Giải pháp kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay

Solutions for integrating economic development with the building of military potential in Vinh Long province today

Dương Thành Tiếng
TS. Nguyễn Đức Thành
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(Quanlynhanuoc.vn) – Kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự là nội dung quan trọng trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm qua, tỉnh Vĩnh Long đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội, qua đó, tạo nền tảng vật chất và nguồn lực phục vụ củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng tiềm lực quân sự địa phương. Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế, cần tiếp tục khắc phục. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận về tiềm lực quân sự và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự, phân tích thực trạng kết hợp hai lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trong thời gian tới.

Từ khóa: Phát triển kinh tế; tiềm lực quân sự; quốc phòng, an ninh; khu vực phòng thủ; tỉnh Vĩnh Long.

Abstract: Integrating economic development with the building of military potential constitutes an important component of Vietnam’s strategy for national construction and defense in the socialist era. In recent years, Vinh Long Province has achieved significant socio-economic accomplishments, thereby creating a solid material foundation and mobilizing resources for strengthening national defense, security, and local military potential. However, in response to the increasingly demanding task of safeguarding the Fatherland under new circumstances, the integration of economic development with the building of military potential in the province still reveals several limitations that require further attention and improvement. This article clarifies the theoretical basis of military potential and the relationship between economic development and military potential building; analyzes the current situation of integrating these two domains in Vinh Long Province; and proposes a number of solutions to enhance the effectiveness of combining economic development with military potential building in the coming period.

Keywords: Economic development; military potential; national defense and security; defensive zone; Vinh Long Province.

1. Đặt vấn đề

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh là quan điểm chiến lược nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Quan điểm này xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và quốc phòng, trong đó phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho xây dựng sức mạnh quốc phòng; đồng thời, sức mạnh quốc phòng bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế bền vững.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sức mạnh quân sự của một quốc gia luôn chịu sự chi phối trực tiếp của trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Ph. Ăngghen khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông”1. Kế thừa và phát triển quan điểm đó, V.I. Lênin nhấn mạnh: “trong chiến tranh hiện đại, tổ chức kinh tế có một ý nghĩa quyết định”2.

Trong khoa học quân sự Việt Nam, tiềm lực quân sự được hiểu là tổng thể khả năng về lực lượng, vũ khí trang bị, cơ sở vật chất – kỹ thuật, trình độ tổ chức, chỉ huy và khả năng huy động nguồn lực nhằm bảo đảm cho lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc. Tiềm lực quân sự là bộ phận cấu thành quan trọng của tiềm lực quốc phòng, giữ vai trò nòng cốt trong việc tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, phát triển kinh tế luôn là cơ sở vật chất quan trọng để xây dựng tiềm lực quốc phòng nói chung và tiềm lực quân sự nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận: Cung cấp đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội thì bộ đội mới đánh thắng trận”3.

Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự ngày càng trở nên chặt chẽ và toàn diện. Sự phát triển của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế tri thức không chỉ tạo ra nguồn lực vật chất cho quốc phòng mà còn làm thay đổi phương thức tổ chức lực lượng, phương thức tác chiến và yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang.

Tỉnh Vĩnh Long thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội và quốc phòng, an ninh của khu vực. Về địa giới hành chính, sau quá trình sắp xếp, hợp nhất ba tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long mới có 124 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 105 xã và 19 phường, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 6.296,20 km² và quy mô dân số khoảng 4.257.581 người4. Những năm gần đây, kinh tế của tỉnh có bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước được cải thiện. Những điều kiện đó đã tạo cơ sở quan trọng để địa phương củng cố khu vực phòng thủ và từng bước xây dựng tiềm lực quân sự. Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, việc kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế nhất định, cần tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phù hợp.

