New requirements for economics education at the Academy of Public Administration and Governance
TS. Dìu Đức Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công
(Quanlynhanuoc.vn) – Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng như nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc tế đã và đang tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực kinh tế, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Cùng xu thế đó, Học viện Hành chính và Quản trị công là cơ sở giáo dục đại học đa ngành trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đào tạo ngành Kinh tế theo hướng hiện đại, liên ngành, gắn với quản trị công và phát triển quốc gia. Bài viết trên cơ sở phân tích các yêu cầu mới đó, đề xuất một số định hướng đổi mới đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện Hành chính và Quản trị công.
Từ khóa: Đào tạo ngành Kinh tế; quản trị công; chuyển đổi số; phát triển bền vững; Học viện Hành chính và Quản trị công.
Abstract: For Vietnam, the imperative of achieving rapid and sustainable development based on science and technology, innovation, digital transformation, improved national governance, and enhanced international competitiveness has generated a growing demand for human resources in economics, particularly highly qualified professionals. In response to these trends, the Academy of Public Administration and Governance, a multidisciplinary higher education institution under the Ho Chi Minh National Academy of Politics, is facing the need to reform its Economics education programs toward a modern, interdisciplinary approach closely aligned with public governance and national development. Based on an analysis of these emerging requirements, this article proposes several orientations for reforming Economics education at the Academy of Public Administration and Governance.
Keywords: Economics education; public governance; digital transformation; sustainable development; Academy of Public Administration and Governance.
1. Đặt vấn đề
Những biến đổi sâu sắc của kinh tế toàn cầu đang tác động trực tiếp đến giáo dục đại học nói chung và đào tạo ngành Kinh tế nói riêng. Thị trường lao động ngày nay không chỉ yêu cầu kiến thức chuyên môn mà còn đòi hỏi năng lực số, tư duy phản biện, năng lực phân tích dữ liệu, khả năng hoạch định chính sách, kỹ năng thích ứng và giải quyết các vấn đề phát triển trong môi trường biến động. Hiện nay, Việt Nam đang bước vào một thời kỳ phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc tế. Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đối với giáo dục đại học, yêu cầu đổi mới không chỉ dừng ở việc cập nhật chương trình đào tạo mà còn đòi hỏi đổi mới toàn diện về tư duy đào tạo, phương pháp giảng dạy, mô hình quản trị đại học và định hướng phát triển nguồn nhân lực. Đào tạo ngành Kinh tế cần chuyển mạnh từ mô hình truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực; từ tiếp cận đơn ngành sang tiếp cận liên ngành; từ đào tạo thiên về lý thuyết sang gắn với thực tiễn quản trị và phát triển quốc gia.
Học viện Hành chính và Quản trị công (sau đây viết tắt là Học viện) đã từng bước xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và tư vấn chính sách phục vụ hệ thống chính trị và xã hội. Đồng thời, Học viện xác định triết lý giáo dục là “Kiến tạo tri thức – Đổi mới sáng tạo – Trách nhiệm quốc gia” và định hướng trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về hành chính công và quản trị công vào năm 20301.
Từ năm 2025, Học viện trở thành một trong sáu học viện trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà còn phản ánh bước chuyển quan trọng về vị thế, sứ mệnh và định hướng phát triển của Học viện trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Trong bối cảnh đó, đổi mới đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện vừa là yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đồng thời cũng là nhiệm vụ chiến lược nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế.
2. Yêu cầu mới đối với đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện Hành chính và Quản trị công
Những biến đổi sâu sắc của kinh tế toàn cầu cùng với yêu cầu phát triển mới của đất nước đang đặt ra nhiều thách thức đối với giáo dục đại học. Trong bối cảnh đó, đào tạo ngành Kinh tế không thể tiếp tục theo mô hình truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức đơn ngành mà cần chuyển mạnh sang phát triển năng lực, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng của người học.
Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, yêu cầu đổi mới đào tạo ngành Kinh tế càng trở nên cấp thiết hơn khi Học viện đang bước vào giai đoạn phát triển mới với vai trò là cơ sở giáo dục đại học đa ngành trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Với sứ mệnh đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hệ thống chính trị và xã hội, Học viện cần xây dựng mô hình đào tạo ngành Kinh tế mang bản sắc riêng, gắn với quản trị công và phát triển quốc gia.
