghiên cứu của Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà & Lê Minh Tuấn (2019)6 về du lịch sinh thái cộng đồng tại Hội An chỉ ra rằng lợi ích kinh tế, thông qua kỳ vọng gia tăng việc làm, thu nhập và sinh kế, có tác động mạnh nhất đến mức độ tham gia. Các yếu tố này, cùng với cơ chế chính sách và nguồn lực của hộ gia đình, là những nhân tố trực tiếp quyết định mức độ và kết quả tham gia.
Yếu tố văn hóa – xã hội: Cătalin và cộng sự (2009)7 ghi nhận sự thiếu văn hóa tham gia trong cộng đồng, thiếu kiến thức, thiếu thông tin về cơ hội và sự khuyến khích từ chính quyền là những rào cản tại Rumani. Đặc biệt, trong bối cảnh phương Đông, Gao (2013)8 tại Trung Quốc và Nguyễn Thị Kim Nhung (2014)9 tại Việt Nam cùng khẳng định rằng văn hóa cộng đồng truyền thống gia trưởng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng giáo, đề cao sự tuân thủ, đã trở thành rào cản đối với sự tham gia dân chủ vào các chính sách. Ngoài ra, thói quen sống và phong tục tập quán cũng ảnh hưởng đến mức độ tham gia.
Yếu tố chính trị – xã hội: Nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới – một phong trào chính trị – xã hội – cho thấy, vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ…) trong các hoạt động tuyên truyền, huy động nguồn lực và giám sát/phản biện. Mai Thị Huyền, Nông Hữu Tùng & Nguyễn Thị Ngọc Mai (2019)10 cũng chứng minh rằng năng lực và văn hóa lãnh đạo của chính quyền địa phương có tác động tích cực, thuận chiều đến sự tham gia của người dân.
2.3. Yếu tố cá nhân người dân (chủ thể)
Yếu tố cá nhân liên quan đến trình độ học vấn, tri thức, tâm lý, động cơ và thói quen lối sống của đối tượng thụ hưởng có vai trò thúc đẩy sự tham gia của người dân. Sự thiếu hụt kiến thức và thông tin của người dân là rào cản cơ bản. Kuswandoro (2023)11 kết luận rằng “sự miễn cưỡng của người nghèo” trong việc thực hiện chính sách là do diễn ngôn tiêu cực và đề xuất rằng việc thiết kế chính sách cần tạo không gian để người dân bày tỏ ý kiến, qua đó nâng cao năng lực của họ.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của động cơ và niềm tin của người dân, nghiên cứu của Diệp Thanh Tùng & Cảnh Chí Hoàng (2023)12 đã xây dựng mô hình các nhân tố đẩy (như động cơ nội tại, niềm tin vào chính sách/lãnh đạo, lợi ích cảm nhận) và các nhân tố kéo (như ảnh hưởng của truyền thông, động cơ bên ngoài). Kết quả phân tích khẳng định rằng các yếu tố niềm tin vào chính sách/lãnh đạo, lợi ích cảm nhận và động cơ tích hợp có tác động mạnh mẽ và tích cực đến mức độ hài lòng và mức độ tham gia. Điều đó cho thấy động cơ, lợi ích và niềm tin có ý nghĩa quyết định mạnh mẽ. Yếu tố năng lực của người dân được đo lường bằng trình độ văn hóa, nghề nghiệp, kinh tế gia đình và được xác nhận là có ảnh hưởng đến mức độ tham gia.
