Quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Management of political theory teaching activities at provincial and municipal political schools toward the unity of theory and practice

ThS. Nguyễn Việt Anh
Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa

(Quanlynhanuoc.vn) – Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, là yêu cầu trực tiếp nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố. Trước yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở ngày càng cao, quản lý hoạt động giảng dạy không chỉ dừng ở chương trình, kế hoạch, thời lượng và hồ sơ chuyên môn, mà còn phải bảo đảm tri thức lý luận chuyển hóa thành năng lực nhận thức, phương pháp công tác và khả năng xử lý vấn đề thực tiễn. Bài viết làm rõ vai trò, đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.

Từ khóa: Quản lý giảng dạy; lý luận chính trị; lý luận và thực tiễn; trường chính trị tỉnh, thành phố.

Abstract: The unity of theory and practice is a fundamental principle of Marxism–Leninism and a direct requirement for improving the quality of political theory teaching at provincial and municipal political schools. In response to the increasing demands for the training and professional development of grassroots cadres, the management of teaching activities should not be limited to programs, plans, teaching hours, and professional records, but should also ensure that theoretical knowledge is transformed into learners’ cognitive capacity, working methods, and the ability to address practical problems. This article clarifies the role of managing political theory teaching activities and proposes solutions for improving the management of political theory teaching at provincial and municipal political schools toward the unity of theory and practice.

Keywords: Teaching management; political theory; unity of theory and practice; provincial and municipal political schools.

1. Đặt vấn đề

Trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị ở địa phương; trực tiếp trang bị kiến thức lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, phương pháp công tác và phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ sở. Vì vậy, chất lượng hoạt động của các trường chính trị có tác động trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ địa phương, đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở và năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn.

Trong hệ thống nhiệm vụ của trường chính trị, giảng dạy lý luận chính trị giữ vị trí trung tâm. Hoạt động này không chỉ nhằm truyền đạt tri thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn góp phần hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp luận cách mạng, bản lĩnh chính trị và năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác của người học. Đối tượng học viên ở trường chính trị phần lớn là cán bộ, công chức, viên chức đang hoặc sẽ đảm nhiệm nhiệm vụ trong hệ thống chính trị địa phương, do đó yêu cầu đặt ra không chỉ là nắm vững lý luận mà còn phải biết sử dụng lý luận để phân tích tình hình, nhận diện vấn đề, tham mưu, ra quyết định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở.

Thời gian qua, hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở nhiều trường chính trị tỉnh, thành phố đã có chuyển biến tích cực; nội dung chương trình từng bước được chuẩn hóa, đội ngũ giảng viên được nâng cao về trình độ, phương pháp dạy học có đổi mới, hoạt động nghiên cứu thực tế và tổng kết thực tiễn được quan tâm hơn. Tuy nhiên, việc gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy vẫn còn hạn chế; một số bài giảng còn nặng truyền thụ khái niệm, nguyên lý, chưa làm rõ đầy đủ mối liên hệ với tình hình địa phương; hoạt động nghiên cứu thực tế của giảng viên chưa trở thành chất liệu trực tiếp cho bài giảng; việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chưa phản ánh đầy đủ năng lực vận dụng của người học. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cải cách hành chính, xây dựng chính quyền địa phương hoạt động hiệu lực, hiệu quả và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra nhiều vấn đề mới, quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trở thành yêu cầu quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các trường chính trị hiện nay.

2. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, là yêu cầu cốt lõi trong giảng dạy lý luận chính trị. Lý luận chân chính là sự khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, quy luật của đời sống xã hội; thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý. Vì vậy, giảng dạy lý luận chính trị nếu chỉ dừng ở truyền đạt khái niệm, phạm trù, nguyên lý mà không làm rõ sức sống của lý luận trong thực tiễn thì khó tạo sức thuyết phục. Ngược lại, nếu chỉ nêu ví dụ, phân tích thực tế mà thiếu nền tảng lý luận thì dễ rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa, thiếu chiều sâu khoa học và thiếu định hướng chính trị.