2. Thực trạng kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn vừa qua, công tác kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện trước hết ở việc phát triển kinh tế từng bước tạo lập cơ sở vật chất – tài chính cho củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng khu vực phòng thủ địa phương. Nếu năm 2022, GRDP của tỉnh Vĩnh Long cũ đạt khoảng 40.040 tỷ đồng, tăng 11,28% so với năm trước thì đến năm 2025, trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương sau hợp nhất, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh ước đạt 5,84%; GRDP bình quân đầu người ước đạt 82,25 triệu đồng/người/năm, tăng 12,89% so với năm 20245. Kết quả đó cho thấy, nền kinh tế địa phương tiếp tục duy trì đà phát triển, tạo cơ sở để tỉnh tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và mở rộng nguồn lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Xét về bản chất, tiềm lực quân sự của địa phương không hình thành tách rời nền tảng kinh tế, mà được nuôi dưỡng từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khả năng tích lũy ngân sách, chất lượng dân cư và sức chịu đựng của nền kinh tế trong các tình huống quốc phòng, an ninh. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Vĩnh Long trong những năm qua đã góp phần quan trọng vào củng cố “thế trận lòng dân”, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội và tạo cơ sở chính trị – xã hội vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định và cơ bản vượt dự toán. Nếu năm 2022, thu ngân sách của tỉnh Vĩnh Long cũ đạt 6.707 tỷ đồng, bằng 103,14% dự toán thì năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước đạt 22.376,27 tỷ đồng, đạt 104,6% dự toán và tăng 1,87% so với năm 2024; trong đó thu nội địa đạt 20.848,27 tỷ đồng, bằng 105,75% dự toán và tăng 1,98% so với năm 20246. Nguồn thu ngân sách ổn định và vượt dự toán đã tạo điều kiện để địa phương bảo đảm tốt hơn các nhiệm vụ chi phát triển kinh tế – xã hội, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh; đồng thời, tăng cường đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ, nâng cấp cơ sở vật chất quân sự và bảo đảm hậu cần tại chỗ cho lực lượng vũ trang. Sự ổn định của nguồn thu ngân sách không chỉ phản ánh hiệu quả quản lý tài chính công mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với củng cố tiềm lực quân sự của địa phương trong tình hình mới.

Việc đầu tư kết cấu hạ tầng mang tính lưỡng dụng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tỉnh đã lồng ghép chặt chẽ yêu cầu quân sự vào các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, vừa thúc đẩy lưu thông hàng hóa, vừa sẵn sàng phục vụ cơ động lực lượng khi có tình huống. Các tuyến quốc lộ, như: QL1A, QL53, QL54 và các dự án cầu (cầu Cổ Chiên, cầu Đình Khao) đã được cải tạo, mở rộng. Đặc biệt, sự hình thành hệ thống cảng, như: cảng Vĩnh Thái, cảng Bình Minh cùng mạng lưới đường bộ ven biển đã góp phần hoàn thiện thế trận phòng thủ, nâng cao năng lực phản ứng nhanh của lực lượng vũ trang tỉnh7.

Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật, công tác xây dựng tiềm lực con người gắn với nhiệm vụ quốc phòng được đặc biệt chú trọng. Hằng năm, tỉnh đều hoàn thành 100% chỉ tiêu gọi công dân nhập ngũ, bảo đảm quân số bổ sung cho các đơn vị8. Chất lượng nguồn nhân lực phục vụ tiềm lực quân sự từng bước được nâng cao thông qua sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo. Đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt khoảng 74,21%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 38,94%; tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm 0,33%9. Những kết quả này góp phần quan trọng củng cố “thế trận lòng dân”, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Về chuyển đổi số, 124/124 UBND xã, phường của tỉnh đã ban hành quyết định thành lập tổ công nghệ số cộng đồng10. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và hỗ trợ lực lượng vũ trang trong khai thác, sử dụng dữ liệu số phục vụ chỉ huy và bảo đảm an toàn thông tin. Bên cạnh đó, việc cải thiện các chỉ số về chính phủ điện tử và chuyển đổi số ở cấp quốc gia cũng tạo môi trường thuận lợi để địa phương từng bước hiện đại hóa công tác quản lý quân sự, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long vẫn còn một số hạn chế.

Thứ nhất, việc cụ thể hóa và triển khai các nghị quyết về kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh ở một số đơn vị còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ còn thiên về mục tiêu kinh tế trước mắt, dẫn đến việc lồng ghép yếu tố quốc phòng chưa được coi trọng. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kinh tế và quân sự còn thiếu chặt chẽ, chưa có quy trình thống nhất. Vì vậy, việc triển khai nghị quyết ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu đồng bộ. Hệ quả là hiệu quả kết hợp giữa phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự chưa cao, ảnh hưởng đến việc củng cố khu vực phòng thủ trên địa bàn.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong các lĩnh vực công nghệ, thông tin và an ninh mạng còn hạn chế. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh tương đối cao, song tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt khoảng 38,94%11 cho thấy, chất lượng đào tạo chưa thực sự đồng đều. Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và yêu cầu phát triển công nghệ cao. Điều này làm hạn chế khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ và phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong điều kiện mới dẫn đến việc xây dựng tiềm lực quân sự, nhất là trong các lĩnh vực kỹ thuật hiện đại, còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội theo hướng lưỡng dụng trên địa bàn tỉnh vẫn còn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ. Một số công trình hạ tầng giao thông, đô thị và logistics chưa được quy hoạch, thiết kế gắn với yêu cầu quốc phòng, dẫn đến khả năng chuyển đổi phục vụ nhiệm vụ quân sự còn hạn chế. Hệ thống kết nối liên vùng, đặc biệt với các trung tâm kinh tế lớn chưa thực sự đồng bộ, ảnh hưởng đến khả năng cơ động lực lượng khi có tình huống. Ngoài ra, việc lồng ghép các yếu tố, như: dự trữ vật chất, tiếp nhận phương tiện quân sự trong các dự án hạ tầng chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến làm giảm hiệu quả khai thác tính lưỡng dụng của hạ tầng trong việc kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quân sự.

Thứ tư, năng lực động viên công nghiệp dân sinh phục vụ sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật còn hạn chế; số lượng doanh nghiệp tham gia sản xuất sản phẩm lưỡng dụng còn ít. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu cơ chế khuyến khích phù hợp và sự liên kết giữa doanh nghiệp với lĩnh vực quốc phòng chưa chặt chẽ. Hơn nữa, trình độ công nghệ và năng lực kỹ thuật của nhiều doanh nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi sang phục vụ quốc phòng khi cần thiết. Vì vậy, làm hạn chế khả năng bảo đảm kỹ thuật tại chỗ và giảm tính chủ động trong các tình huống quốc phòng. Hậu quả là tiềm lực quân sự của địa phương chưa được phát huy đầy đủ từ khu vực kinh tế.

3. Một số giải pháp

Một là, nâng cao nhận thức và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, quản lý trong kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự.

Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, giữ vai trò định hướng đối với toàn bộ quá trình kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn tỉnh. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nếu không có nhận thức đầy đủ và thống nhất về mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này thì việc tổ chức thực hiện dễ rơi vào tình trạng tách rời hoặc xem nhẹ nhiệm vụ quốc phòng trong phát triển kinh tế.

Trên cơ sở đó, tỉnh Vĩnh Long cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và Nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của việc kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự. Nội dung tuyên truyền cần làm rõ phát triển kinh tế không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng mà còn tạo nền tảng vật chất – kỹ thuật cho củng cố quốc phòng, ngược lại, tiềm lực quân sự vững mạnh là điều kiện bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế lâu dài.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quân sự với các sở, ban, ngành của tỉnh trong quá trình xây dựng và triển khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh cần tham gia ngay từ giai đoạn đầu trong việc thẩm định các dự án phát triển kinh tế lớn nhằm bảo đảm các công trình được thiết kế theo hướng lưỡng dụng, sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của việc kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đối với nguồn nhân lực ngày càng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, công nghệ thông tin và kỹ thuật quân sự.

Bên cạnh đó, tỉnh Vĩnh Long cần đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu phát triển kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chú trọng đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ, logistics, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương; đồng thời, tạo nguồn nhân lực có khả năng làm chủ các loại vũ khí công nghệ cao và trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại.

Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân tự vệ. Việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quân sự cho lực lượng này cần gắn với nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm khi huy động có thể nhanh chóng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong các lĩnh vực, như: thông tin, kỹ thuật, hậu cần và bảo đảm kỹ thuật. Chú trọng bồi dưỡng kiến thức bảo mật và an ninh thông tin cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phổ cập kỹ năng số cho Nhân dân, tạo nền tảng vững chắc cho “thế trận lòng dân” trên không gian mạng, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

Ba là, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội theo hướng lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có vai trò quan trọng trong việc tạo nền tảng vật chất cho phát triển kinh tế; đồng thời, phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, logistics và hạ tầng đô thị không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa mà còn là yếu tố quyết định khả năng cơ động lực lượng, bảo đảm hậu cần và tổ chức phòng thủ khi có tình huống xảy ra.

Xuất phát từ yêu cầu đó, tỉnh cần ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông liên vùng, đặc biệt là các tuyến kết nối với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việc hoàn thiện các tuyến giao thông này không chỉ thúc đẩy giao thương, mở rộng không gian phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cơ động lực lượng và phương tiện trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Cùng với đó, chú trọng phát triển hệ thống logistics và hạ tầng thương mại theo hướng hiện đại, có khả năng chuyển đổi phục vụ nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết. Trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng lớn, cần lồng ghép các yếu tố quốc phòng, như: khả năng dự trữ vật chất, khả năng tiếp nhận phương tiện quân sự và khả năng bảo đảm hậu cần tại chỗ.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù và quy hoạch mạng lưới công nghiệp địa phương theo hướng “lưỡng dụng hóa” gắn với năng lực sửa chữa, bảo trì tại chỗ.

Tỉnh Vĩnh Long cần chủ động ban hành các quy định ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và hỗ trợ lãi suất vay vốn đối với các doanh nghiệp tư nhân hoặc dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (đặc biệt trong các ngành cơ khí chính xác, điện tử, viễn thông tại các khu công nghiệp Hòa Phú, Bình Minh) khi đầu tư vào dây chuyền công nghệ hiện đại có khả năng chuyển đổi nhanh sang mục đích quân sự. Bên cạnh đó, tỉnh cần thiết lập cơ chế liên kết chặt chẽ để các doanh nghiệp này nhận chuyển giao kỹ thuật từ các cơ sở công nghiệp quốc phòng và các tập đoàn viễn thông quân đội nhằm hình thành mạng lưới sửa chữa, cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật ngay tại địa phương. Đồng thời, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phải thực hiện nghiêm việc đăng ký, quản lý và định kỳ diễn tập phương án động viên công nghiệp, bảo đảm 100% các cơ sở này sẵn sàng chuyển đổi dây chuyền sản xuất dân sinh sang phục vụ nhu cầu hậu cần – kỹ thuật  cho lực lượng vũ trang tỉnh khi có tình huống.

4. Kết luận

Kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự là yêu cầu khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm qua, tỉnh Vĩnh Long đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong thực hiện nhiệm vụ này, tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình mới, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai đồng bộ các giải pháp kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng tiềm lực quân sự là hết sức cần thiết. Thực hiện tốt các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao tiềm lực quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc và bảo vệ vững chắc địa bàn tỉnh trong mọi tình huống.

Chú thích:
1. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập (1994). Tập 20. H. NXB Chính trị quốc gia, tr. 235.
2. V.I. Lê-nin toàn tập (1979). Tập 9. NXB Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tr. 192.
3. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 179.
4. Địa chỉ trụ sở, tên gọi 124 xã, phường của tỉnh Vĩnh Long mới từ ngày 01/7/2025. https://tintuc.vinhlong.gov.vn/xem-chi-tiet-tin-tuc/id/277452
5, 6. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2025). Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển kinh tế – xã hội năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện năm 2026.
7. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2023). Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2024). Báo cáo số 616/BC-UBND ngày 25/12/2024 về tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
9, 11. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2026.
10. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2026). Quyết định số 939/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 về Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Vĩnh Long năm 2026.