Một là, đổi mới đào tạo theo hướng hiện đại và liên ngành.
Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là chuyển từ mô hình đào tạo đơn ngành sang tiếp cận liên ngành và tích hợp. Các vấn đề phát triển kinh tế hiện nay, như: chuyển đổi số, phát triển xanh, quản trị đô thị, tài chính công, logistics, quản trị phát triển địa phương hay kinh tế số đều có tính liên ngành rất cao. Vì vậy, đào tạo ngành Kinh tế không thể chỉ giới hạn trong các kiến thức kinh tế học truyền thống mà cần tích hợp với quản trị công, pháp luật, dữ liệu, công nghệ số và khoa học quản lý.
Việc đào tạo ngành Kinh tế trong môi trường học thuật gắn với hành chính công, quản trị công và hoạch định chính sách tại Học viện sẽ tạo điều kiện để hình thành đội ngũ nhân lực có tư duy phát triển toàn diện, vừa am hiểu kinh tế, vừa có khả năng tham gia quản trị và hoạch định chính sách công. Từ đó, đẩy mạnh việc đổi mới theo hướng liên ngành vừa giúp nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tăng khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trong bối cảnh thị trường lao động biến đổi nhanh chóng.
Hai là, chuyển mạnh sang đào tạo theo năng lực.
Đào tạo ngành Kinh tế hiện nay không chỉ dừng ở việc cung cấp kiến thức lý thuyết mà cần chú trọng hình thành cho người học các năng lực cần thiết, như: tư duy phản biện; phân tích và dự báo kinh tế; hoạch định và phân tích chính sách; sử dụng công nghệ số và dữ liệu; giao tiếp và làm việc nhóm; giải quyết vấn đề trong môi trường biến động. Đặc biệt, đối với Học viện, đào tạo theo năng lực cần gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ quản trị quốc gia và khu vực công. Sinh viên ngành Kinh tế không chỉ cần có kiến thức chuyên môn mà còn phải có khả năng tham gia xây dựng chính sách, phân tích các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội và thích ứng với môi trường quản trị hiện đại. Điều này phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục đại học hiện nay của Việt Nam theo hướng phát triển năng lực, tăng cường kỹ năng thực hành và nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp cho người học. Học viện đã chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm; tăng cường nghiên cứu tình huống, học theo dự án, mô phỏng chính sách và học tập trải nghiệm.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo ngành Kinh tế.
Chuyển đổi số đang làm thay đổi mạnh mẽ giáo dục đại học trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là nội dung đào tạo mà còn phải trở thành phương thức tổ chức đào tạo. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ, chuyển đổi số trong giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số.
Đối với Học viện, chuyển đổi số trong đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi Học viện là cơ sở đào tạo gắn với quản trị công và quản trị quốc gia. Trong năm 2025, Học viện đã triển khai mạnh mẽ việc cập nhật chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, phát triển đào tạo trực tuyến và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và quản lý đào tạo. Việc tăng cường sử dụng học liệu số; ứng dụng AI hỗ trợ học tập và nghiên cứu; phân tích dữ liệu kinh tế; mô phỏng quản trị và hoạch định chính sách; phát triển kỹ năng số cho sinh viên cũng được Học viện chú trọng và từng bước xây dựng hệ sinh thái học tập số hiện đại, tạo môi trường học tập linh hoạt và tăng khả năng tiếp cận tri thức của người học.
Bốn là, gắn đào tạo với thực tiễn quản trị và nhu cầu xã hội.