Trong các trường chính trị tỉnh, thành phố, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được thể hiện ở việc gắn kết nội dung khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với những vấn đề đặt ra trong phát triển địa phương và thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ cơ sở. Mỗi bài giảng cần làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề, sự vận dụng của Đảng và Nhà nước; đồng thời, chỉ ra ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Nếu thiếu cơ sở lý luận, bài giảng mất tính khoa học, nếu thiếu định hướng chính trị, bài giảng dễ lệch chuẩn; nếu thiếu liên hệ thực tiễn, bài giảng khó chuyển hóa thành năng lực công tác của học viên.

Quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đến toàn bộ quá trình dạy học, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, kiểm tra, đánh giá và bảo đảm điều kiện dạy học nhằm chuyển hóa tri thức lý luận thành năng lực thực tiễn của người học. Bản chất của quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị không phải là cộng thêm ví dụ thực tế vào bài giảng, mà là tổ chức quá trình dạy học theo logic từ thực tiễn đến lý luận và từ lý luận trở lại thực tiễn. Theo đó, quản lý mục tiêu phải hướng vào năng lực vận dụng; quản lý chương trình phải bảo đảm cân đối giữa kiến thức nền tảng với nội dung thực tiễn địa phương; quản lý phương pháp phải khuyến khích đối thoại, thảo luận, xử lý tình huống; quản lý kiểm tra, đánh giá phải chú trọng năng lực phân tích và giải quyết vấn đề.

Trong điều kiện xây dựng trường chính trị chuẩn và đẩy mạnh chuyển đổi số, yêu cầu quản lý hoạt động giảng dạy theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn càng trở nên quan trọng. Trường chính trị chuẩn không chỉ là chuẩn về tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, đội ngũ và quy trình quản lý còn cần chuẩn về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chuyển đổi số có thể hỗ trợ quản lý lịch giảng, hồ sơ chuyên môn, học liệu, ngân hàng câu hỏi, kho tình huống thực tiễn và dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học, nhưng công nghệ chỉ là phương tiện. Nếu thiếu định hướng lý luận, thiếu giảng viên có năng lực và thiếu cơ chế khai thác thực tiễn, chuyển đổi số dễ trở thành hình thức. Vì vậy, quản lý hoạt động giảng dạy phải khắc phục cả khuynh hướng lý luận hóa một chiều lẫn thực tiễn hóa giản đơn, làm cho lý luận và thực tiễn soi sáng, bổ sung, kiểm nghiệm lẫn nhau trong từng khâu của quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

3. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố hiện nay

Thời gian qua, quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức của cấp ủy, ban giám hiệu, các khoa chuyên môn và đội ngũ giảng viên về yêu cầu gắn lý luận với thực tiễn từng bước được nâng lên. Nhiều nhà trường đã quan tâm rà soát chương trình, đổi mới kế hoạch giảng dạy, tăng cường dự giờ, thao giảng, hội thi giảng viên dạy giỏi, nghiên cứu thực tế, nghiên cứu khoa học và cập nhật những vấn đề mới của địa phương vào bài giảng. Hoạt động quản lý chuyên môn không chỉ dừng ở duy trì nền nếp giảng dạy mà đã bước đầu chú ý hơn đến chất lượng bài giảng, phương pháp sư phạm, khả năng liên hệ thực tiễn và mức độ đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở.