Tổng quan đánh giá các nghiên cứu về sự tham gia trong chính sách công nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận lý thuyết và tính liên ngành cao. Trong đó, phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định rằng người dân, với tư cách là đối tượng thụ hưởng, đóng vai trò là chủ thể trụ cột của chính sách. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiều chính sách ở nhiều nơi cho thấy vai trò đó vẫn chưa được thể hiện đậm nét và chưa mang tính thực quyền. Lý giải cho điều này thường dựa trên cách tiếp cận phân tích động lực thúc đẩy và lực cản. Trong đó có những yếu tố mang tính khách quan từ nội dung, quá trình triển khai chính sách, bối cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội đến các yếu tố cá nhân như động cơ, lợi ích, tâm lý nhận thức của người thụ hưởng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát ý kiến đánh giá của người dân về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh: bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng bảng công cụ điều tra khảo sát bằng bảng hỏi. Địa bàn nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh (cũ) trước khi sáp nhập đơn vị hành chính theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 và sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã theo Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15. Trong giai đoạn từ 2021 đến trước 01/7/2025, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa các địa phương thuộc khu vực nông thôn của thành phố, được phân loại theo 2 cấp độ: xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu. Theo đề án của Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến cuối năm 2024, tối thiểu 50% tổng số xã (tương đương 28/56 xã) đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; đến năm 2025, tất cả các xã trên địa bàn đều hoàn thành tiêu chí này.
Phương pháp định lượng được tiến hành bằng công cụ điều tra bảng hỏi có cấu trúc hóa, chọn mẫu theo phương thức phân bổ hạn ngạch theo từng địa bàn tương ứng với số lượng xã. Cụ thể, tổng số mẫu khảo sát là 460 hộ gia đình nông thôn tại 12/56 xã thuộc 5 huyện ngoại thành của TP. Hồ Chí Minh (cũ) đang thực hiện xây dựng nông thôn mới, gồm: huyện Củ Chi 120 trường hợp (tại 3/20 xã); huyện Hóc Môn 80 trường hợp (tại 2/10 xã); huyện Bình Chánh 120 trường hợp (tại 3/14 xã); huyện Nhà Bè 60 trường hợp (tại 2/6 xã); huyện Cần Giờ 80 trường hợp (tại 2/6 xã). Cụ thể, quy trình và cách thức phân phối mẫu điều tra được mô tả trong sơ đồ dưới đây.

4. Kết quả nghiên cứu
Ý kiến đánh giá về các yếu tố tác động đến sự tham gia trong xây dựng nông thôn mới gồm 5 nhóm yếu tố cụ thể. (D1) Lòng tin (5 chỉ báo), (D2) Mạng lưới xã hội (4 chỉ báo), (D3) Giá trị và chuẩn mực (3 chỉ báo), (D4) Nhận thức, tâm lý người dân (chủ quan) (5 chỉ báo) và (D5) Chính sách xây dựng nông thôn mới thông minh và chuyển đổi số trong nông nghiệp (5 chỉ báo). Khảo sát trưng cầu ý kiến người dân thông qua các nhận định với thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được xử lý thông qua thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
4.1. Yếu tố lòng tin
Trong nghiên cứu về sự tham gia trong chính sách nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng tại Việt Nam, lòng tin là yếu tố cốt lõi thúc đẩy thực hành dân chủ cơ sở. Đây là một biến số độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với các khía cạnh trong thực hành dân chủ. Biến lòng tin trong trường hợp này được tiếp cận dưới dạng lòng tin đối với khách thể. Cụ thể, việc đo lường lòng tin được đặt trong mối quan hệ với mức độ tin tưởng của các chủ thể đối với nội dung, hiệu quả cũng như quá trình thực thi chính sách xây dựng MTM. Trên cơ sở đó biến “Lòng tin” ở đây được hiểu là lòng tin chính sách, đo lường qua ba chỉ báo: (1) hiệu quả chính sách nông thôn mới (D1.1), (2) tính công bằng và minh bạch trong triển khai (D1.2), và (3) niềm tin vào cán bộ xã (D1.3); (4) Sự tương trợ hợp tác của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới (D1.4); (5) Vai trò đại diện của các tổ chức xã hội ở địa phương như Mặt trận tổ quốc, hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, hội Cựu chiến binh). Các chỉ báo chính, được thiết kế để đo lường nhận thức của người dân về lòng tin thông qua các khía cạnh cụ thể của Chương trình Nông thôn mới, sử dụng thang đo Likert từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý).