Trong bối cảnh đó, đào tạo ngành Kinh tế cần tăng cường gắn kết với thực tiễn quản trị và nhu cầu phát triển của xã hội. Đối với Học viện Hành chính và Quản trị công, đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng bởi Học viện có chức năng đào tạo, nghiên cứu và tư vấn chính sách phục vụ hệ thống chính trị và xã hội; đồng thời, cũng là lợi thế giúp Học viện có điều kiện gắn hoạt động đào tạo với thực tiễn quản trị quốc gia và phát triển địa phương. Do đó, yêu cầu Học viện phải tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý nhà nước; địa phương; doanh nghiệp; tổ chức quốc tế; viện nghiên cứu… để từ đó, cập nhật thực tiễn và bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo gắn kết giữa nghiên cứu và trải nghiệm môi trường làm việc thực tế cho sinh viên; nhất là kiến thức về chuyển đổi số quốc gia; phát triển địa phương; kinh tế xanh; cải cách hành chính; quản trị công hiện đại; phát triển vùng và liên kết vùng. Điều này sẽ giúp hình thành đội ngũ nhân lực kinh tế có khả năng tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn của nền kinh tế và xã hội.
Năm là, phát triển tư duy toàn cầu gắn với trách nhiệm quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nguồn nhân lực kinh tế cần có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, hiểu biết về xu hướng phát triển toàn cầu và có năng lực hội nhập quốc tế. Do đó, đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện yêu cầu hướng tới hình thành đội ngũ nhân lực: có tư duy toàn cầu; có bản lĩnh chính trị và trách nhiệm xã hội; có đạo đức nghề nghiệp; có tinh thần đổi mới sáng tạo; có khát vọng cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu của giáo dục đại học hiện đại mà còn là yêu cầu đối với quá trình xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
3. Định hướng đổi mới đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện
Trong Báo cáo thường niên năm 2025, Học viện xác định mục tiêu đến năm 2030 trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và tư vấn chính sách trong lĩnh vực hành chính công và quản trị công; đến năm 2045 đạt chuẩn quốc tế về quản trị đại học. Việc đổi mới đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện không chỉ nhằm thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động mà còn hướng tới xây dựng mô hình đào tạo có bản sắc riêng, phát huy lợi thế đặc thù của Học viện trong đào tạo gắn với quản trị công, hoạch định chính sách và quản trị phát triển.
Thứ nhất, hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng hiện đại và mở.
Trước yêu cầu của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế, chương trình đào tạo ngành Kinh tế cần được cập nhật thường xuyên theo hướng mở, linh hoạt và gắn với nhu cầu phát triển của xã hội. Các kiến thức nền tảng về kinh tế học, chương trình đào tạo cần tăng cường các học phần: kinh tế số; kinh tế xanh; kinh tế tuần hoàn; phân tích dữ liệu kinh tế; AI ứng dụng trong kinh tế; đổi mới sáng tạo trong quản lý kinh tế, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; quản trị phát triển địa phương; chính sách công và quản trị công hiện đại.
Việc bổ sung các nội dung này không chỉ giúp sinh viên tiếp cận với các xu hướng phát triển mới của nền kinh tế mà còn góp phần hình thành tư duy liên ngành và năng lực thích ứng nghề nghiệp trong môi trường kinh tế số. Đồng thời, chương trình đào tạo cần tăng cường tính tích hợp giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và thực tiễn quản trị nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người học.
Thứ hai, đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá người học.
Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục đại học trên thế giới đang chuyển mạnh từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang mô hình học tập chủ động, lấy người học làm trung tâm và phát triển năng lực người học. Đối với đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện, cần tiếp tục đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng: tăng cường nghiên cứu tình huống; học theo dự án; mô phỏng chính sách và quản trị; học tập trải nghiệm; thảo luận nhóm; ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy. Các phương pháp này không chỉ giúp sinh viên nâng cao khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề mà còn tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn quản trị và hoạch định chính sách.
Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng cần chuyển từ đánh giá ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, tư duy phân tích và khả năng giải quyết vấn đề của người học. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, Học viện cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy, học tập và đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo và khả năng tiếp cận tri thức của sinh viên.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên và năng lực nghiên cứu khoa học.
Đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo đại học. Trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển đổi mạnh mẽ, yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên không chỉ dừng ở trình độ chuyên môn mà còn bao gồm năng lực nghiên cứu, năng lực số, khả năng hội nhập quốc tế và tư duy đổi mới sáng tạo. Theo Báo cáo thường niên năm 2025, Học viện hiện có đội ngũ giảng viên quy mô lớn với tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ ngày càng tăng (giảng viên có trình độ từ tiến sĩ trở lên là 175 người); hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế có nhiều chuyển biến tích cực (tổng số bài báo khoa học công bố trong và ngoài nước tăng từ 328 năm 2024 lên 386 năm 2025)2. Đây là nền tảng quan trọng để Học viện tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo và vị thế học thuật trong thời gian tới.
Để đáp ứng yêu cầu mới và hội nhập quốc tế, việc nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên, phát triển đội ngũ giảng viên có tư duy liên ngành cần được chú trọng, trong đó tăng cường năng lực số và ngoại ngữ; thúc đẩy hợp tác nghiên cứu quốc tế; phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh về quản trị công, kinh tế số và phát triển bền vững.
Thứ tư, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế đang trở thành xu hướng tất yếu của giáo dục đại học hiện đại. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, các cơ sở giáo dục đại học muốn nâng cao chất lượng đào tạo và vị thế học thuật cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tiếp cận các chuẩn mực giáo dục tiên tiến. Học viện đã tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các chương trình nghiên cứu, trao đổi học thuật và hợp tác đào tạo với nhiều đối tác nước ngoài.
Để đào tạo ngành Kinh tế đạt chất lượng cao, cần tiếp tục mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo quốc tế; tăng cường trao đổi học thuật; cập nhật chuẩn đào tạo quốc tế; thúc đẩy nghiên cứu chung và chuyển giao tri thức; nâng cao năng lực hội nhập cho giảng viên và sinh viên. Đồng thời, Học viện đẩy mạnh việc xây dựng môi trường học thuật quốc tế, tăng cường sử dụng tài liệu nước ngoài, mở rộng các hoạt động trao đổi sinh viên và phát triển các chương trình đào tạo có yếu tố quốc tế. Việc tăng cường hội nhập quốc tế không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo điều kiện để Học viện tiếp cận các xu hướng phát triển mới của giáo dục đại học và kinh tế toàn cầu.
Thứ năm, xây dựng mô hình đào tạo ngành Kinh tế mang bản sắc của Học viện.
Đối với Học viện, bản sắc của đào tạo ngành Kinh tế cần được xây dựng trên nền tảng: gắn với quản trị công; gắn với hoạch định chính sách; gắn với quản trị phát triển; gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số. Học viện có thể từng bước hình thành mô hình đào tạo ngành Kinh tế mang tính ứng dụng cao, gắn với thực tiễn quản trị quốc gia.
4. Kết luận
Bối cảnh phát triển kinh tế toàn cầu hiện nay đang tạo ra những thay đổi sâu sắc đối với mô hình tăng trưởng, cấu trúc lao động và phương thức quản trị quốc gia. Chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với giáo dục đại học nói chung và đào tạo ngành Kinh tế nói riêng. Đổi mới đào tạo ngành Kinh tế không chỉ là yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Với lợi thế đặc thù về đào tạo gắn với quản trị công, hoạch định chính sách và phát triển quốc gia, Học viện có điều kiện thuận lợi để xây dựng mô hình đào tạo ngành Kinh tế mang bản sắc riêng, góp phần khẳng định vị thế của Học viện trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam và đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Chú thích:
1. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm và làm việc với Học viện Hành chính và Quản trị công. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/28/thu-tuong-chinh-phu-pham-minh-chinh-tham-va-lam-viec-voi-hoc-vien-hanh-chinh-va-quan-tri-cong/
2. Học viện Hành chính và Quản trị công (2026). Báo cáo số 778-BC/HVHC&QTC ngày 24/4/2026 báo cáo thường niên năm 2025. https://apag.edu.vn/-8939.htm
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, II. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Kinh tế.
5. Học viện Hành chính và Quản trị công (2025). Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Kinh tế du lịch.
6. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
8. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
9. OECD (2023). OECD Digital Economy Outlook 2023. OECD Publishing, Paris.
10. World Bank (2024). World Development Report 2024: The Middle-Income Trap. Washington DC.