Thứ nhất, trong quản lý mục tiêu đào tạo, nhiều trường chính trị đã xác định rõ hơn yêu cầu chuyển hóa tri thức lý luận chính trị thành năng lực nhận thức, phương pháp công tác và bản lĩnh hành động của người học. Đây là chuyển biến quan trọng, bởi học viên trường chính trị phần lớn là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong hệ thống chính trị. Họ học lý luận không phải để tích lũy tri thức thuần túy mà để nâng cao năng lực phân tích tình hình, xử lý vấn đề, tham mưu, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách ở cơ sở. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý mục tiêu ở một số nơi vẫn còn thiên về bảo đảm đủ chương trình, đủ thời lượng, đủ hồ sơ, chưa thật sự chuyển mạnh sang quản lý theo năng lực đầu ra. Mục tiêu “vận dụng lý luận vào thực tiễn” nhiều khi đã được nêu trong kế hoạch đào tạo, nhưng chưa được cụ thể hóa thành tiêu chí quản lý bài giảng, tiêu chí đánh giá học viên và yêu cầu bắt buộc trong từng chuyên đề.

Thứ hai, về nội dung chương trình, các trường chính trị đã bám sát khung chương trình, giáo trình, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền ban hành; đồng thời, bước đầu bổ sung các nghị quyết, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của địa phương vào giảng dạy. Nhiều bài giảng đã có nhiều ví dụ thực tiễn, mô hình hay, kinh nghiệm xử lý tình huống ở cơ sở giúp học viên dễ tiếp cận hơn với nội dung lý luận. Tuy nhiên, sự gắn kết giữa nội dung lý luận chung với thực tiễn địa phương ở không ít trường còn thiếu hệ thống. Có bài giảng mới dừng ở việc “minh họa thực tiễn” bằng một số ví dụ rời rạc, chưa làm rõ bản chất lý luận của vấn đề thực tiễn; có bài giảng nặng truyền đạt khái niệm, nguyên lý, văn kiện, nghị quyết, nhưng chưa chỉ ra ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của học viên. Vì vậy, thực tiễn có được đưa vào bài giảng, nhưng chưa phải lúc nào cũng trở thành chất liệu để làm sáng tỏ lý luận và rèn luyện năng lực vận dụng.

Thứ ba, hoạt động quản lý học liệu phục vụ giảng dạy đã được chú ý hơn, nhất là trong điều kiện chuyển đổi số và xây dựng trường chính trị chuẩn. Nhiều trường đã quan tâm xây dựng thư viện điện tử, kho tài liệu, ngân hàng đề thi, tài liệu tham khảo, văn kiện địa phương, báo cáo tổng kết và các sản phẩm nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, học liệu thực tiễn phục vụ giảng dạy vẫn còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và chưa được tổ chức thành hệ thống dùng chung. Không ít giảng viên vẫn phải tự tìm kiếm số liệu, tự thu thập tình huống, tự xử lý tư liệu thực tế theo kinh nghiệm cá nhân. Do thiếu cơ chế thẩm định, cập nhật, phân loại và chia sẻ học liệu, nên chất lượng liên hệ thực tiễn giữa các bài giảng, các giảng viên, các khoa chuyên môn chưa đồng đều. Đây là một điểm nghẽn đáng chú ý, bởi muốn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì nhà trường phải có cơ sở dữ liệu thực tiễn đủ tin cậy, cập nhật và có định hướng chính trị, khoa học rõ ràng.

Thứ tư, về phương pháp giảng dạy, nhiều trường đã khuyến khích giảng viên sử dụng phương pháp dạy học tích cực, tăng trao đổi, thảo luận, xử lý tình huống, hội thảo, thuyết trình nhóm và liên hệ với nhiệm vụ công tác của học viên. Cách làm này phù hợp với đặc điểm người học ở trường chính trị, bởi họ không phải là học sinh phổ thông mà là những cán bộ đã có trải nghiệm thực tiễn, có vốn kinh nghiệm quản lý, có khả năng trao đổi và phản biện. Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp ở một số nơi vẫn chưa thật sự đi vào chiều sâu. Một số giảng viên còn nặng thuyết trình một chiều, trình bày theo giáo án có sẵn, ít tổ chức đối thoại hoặc ngại xử lý những câu hỏi khó từ thực tiễn. Có giờ học thảo luận nhưng chủ yếu để hoàn thành hình thức, chưa tạo ra quá trình va đập giữa tri thức lý luận và kinh nghiệm công tác của học viên.