Bảng 1. Thống kê mô tả yếu tố lòng tin
| D1. Lòng tin | Số lượng | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | |
| Trung bình chung | 460 | 4,59 | 0,726 | |
| D1.1. Chính sách xây dựng nông thôn mới đã đạt được các mục tiêu về phát triển nông thôn, kinh tế nông nghiệp và nâng cao đời sống nhân dân | 460 | 4,57 | 0,801 | |
| D1.2. Chính sách xây dựng nông thôn mới ở địa phương được thực hiện một cách công bằng và minh bạch | 460 | 4,56 | 0,837 | |
| D1.3. Cán bộ xã luôn làm việc vì lợi ích của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,60 | 0,811 | |
| D1.4. Hàng xóm và những người trong cộng đồng luôn hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,60 | 0,764 | |
| D1.5. Các tổ chức xã hội ở địa phương đại diện cho quyền lợi của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,60 | 0,790 | |
Dữ liệu từ bảng 4.1 cho thấy, quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại địa phương nhận được sự tin tưởng cao từ người dân, với giá trị trung bình (GTTB) đạt 4,59 trên thang đo từ 1 đến 5 và độ lệch chuẩn “Standard Deviation” (SD) thấp nhất (0,726), phản ánh mức độ đồng thuận cao đối với các nhận định, thể hiện sự nhất quán trong nhận thức tích cực của cộng đồng. Giữa các chỉ báo không có sự khác biệt trong giá trị trung bình (GTTB); tuy nhiên, độ lệch chuẩn khá cao cho thấy sự phân tán trong ý kiến giữa những người trả lời. Cụ thể, người dân đánh giá cao hiệu quả của chính sách trong phát triển nông thôn, kinh tế nông nghiệp và nâng cao đời sống (D1.1, GTTB = 4,57), đồng thời ghi nhận tính công bằng và minh bạch trong việc triển khai tại địa phương (D1.2, GTTB = 4,56).
Đặc biệt, tinh thần làm việc vì lợi ích nhân dân của cán bộ xã (D1.3, GTTB = 4,60), sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên cộng đồng (D1.4, GTTB = 4,60), cùng vai trò của các tổ chức xã hội trong việc nâng cao nhận thức (D1.5, GTTB = 4,60) đều được đánh giá tích cực với điểm số cao và mức độ đồng thuận lớn. Bên cạnh đó, thống kê cho thấy số lượng trả lời ở cả 5 chỉ báo mức 4 và 5 chiếm hơn 80%; 3 mức còn lại chiếm gần 20%. Nhìn chung, kết quả thống kê mô tả cho thấy người dân có sự tin tưởng cao đối với mục tiêu, phương thức và quá trình thực hiện chính sách tại địa phương. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với bức tranh thực tế, khi chính sách xây dựng nông thôn mới được triển khai trong hơn 15 năm qua tại TP. Hồ Chí Minh đã góp phần tạo ra sự thay đổi toàn diện, sâu sắc, không chỉ ở cấu trúc xã hội nông thôn mà còn góp phần nâng cao chất lượng đời sống của các hộ gia đình. Những kết quả tích cực và quá trình triển khai minh bạch đã góp phần củng cố “lòng tin vào chính sách” của người dân.
4.2. Yếu tố mạng lưới xã hội cá nhân và hộ gia đình
Yếu tố mạng lưới xã hội trong trường hợp này được xác định thông qua việc khảo sát mức độ đồng ý về các yếu tố như gia đình, họ hàng, các tổ chức xã hội ở địa phương; các định chế hiện đại như hợp tác xã, doanh nghiệp; và các định chế truyền thống như đình, chùa, dòng họ ở nông thôn.
Bảng 2. Thống kê mô tả yếu tố mạng lưới xã hội
| D2. Mạng lưới xã hội | Số lượng | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn |
| Trung bình chung | 460 | 4,45 | 0,848 |
| D2.1. Khi tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới gia đình tôi thường đi cùng với họ hàng, bà con, hàng xóm | 460 | 4,50 | 0,906 |
| D2.2. Khi tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới, gia đình tôi thường thông qua các tổ chức, như: Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội | 460 | 4,59 | 0,837 |
| D2.3. Ở địa phương, các tổ chức, như: hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp cũng tham gia vào xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,33 | 1,070 |
| D2.4. Ở địa phương, các tổ chức, như: nhà thờ, đình, chùa, dòng họ, hội đồng niên, hội đồng hương… cũng tham gia vào xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,39 | 1,096 |
Kết quả thống kê mô tả cho thấy, yếu tố “Mạng lưới xã hội” được người dân đánh giá ở mức độ cao trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới, với giá trị trung bình (GTTB) tổng hợp đạt 4,45 và độ lệch chuẩn (SD) thấp (0,848), cho thấy sự đồng thuận cao. Mức độ đánh giá cao nhất là câu “D2.2. Khi tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới, gia đình tôi thường thông qua các tổ chức như: Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội” (GTTB = 4,59; độ lệch chuẩn thấp; SD = 0,837). Điều đó cho thấy việc tham gia thông qua các tổ chức chính trị – xã hội là hình thức được đánh giá có ảnh hưởng quan trọng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới.
Biến có điểm trung bình thấp nhất (GTTB = 4,33) “D2.3. Ở địa phương, các tổ chức như HTX, công ty, doanh nghiệp cũng tham gia vào xây dựng nông thôn mới”. Tuy nhiên, mức chênh lệch giá trị trung bình giữa các biến quan sát không lớn; điều này cho thấy người dân đánh giá cao vai trò của các yếu tố trong mạng lưới xã hội như gia đình, họ hàng, các tổ chức chính trị – xã hội, hợp tác xã, doanh nghiệp và các định chế truyền thống của cộng đồng trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới. Có hơn 80% số người trả lời chọn mức độ 4 và 5 ở các chỉ báo, cho thấy sự đồng thuận cao đối với các ý kiến được sử dụng trong khảo sát.
4.3. Yếu tố giá trị và chuẩn mực xã hội
Yếu tố giá trị chuẩn mực thể hiện 3 khía cạnh: quy chế dân chủ cơ sở; yếu tố văn hóa cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái; yếu tố tinh thần trách nhiệm tự giác của người dân trong quá trình tham gia xây dựng nông thôn mới.
Bảng 3. Thống kê mô tả yếu tố giá trị, chuẩn mực
| D3. Giá trị và chuẩn mực xã hội | Số lượng | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn |
| Trung bình chung | 460 | 4,65 | 0,659 |
| D3.1. Quy chế dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng” tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,67 | 0,690 |
| D3.2. Văn hóa địa phương mang tính cộng đồng, đề cao tinh thần tương thân, tương ái, tương trợ nhau trong xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,63 | 0,723 |
| D3.3. Người dân tại địa phương có tinh thần tự giác, trách nhiệm, tuân thủ các quy định khi tham gia xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,65 | 0,696 |
Kết quả cho thấy, người trả lời có mức đánh giá rất cao về vai trò của tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tham gia. Cụ thể, điểm trung bình chung (GTTB) là 4,65; độ lệch chuẩn (SD) là 0,69. Không có sự khác biệt lớn giữa các yếu tố khi điểm trung bình chỉ chênh lệch dưới 0,1 điểm. Điều này cho thấy sự thống nhất và sự tập trung cao trong ý kiến đánh giá của người trả lời về vai trò của yếu tố giá trị và chuẩn mực tạo nền tảng, qua đó thúc đẩy quá trình tham gia của họ vào xây dựng nông thôn mới. Trong đó, yếu tố có mức đánh giá cao nhất là quy chế dân chủ cơ sở, được xem là một trong những nền tảng chuẩn mực tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình người dân tham gia xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Tư tưởng dân lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân luôn là tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử nước ta qua các thời kỳ; từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng đã phát triển và thể chế hóa tư tưởng này thành các chuẩn mực pháp lý. Cụ thể, năm 1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, sau đó đã thể chế hóa thành các nghị quyết, nghị định, pháp lệnh và đến năm 2022 chính thức hình thành Luật Thực hành dân chủ cơ sở. Thực tiễn hơn 30 năm, quy chế dân chủ cơ sở đã dần thẩm thấu trong cộng đồng và trở thành một chuẩn mực xã hội, góp phần xây dựng tinh thần làm chủ, tự lực trong nhân dân.
4.4. Yếu tố chủ quan nhận thức, tâm lý, lợi ích của người dân
Để đo lường các yếu tố chủ quan thể hiện trên các khía cạnh như nhận thức về động cơ, lợi ích; tâm lý ít quan tâm đến việc chung, sống khép kín, quen với cách làm áp đặt từ trên xuống; yếu tố hạn chế về thời gian và kinh tế. Những nội dung này được khảo sát thông qua nhận định nhằm thăm dò mức độ đồng ý của người trả lời.
Bảng 4. Thống kê mô tả yếu tố người dân
| D4. Yếu tố nhận thức, tâm lý, lợi ích (chủ quan người dân) | Số lượng | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn |
| Trung bình chung | 460 | 4,41 | 0,868 |
| D4.1. Phần lớn người dân nhận thấy rõ các lợi ích khi tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương | 460 | 4,57 | 0,862 |
| D4.2. Người dân vẫn còn tâm lý ngại trách nhiệm và sợ ảnh hưởng đến bản thân, gia đình khi tham gia vào xây dựng nông thôn mới tại địa phương | 460 | 4,34 | 1,112 |
| D4.3. Người dân đã quen với cách làm từ trên xuống, dễ dàng chấp hành sự chỉ đạo và trông chờ vào sự hỗ trợ từ Nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,36 | 1,124 |
| D4.4. Một bộ phận người dân địa phương có tâm lý sống khép kín, ngại tham gia vào các công việc chung trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 459 | 4,38 | 1,053 |
| D4.5. Người dân địa phương còn hạn chế về thời gian và điều kiện kinh tế để tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,40 | 1,010 |
Kết quả mức độ đồng ý chung đối với các nhận định của nhóm yếu tố này là 4,41 (SD = 0,86). Trong đó, chỉ báo có điểm số cao nhất (GTTB) đạt 4,57: “Phần lớn người dân nhận thấy rõ các lợi ích khi tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương”, cho thấy ý kiến đồng thuận cao đối với yếu tố này. Yếu tố có điểm trung bình thấp nhất là 4,34: “Người dân vẫn còn tâm lý ngại trách nhiệm và sợ ảnh hưởng đến bản thân, gia đình khi tham gia xây dựng nông thôn mới tại địa phương”, nhưng sự khác biệt không quá lớn. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn là hơn 1,0, cho thấy sự phân tán khá lớn trong ý kiến của người trả lời.
Như vậy, sự đồng thuận cao của người trả lời cho thấy người dân có nhận thức tốt về lợi ích và có thái độ tích cực ủng hộ xây dựng nông thôn mới; tuy nhiên, vẫn tồn tại những rào cản tâm lý như ngại ngần, khép kín và sự thụ động do ảnh hưởng của văn hóa cộng đồng. Văn hóa truyền thống nông thôn Việt Nam vốn được hình thành và vận hành trên cơ sở tính cộng đồng sâu sắc; điều này giúp tạo sự gắn kết tương trợ và tinh thần hiệp lực. Nhưng bên cạnh đó, hình ảnh và bản sắc cá nhân thường bị xem nhẹ, từ đó dẫn đến rào cản cho việc phát triển và xác lập tinh thần dân chủ, tự lực, tự quyết trong cộng đồng. Bên cạnh đó, như phân tích ở phần trên, một trong những hiệu ứng ngược của hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nước ta là mức độ bao phủ và đi sâu trong cộng đồng; điều này giúp việc thực hiện chính sách nhanh chóng, nhất quán, nhưng mặt khác, nó làm giảm tính tự quản của cộng đồng.