Thứ năm, hoạt động nghiên cứu thực tế, nghiên cứu khoa học đã có chuyển biến tích cực. Nhiều trường đã tổ chức cho giảng viên đi nghiên cứu thực tế ở cơ sở, tham gia đề tài khoa học, viết bài hội thảo, khảo sát mô hình địa phương, dự sinh hoạt chi bộ, làm việc với các cơ quan trong hệ thống chính trị. Đây là những điều kiện quan trọng để giảng viên bổ sung chất liệu thực tiễn. Tuy nhiên, ở một số nơi, nghiên cứu thực tế vẫn còn nặng tính kế hoạch, báo cáo kết quả sau thực tế chưa thật sự trở thành sản phẩm chuyên môn phục vụ bài giảng. Có trường chưa gắn chặt kết quả nghiên cứu thực tế với cập nhật giáo án, xây dựng tình huống dạy học, đổi mới câu hỏi thảo luận hoặc phát triển học liệu. Khi nghiên cứu thực tế chưa đi vào bài giảng, hoạt động này dễ trở thành khâu bổ trợ, chưa phát huy hết vai trò trong nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị.

Thứ sáu, về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, nhiều trường đã có đổi mới theo hướng tăng câu hỏi mở, tiểu luận, thảo luận, xử lý tình huống và liên hệ thực tiễn. Đây là xu hướng đúng, vì kiểm tra, đánh giá có tác động trực tiếp đến cách học của học viên và cách dạy của giảng viên. Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn vẫn còn hạn chế. Ở một số trường, đề thi vẫn nặng yêu cầu trình bày lại nội dung giáo trình, văn kiện, khái niệm; câu hỏi liên hệ thực tiễn còn chung chung, dễ trả lời theo khuôn mẫu. Tiêu chí chấm điểm đôi khi chưa phân biệt rõ giữa học viên nhớ đúng kiến thức với học viên biết phân tích, vận dụng và đề xuất giải pháp. Vì vậy, kiểm tra, đánh giá chưa thật sự trở thành công cụ buộc quá trình dạy và học phải hướng vào năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.

Thứ bảy, chuyển đổi số trong giảng dạy đã được nhiều trường quan tâm, nhưng mức độ triển khai chưa đồng đều. Một số trường đã sử dụng phần mềm quản lý đào tạo, hồ sơ chuyên môn điện tử, thư viện số, lớp học trực tuyến, ngân hàng câu hỏi và kho tài liệu số. Tuy nhiên, chuyển đổi số ở nhiều nơi mới chủ yếu hỗ trợ quản lý hành chính, chưa tác động sâu đến đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy. Dữ liệu về quá trình học tập, mức độ tham gia, năng lực vận dụng, phản hồi của học viên và hiệu quả bài giảng chưa được khai thác đầy đủ để điều chỉnh quản lý chuyên môn. Nếu không gắn chuyển đổi số với phát triển học liệu, ngân hàng tình huống, dữ liệu thực tiễn địa phương và đánh giá năng lực người học, công nghệ dễ trở thành phương tiện hình thức, chưa tạo ra thay đổi thực chất trong chất lượng giảng dạy lý luận chính trị.

Từ thực trạng trên có thể thấy, quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu thống nhất lý luận và thực tiễn với cách thức quản lý cụ thể. Điểm nghẽn không chỉ nằm ở từng bài giảng hay từng giảng viên, mà nằm trong toàn bộ chuỗi quản lý: từ mục tiêu, chương trình, học liệu, phương pháp, nghiên cứu thực tế, đội ngũ giảng viên đến kiểm tra, đánh giá và chuyển đổi số. Khi quản lý còn thiên về quy trình, hồ sơ, thời lượng và nền nếp hành chính, chất lượng chuyển hóa tri thức lý luận thành năng lực công tác của người học sẽ còn hạn chế. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải chuyển mạnh từ quản lý hoạt động giảng dạy theo đầu vào và quá trình sang quản lý theo chất lượng đầu ra, lấy năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác của học viên làm thước đo quan trọng.