4.5. Yếu tố chính sách, định hướng xây dựng nông thôn thông minh, chuyển đổi số trong nông nghiệp
Yếu tố chính sách định hướng xây dựng đô thị thông minh và chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới được khảo sát thông qua nhận định về các nội dung như: ứng dụng công nghệ trong công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn; ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý; ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nông thôn.
Bảng 5. Mô tả yếu tố chính sách xây dựng nông thôn mới thông minh và chuyển đổi số trong nông nghiệp
| D5. Yếu tố chính sách, định hướng xây dựng nông thôn thông minh | Số lượng | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn |
| Trung bình chung | 460 | 4,56 | 0,717 |
| D5.1. Địa phương đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tập huấn để nâng cao nhận thức và năng lực về chuyển đổi số trong các chương trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,55 | 0,824 |
| D5.2. Địa phương đã ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,52 | 0,869 |
| D5.3. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đã tạo động lực để người dân tích cực tham gia hơn vào xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,56 | 0,780 |
| D5.4. Địa phương đã thành lập các nhóm, trang thông tin trên Facebook, Zalo, TikTok… để người dân dễ dàng trao đổi thông tin về xây dựng nông thôn mới | 460 | 4,61 | 0,803 |
| D5.4. Các ứng dụng số như: VNeID, Công dân số…giúp người dân có thể dễ dàng tham gia đóng góp ý kiến | 460 | 4,58 | 0,848 |
Bảng dữ liệu kết quả phản ánh sự nhất trí và đồng thuận cao đối với các nhận định được đưa ra. Giá trị trung bình chung của 5 chỉ báo là 4,56; độ lệch chuẩn là 0,72; các yếu tố khác không có sự khác biệt lớn; chênh lệch dao động trong khoảng 0,3. Như vậy, phần lớn người dân đều đồng ý ở mức cao với các nhận định về vai trò của các yếu tố công nghệ trong các hoạt động quản lý, thông tin tuyên truyền và sản xuất kinh doanh tại địa phương. Điều này cho thấy người dân có nhận thức và đồng thuận cao đối với các chính sách xây dựng nông thôn mới thông minh và chuyển đổi số trong nông nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, văn minh, tiến bộ, chính quyền các cấp đã triển khai nhiều biện pháp đa dạng, toàn diện, từ truyền thông, tập huấn nâng cao năng lực đến đầu tư hạ tầng công nghệ, thiết lập quy trình ứng dụng công nghệ trong nhiều lĩnh vực. Điều này bước đầu đã thiết lập nền tảng để hình thành chính quyền số, kinh tế số, văn hóa số và xã hội số ở nông thôn.
Để có cái nhìn khái quát về sự khác biệt trong số người trả lời theo từng phương án, theo 5 mức tăng dần từ mức 1 đến mức 5. Cách thức thống kê để tính tỷ lệ trung bình của mức đánh giá cho từng biến và trung bình chung của cả 5 biến.

Kết quả, biểu đồ trên cho thấy mức 5 (rất đồng ý) có tỷ lệ cao nhất trong các biến được khảo sát. Mức trung bình chung của năm biến tỷ lệ trả lời mức 5 đạt 72,5%. Sự chênh lệch giữa các biến không lớn, cho thấy phần lớn đối tượng khảo sát có ý kiến đánh giá tích cực và đồng thuận cao với các nội dung được khảo sát. Trong đó, biến D3 yếu tố “giá trị và chuẩn mực” có tỷ lệ mức 5 cao nhất (76%), và tỷ lệ không đồng ý thấp nhất (0,3%) phản ánh sự đồng thuận cao đối với các nhận định về vai trò của các yếu tố chuẩn mực như quy chế dân chủ cơ sở; văn hóa cộng đồng địa phương đề cao tinh thần tương thân tương ái; tính trách nhiệm và tự giác của người dân địa phương tác động đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới. Điều này được chứng minh qua điểm trung bình chung của biến D3, giá trị và chuẩn mực, với mức cao nhất là 4,65/5.
Tất cả các biến và trung bình chung của mức 1 và mức 2 chiếm tỷ lệ rất ít, chỉ dao động khoảng từ 3 đến 6%; mức 3 (mức trung bình) chiếm khoảng từ 8 đến 10%. Điều này cho thấy tỷ lệ người đánh giá ở mức không đồng thuận (mức 1, 2) với các nhận định đó rất thấp. Từ đó khẳng định các nhận định về tác động của các yếu tố đến sự tham gia của người dân, hộ gia đình nông thôn trong xây dựng nông thôn mới phù hợp với cảm nhận của người dân và phản ánh đúng thực tiễn.
5. Kết luận
Dựa trên kết quả phân tích thống kê mô tả từ khảo sát 460 hộ gia đình nông thôn tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại TP. Hồ Chí Minh nhận được sự tin tưởng rất cao từ người dân, thể hiện qua điểm trung bình chung của yếu tố Lòng tin là 4,59/5. Người dân đánh giá cao hiệu quả, tính công bằng và minh bạch của chính sách (D1.1, D1.2), cũng như tinh thần vì lợi ích của Nhân dân của cán bộ xã (D1.3). Những kết quả tích cực của chương trình nông thôn mới trong hơn 15 năm qua tại TP. Hồ Chí Minh đã góp phần củng cố “lòng tin vào chính sách” này.
Yếu tố giá trị và chuẩn mực xã hội có mức đánh giá cao nhất (trung bình 4,65/5). Đặc biệt, quy chế dân chủ cơ sở “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, dân thụ hưởng” được xem là nền tảng chuẩn mực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự tham gia. Điều này khẳng định, tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã dần thẩm thấu và trở thành một chuẩn mực xã hội, qua đó thúc đẩy tinh thần làm chủ của nhân dân. Người dân tham gia xây dựng nông thôn mới thông qua mạng lưới xã hội ở mức độ cao (trung bình 4,45/5). Trong đó, việc tham gia thông qua các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội được đánh giá là có ảnh hưởng quan trọng nhất (D2.2, GTTB=4,59), qua đó chứng minh vai trò đại diện và vận động tích cực của các tổ chức này.
Người dân có nhận thức tốt về lợi ích khi tham gia chương trình Nông thôn mới (D4.1, GTTB = 4,57). Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại rào cản từ các yếu tố chủ quan như tâm lý ngại trách nhiệm, sống khép kín và quen với cách làm từ trên xuống (D4.2, D4.3, D4.4). Những rào cản này là hệ quả của văn hóa truyền thống nông thôn, nơi hình ảnh cá nhân thường bị xem nhẹ, ảnh hưởng đến tinh thần tự lực và tự quyết.
Người dân đồng thuận cao (trung bình 4,56/5) đối với các chính sách ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác quản lý, tuyên truyền và sản xuất. Điều này cho thấy, sự sẵn sàng của cộng đồng nông thôn tại TP. Hồ Chí Minh trong việc thiết lập nền tảng cho chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Tóm lại, dựa trên nhận thức của người dân, có thể thấy sự tham gia vào xây dựng nông thôn mới tại TP. Hồ Chí Minh được thúc đẩy mạnh mẽ bởi lòng tin vào chính sách và chuẩn mực dân chủ cơ sở, mặc dù vẫn cần tiếp tục hóa giải những rào cản về tâm lý và thói quen thụ động để chuyển hóa vai trò chủ thể thành tính thực quyền sâu sắc hơn.
Chú thích:
1. Rad, V. B. (2019). The Impact of Government Policies on Citizen Participation in the Reconstruction of the Deteriorated Fabrics in District 17 of Tehran Municipality. Armanshahr Architecture & Urban Development, 12(26), 113-124. doi:10.22034/AAUD.2019.89061
2. Nguyễn Thị Kim Nhung (2015). Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải bảo đảm phát triển đô thị bền vững. Luận án Tiến sĩ Xã hội học mã số: 62 31 30 01, Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Phan Văn Tuấn (2017). Phương thức tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách công ở Việt Nam hiện nay (qua nghiên cứu về chính sách xây dựng nông thôn mới). Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
4. Bing Li, J. D. (2018). Research on the Mechanism of Promoting Public Participation in the People’s Livelihood Reform Policy Process. In 3rd International Conference on Contemporary Education, Social Sciences and Humanities (ICCESSH 2018), pp. 1210 – 1214.
5. Diệp Thanh Tùng, C. C. (2023). Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Lăng kính hành vi về sự tham gia của người dân. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 316, tr. 2-12. doi:https://doi.org/10.33301/JED.VI.1376
6. Nguyễn Bùi Anh Thư, Trương Thị Thu Hà, Lê Minh Tuấn (2019). Sự tham gia của người dân địa phương trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cấm Thanh – Hội An. Tạp chí Khoa học – Đại học Huế: Khoa học Xã hội Nhân văn, Tập 128, Số 6D, tr. 53-70.
7. Cătălin Baba, R. C. (2009). Public Participation in Public Policy Process – Case Study in Seven Counties from North-Western Region of Romania. Transylvanian review of administrative sciences (Babes Bolyai University)-Vol. 5, Iss: 26, 5-13.
8. Gao, X.-r. (2013). Study on the public participation in the process of public policy in the view of the theory of Governance and Good Governance—Journal of Shanghai Economic Management College.
9. Nguyễn Thị Kim Nhung (2014). Lý thuyết về “sự tham gia của cộng đồng” trong hoạch định chính sách và khả năng vận dụng vào quá trình ban hành các quyết định về môi trường ở Việt Nam. Tạp chí Xã hội học, số 2 (126).
10. Mai Thị Huyền, Nông Hữu Tùng, Nguyễn Thị Ngọc Mai (2019). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 268, 61-70.
11. Kuswandoro, W. E. (2023). From Reluctance to Acceptance: Participation of Poor People in Policy Implementation Using Discursive Institutionalism. Jurnal Transformative, 9(1), 1-21.
12. Diệp Thành Tùng, C. C. (2023). Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Lăng kính hành vi về sự tham gia của người dân. Tạp chí Kinh tế và Phát triển (316), 2–12.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (1998). Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
2. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2015 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
3. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của TP. Hồ Chí Minh.
4. Cao Thị Thuyết (2017). Sự tham gia của người dân, cộng đồng trong quản đầu tư công xây dựng nông thôn mới ở vùng đồi núi của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học – Đại học Huế, Tập 126, Số 3B, tr. 63-73.
5. Diệp Thanh Tùng, Nguyễn Thúy Loan, Phùng Thế Vinh (2023). Vai trò chủ thể của người dân trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 318(2), 40-50.
6. Lê Thị Thu Hương, Phạm Bảo Dương, Lưu Văn Duy (2023). Tổng quan vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam số 21, tr. 137-147.
7. Brahmi, M. K. (2011). Factors affecting people participation in Hariyali project under Nalagarh block of Himachal Pradesh. International Journal of Farm Sciences, 1(1), pp.105-111.
8. Jianwen, L. (2022). Analysis of the Main Problems and Causes of Citizens’ Participation in Public Policy Making in China. The International Journal of Social Sciences and Humanities Invention, 9(09), 7265-7267. doi: 10.18535/ijsshi/v9i09.11