4. Một số giải pháp

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, ban giám hiệu, khoa chuyên môn và đội ngũ giảng viên về yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị.

Cấp ủy, ban giám hiệu và các khoa chuyên môn cần nhận thức rõ rằng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không phải là yêu cầu phụ trợ trong phương pháp giảng dạy mà là nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trường chính trị. Một bài giảng lý luận chính trị có chất lượng phải vừa bảo đảm tính khoa học, tính đảng, tính hệ thống, vừa giải đáp được những vấn đề thực tiễn đặt ra trong công tác lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Vì vậy, quản lý hoạt động giảng dạy không thể chỉ dừng ở quản lý thời khóa biểu, giáo án, hồ sơ chuyên môn, mà phải hướng tới quản lý chất lượng chuyển hóa của bài giảng đối với nhận thức và năng lực hành động của người học.

Các trường chính trị cần đưa yêu cầu thống nhất lý luận và thực tiễn vào nghị quyết lãnh đạo, kế hoạch năm học, quy chế chuyên môn, tiêu chí đánh giá bài giảng, tiêu chí thi đua của giảng viên và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo. Mỗi khoa, tổ bộ môn cần xác định rõ những vấn đề thực tiễn địa phương phải được cập nhật trong từng học phần, từng chuyên đề. Giảng viên cần xem nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn và tham gia giải quyết vấn đề ở địa phương là một phần của năng lực nghề nghiệp, không phải hoạt động bổ sung ngoài giảng dạy. Khi nhận thức đúng được chuyển hóa thành tiêu chí quản lý cụ thể, yêu cầu thống nhất lý luận và thực tiễn sẽ trở thành nền nếp chuyên môn của nhà trường.

Hai là, quản lý chặt chẽ việc đổi mới nội dung, chương trình và học liệu theo hướng cơ bản, hệ thống, cập nhật, thiết thực và gắn với thực tiễn địa phương.

Các trường chính trị cần bảo đảm chương trình đào tạo, bồi dưỡng vừa bám sát quy định chung của Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, vừa có khả năng liên hệ với đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, lĩnh vực và nhóm đối tượng học viên. Nội dung lý luận phải được trình bày cơ bản, hệ thống, đúng bản chất, không giản lược tùy tiện. Nội dung thực tiễn phải được lựa chọn có định hướng, có tính điển hình, có giá trị phân tích và phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đào tạo cán bộ.

Cùng với chương trình, cần quản lý việc phát triển học liệu theo hướng mở, cập nhật và có tính tương tác cao. Ngoài giáo trình, tài liệu chính thức, mỗi nhà trường cần xây dựng kho học liệu thực tiễn gồm văn kiện địa phương, nghị quyết chuyên đề, báo cáo tổng kết, mô hình hay, tình huống quản lý, số liệu phát triển kinh tế – xã hội, ví dụ về cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng nông thôn mới, giải quyết khiếu nại, công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Học liệu thực tiễn phải được thẩm định, cập nhật, phân loại theo chuyên đề và gắn với câu hỏi gợi mở để giảng viên, học viên sử dụng hiệu quả. Quản lý học liệu như vậy sẽ làm cho bài giảng có cơ sở thực tế phong phú nhưng vẫn bảo đảm định hướng chính trị, tính khoa học và tính sư phạm.

Ba là, quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, kinh nghiệm thực tiễn và năng lực vận dụng của người học.

Các nhà trường cần xây dựng quy định chuyên môn khuyến khích sử dụng phương pháp dạy học tích cực, như: thảo luận nhóm, dạy học tình huống, seminar chuyên đề, phản biện chính sách, phân tích mô hình địa phương, lớp học đảo chiều, bài tập vận dụng sau giờ học. Mỗi chuyên đề lý luận chính trị nên có câu hỏi liên hệ thực tiễn, tình huống quản lý, yêu cầu vận dụng vào vị trí công tác của học viên. Việc dự giờ, thao giảng, đánh giá giảng viên cần chú trọng khả năng gắn lý luận với thực tiễn, khả năng tổ chức đối thoại, xử lý câu hỏi khó, khai thác kinh nghiệm người học và định hướng chính trị trong thảo luận. Khi phương pháp giảng dạy được quản lý theo chuẩn năng lực, người học sẽ không chỉ ghi nhớ tri thức mà còn biết vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu vừa vững lý luận, vừa sâu sát thực tiễn.

Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo hướng chuẩn hóa, chuyên sâu, kế thừa và phát triển. Cần duy trì chế độ đưa giảng viên đi nghiên cứu thực tế có mục tiêu, có sản phẩm, có đánh giá chất lượng sau thực tế; khuyến khích giảng viên tham gia đề tài nghiên cứu khoa học, tổng kết mô hình ở địa phương, viết bài khoa học, tham gia tư vấn chính sách, dự sinh hoạt chuyên đề ở cơ sở. Đồng thời, phải bồi dưỡng năng lực chuyển đổi số, năng lực thiết kế học liệu, năng lực xây dựng tình huống, năng lực khai thác dữ liệu địa phương và năng lực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi giảng viên cần có “hồ sơ phát triển nghề nghiệp” thể hiện quá trình học tập, nghiên cứu, thực tế, đổi mới phương pháp và kết quả giảng dạy. Quản lý đội ngũ theo hướng này sẽ tạo động lực để giảng viên không ngừng tự học, tự đổi mới và nâng cao chất lượng bài giảng.

Năm là, đổi mới quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác.

Kiểm tra, đánh giá có tác động mạnh đến động cơ học tập và phương pháp học của học viên. Vì vậy, quản lý kiểm tra, đánh giá phải chuyển từ trọng tâm “nhớ đúng” sang “hiểu đúng, vận dụng đúng và hành động đúng”. Điều này không có nghĩa xem nhẹ tri thức cơ bản mà là đặt tri thức cơ bản vào yêu cầu sử dụng tri thức trong giải quyết vấn đề thực tiễn.

Các trường chính trị cần xây dựng ngân hàng câu hỏi, bài tập và tình huống đánh giá theo hướng mở, có phân hóa, gắn với vị trí công tác của người học. Câu hỏi kiểm tra cần tăng yêu cầu phân tích, chứng minh, đánh giá, vận dụng, phản biện và đề xuất giải pháp. Học viên có thể được yêu cầu phân tích một vấn đề quản lý ở địa phương bằng quan điểm lý luận đã học, xây dựng đề cương tuyên truyền nghị quyết, xử lý tình huống về dân chủ ở cơ sở, nhận diện luận điệu sai trái trên không gian mạng hoặc đề xuất cách vận dụng một chủ trương của Đảng vào cơ quan, đơn vị. Ngoài bài thi viết, cần tăng cường tiểu luận, thuyết trình, seminar, sản phẩm nhóm, báo cáo thực tế và đánh giá quá trình. Khi kiểm tra, đánh giá phản ánh đúng năng lực vận dụng, hoạt động dạy học sẽ tự điều chỉnh theo hướng thực chất hơn.

5. Kết luận

Quản lý hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị tỉnh, thành phố theo hướng thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Đây không chỉ là yêu cầu về phương pháp giảng dạy, mà còn là nguyên tắc quản lý chi phối mục tiêu, nội dung, chương trình, đội ngũ giảng viên, kiểm tra đánh giá và quan hệ giữa nhà trường với địa phương. Thực hiện tốt yêu cầu này góp phần chuyển hóa tri thức lý luận chính trị thành năng lực nhận thức, phương pháp công tác và bản lĩnh hành động của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Tài liệu tham khảo:
1. Ban Bí thư (2025). Quy định số 350-QĐ/TW ngày 29/8/2025 về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị.
2. Ban Bí thư (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Quy định số 393-QĐi/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố.
4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20/3/2026 về ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị.