Xây dựng xã hội số an toàn cho nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam

Building a safe digital society for vulnerable groups in Vietnam

TS. Lục Anh Tuấn
Đại học Thành Đô
NCS. ThS. Đỗ Năng Trung
Học viện Quốc tế, Bộ Công an

(Quanlynhanuoc.vn) – Thế giới và Việt Nam đã có những bước tiến rất sâu vào kỷ nguyên số. Bên cạnh những tiện ích to lớn mang lại, kỷ nguyên số cũng đặt ra nhiều thách thức đối với an ninh con người, nhất là nhóm dễ bị tổn thương. Bài viết nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng xã hội số an toàn cho nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam thời gian vừa qua. Từ đó, đưa ra nhiệm vụ, giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác này thời gian tới, đóng góp vào mục tiêu bảo đảm an ninh con người và xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển của Đảng.

Từ khóa: Xây dựng xã hội số, an ninh con người, nhóm dễ bị tổn thương, an ninh mạng, mạng xã hội.

Abstract: The world and Vietnam have made significant strides into the digital age. Alongside the tremendous benefits it brings, the digital age also poses many challenges to human security, particularly for vulnerable groups. This article examines and analyzes several theoretical and practical issues regarding the development of a safe digital society for vulnerable groups in Vietnam in recent years. Based on this, it proposes tasks and solutions to enhance the effectiveness of these efforts in the coming period, contributing to the Party’s goal of ensuring human security and building a disciplined, safe, civilized, harmonious, and developed society.

Keywords: Building a digital society; human security; vulnerable groups; cybersecurity; social media.

1. Cơ sở lý luận

Theo nghĩa rộng, xã hội làtoàn bộ các hình thức hoạt động chung của con người, đã hình thành trong lịch sử. Người ta thường dùng khái niệm xã hội để chỉ một tập đoàn người được quan niệm như một hiện thực của các thành viên của nó, hoặc là để chỉ một môi trường của con người mà cá nhân được hòa nhập vào, môi trường đó được xem như là toàn bộ các lực lượng có tổ chức và có hệ thống tôn ti trật tự tác động đến cá nhân. Khái niệm xã hội là khái niệm đối lập với khái niệm cá nhân, cũng như khái niệm sống trong xã hội là khái niệm đối lập với khái niệm sống đơn độc. Xã hội, theo định nghĩa của Từ điển Cambridge, là một nhóm lớn người sống chung với nhau một cách có tổ chức, cùng đưa ra quyết định về cách thức thực hiện mọi việc và chia sẻ công việc cần làm. Tất cả người dân trong một quốc gia hoặc trong một số quốc gia tương tự.

Xã hội số là xã hội trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số. Trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là sự phát triển của mạng Internet và các nền tảng truyền thông xã hội, không gian số không chỉ còn là công cụ giải trí mà trở thành hạ tầng thiết yếu cho mọi hoạt động sinh kế, giáo dục, thương mại… Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) thời gian qua tác động sâu sắc đến đời sống xã hội thế giới. AI không chỉ tối ưu hóa năng suất mà còn dịch chuyển cấu trúc thị trường lao động, biến năng lực số trở thành thước đo lõi cho sức cạnh tranh của các quốc gia… Tuy nhiên, AI cũng tăng khoảng cách về bình đẳng tiếp cận và kỹ năng số cũng như rủi ro bị lừa đảo và thao túng tâm lý… Tại Việt Nam, xã hội số là một trong 3 trụ cột của chuyển đổi số quốc gia, cùng với chính phủ số và kinh tế số. Chiến lược chuyển đổi số đến năm 2030 đặt ra mục tiêu mọi người dân phải được tiếp cận thông tin, dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích số một cách bình đẳng, an toàn, thuận tiện.

An toàn thường được hiểu là không có nguy hiểm và rủi ro; trái nghĩa với “rủi ro”. An toàn là một khái niệm phức tạp thường được định nghĩa bởi một điều kiện cụ thể. Điều kiện này biểu thị sự vắng mặt của những nguy hiểm tiềm tàng, bao gồm các rủi ro như thương tích cho con người hoặc động vật, thiệt hại về tài chính, hoặc bất kỳ hình thức thiệt hại hay mất mát nào khác.

Xã hội an toàn là một khái niệm rộng với nhiều trụ cột khác nhau bao gồm an ninh trật tự tốt (tội phạm thấp, kiểm soát tội phạm tốt), an ninh xã hội bao trùm, bền vững (hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân, giáo dục – đào tạo, tiếp cận nước đảm bảo vệ sinh, tiếp cận điện, nhà ở), kinh tế phát triển bền vững (đủ việc làm, việc làm tốt, thu nhập đầu người cao, tỷ lệ nghèo đói thấp), và môi trường sống bền vững. Tất cả tạo nên sự bình yên, ổn định cho người dân có cuộc sống chất lượng, ít rủi ro.

Xây dựng xã hội an toàn có thể được định nghĩa là quá trình tạo lập một môi trường sống ổn định, kỷ cương, lành mạnh, nơi người dân được bảo vệ, tôn trọng quyền lợi, và giảm thiểu tối đa các nguy cơ đe dọa (tội phạm, tai nạn, dịch bệnh, thiên tai…).

Xây dựng xã hội số an toàn có thể được định nghĩa là quá trình tạo lập môi trường trực tuyến tin cậy, nơi người dân có thể làm việc, tương tác và sử dụng dịch vụ số mà không lo ngại về bảo mật thông tin, an ninh mạng hay lừa đảo trực tuyến… quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp được bảo đảm; được hưởng một môi trường mạng văn minh, lành mạnh, hướng tới những giá trị tốt đẹp. Những đặc điểm cơ bản của một xã hội số an toàn là: Dữ liệu cá nhân được bảo mật; hạ tầng số tin cậy; người dân có năng lực số; hành lang pháp lý vững chắc; và không gian mạng văn minh. Xây dựng xã hội số an toàn nằm trong mục tiêu tổng thể xây dựng xã hội Việt Nam kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân.

Các nhóm dễ bị tổn thương, theo Liên Hợp quốc, là các nhóm dân cư dễ bị tổn hại, phân biệt đối xử hoặc thiệt thòi hơn do nhiều yếu tố khác nhau như hoàn cảnh xã hội, kinh tế, địa lý hoặc thể chất. Những nhóm này có thể phải đối mặt với rủi ro cao hơn, hạn chế tiếp cận các nguồn lực hoặc cơ hội, và cần sự hỗ trợ và bảo vệ cụ thể để bảo đảm hạnh phúc và sự tham gia bình đẳng của họ trong xã hội. Thành phần các nhóm dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ và trẻ em gái, những người thuộc các dân tộc và chủng tộc thiểu số, cộng đồng LGBTQIA+, người nhập cư và di cư, người tị nạn và người buộc phải di chuyển đi ở nơi khác… Điều quan trọng cần lưu ý là các nhóm này không loại trừ lẫn nhau và các cá nhân có thể thuộc nhiều nhóm dễ bị tổn thương cùng một lúc.

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm, hỗ trợ các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Tuy nhiên, có một hạn chế vẫn chưa được giải quyết là khái niệm “nhóm xã hội dễ bị tổn thương” vẫn chưa được định nghĩa thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Định nghĩa và các đối tượng thuộc nhóm này đang được quy định tản mạn tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh của từng lĩnh vực.

Nhóm dễ bị tổn thương trên không gian số tại Việt Nam bao gồm trẻ em và học sinh, người cao tuổi, phụ nữ, người dân vùng sâu, vùng xa và dân tộc thiểu số, người trẻ tuổi, cộng đồng LGBTQ+, người khuyết tật… Bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương không chỉ là vấn đề an ninh mà cũng chính là giảm áp lực cho hệ thống an sinh xã hội. Khi rủi ro mạng được kiểm soát, chi phí khắc phục hậu quả tâm lý, tài chính và gánh nặng cho các dịch vụ cứu trợ xã hội sẽ giảm đáng kể.

2. Sự phát triển của không gian số tại Việt Nam

Internet chính thức xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 11/1997 và phát triển với tốc độ rất nhanh. Sau gần 3 thập kỷ, đến nay, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, 79 triệu người dùng mạng xã hội, 137 triệu kết nối di động; trong đó, gần 97% người dùng truy cập qua điện thoại di động, tổng thời gian online trung bình là 32 giờ mỗi tuần1. Việt Nam sẽ là quốc gia đứng thứ 10 thế giới về tỷ lệ tăng trưởng người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất trong giai đoạn 2022-20272. Ước tính sẽ có khoảng 82,92 triệu người dùng mạng xã hội tại Việt Nam vào năm 20283. Theo dự báo, hệ thống truyền thông và độ bao phủ của truyền thông sẽ tiếp tục phát triển tại Việt Nam trong thời gian tới. Tới năm 2030, 100% người sử dụng Internet có thể truy cập với tốc độ trên 1 Gb/s. Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI).

Không gian số tại Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, chuyển mình từ hạ tầng kết nối cơ bản sang hệ sinh thái số toàn diện, đóng vai trò là động lực cốt lõi cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Không chỉ dừng lại ở quy mô người dùng, chất lượng và năng lực làm chủ công nghệ số của quốc gia đang chuyển dịch mạnh mẽ. Kinh tế số của Việt Nam ngày càng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Hệ sinh thái kinh tế số của Việt Nam được củng cố vững chắc nhờ tốc độ phổ cập hạ tầng băng thông rộng, sự nở rộ của thương mại điện tử, các nền tảng thanh toán không dùng tiền mặt… Hành vi tiêu dùng, mua bán trực tuyến tại Việt Nam ngày càng trở lên phổ biến. Doanh thu & tiêu dùng thương mại điện tử Việt Nam 2025 tăng đáng kể. Theo một báo cáo, tổng giá trị giao dịch trên bốn sàn lớn, gồm: Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki đạt hơn 458,16 ngàn tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024. Mức tăng này cao gần gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng chung của ngành bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng4.

Năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Có 4/34 địa phương tại Việt Nam có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP trên 20% bao gồm: Bắc Ninh (46,30%), Thái Nguyên (29,53%), Hải Phòng (22,28%), Phú Thọ (22,71%); 4/34 địa phương có tỷ trọng từ 10-20%; 26/34 địa phương có tỷ trọng từ 6-10%. Riêng hai cực tăng trưởng của cả nước là Hà Nội đạt 17,34% và TP. Hồ Chí Minh đạt 13,43%5.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra những mục tiêu về phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số tại Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cụ thể, đến năm 2030, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%…; đến năm 2045, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số…

3. Thách thức đối với nhóm dễ bị tổn thương trên không gian số

Một là, gia tăng lừa đảo trên không gian mạng. Báo cáo về triển vọng an ninh mạng 2026 của Diễn đàn Kinh tế thế giới cho biết có đến 73% số người được hỏi cho biết họ hoặc người thân của họ đã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các hành vi lừa đảo qua mạng trong năm 2025 (tấn công lừa đảo qua email, điện thoại hoặc tin nhắn; gian lận hóa đơn hoặc thanh toán; đánh cắp danh tính; mối đe dọa nội bộ hoặc gian lận do nhân viên thực hiện; lừa đảo tình cảm hoặc mạo danh; gian lận đầu tư hoặc tiền điện tử). Trong đó, lừa đảo đầu tư/tiền điện tử chiếm 32% và đánh cắp danh tính chiếm 17%6.

Theo Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA), trong năm 2025, Việt Nam ghi nhận khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng (giảm gần 20% so với năm 2024); 52,30% cơ quan, doanh nghiệp từng ghi nhận chịu tổn hại do tấn công mạng trong năm, tăng đáng kể so với mức 46,15% của năm 2024; 5 hình thức tấn công phổ biến nhất là: Tấn công từ chối dịch vụ; chèn link quảng cáo cờ bạc, cá độ (backlink); tấn công gián điệp có chủ đích (APT); tấn công đánh cắp dữ liệu; mã hóa dữ liệu tống tiền7. Giai đoạn 2020 – 2025, tại Việt Nam xảy ra 24.295 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, gây thiệt hại gần 40.000 tỷ đồng. Riêng năm 2025, thiệt hại do lừa đảo trực tuyến ước tính vượt 8.000 tỷ đồng (trung bình gần 22 tỷ đồng mỗi ngày)8.

Phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi tại Việt Nam là nạn nhân của tình trạng lừa đảo trên không gian mạng. Theo một báo cáo, 90% nạn nhân bị lừa đảo qua mạng ở Việt Nam là phụ nữ; các đối tượng tội phạm lợi dụng nhóm phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, mong muốn việc làm nhanh; tâm lý cảm thông tin tưởng người lạ; sự cô đơn trong thời đại số và hạn chế về kiến thức công nghệ, bảo mật tài khoản9.

Người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam đã và đang trở thành nạn nhân của tội phạm mạng do không bắt kịp tốc độ thay đổi của các phương thức bảo mật công nghệ, dễ bị thao túng tâm lý và chiếm đoạt tài sản tích trữ cả đời. Theo một báo cáo, người cao tuổi chiếm tới hơn 50% nạn nhân trong các vụ lừa đảo trực tuyến. Các thủ đoạn phổ biến bao gồm mạo danh cơ quan công an hoặc người thân để chiếm đoạt tiền tiết kiệm. Số tiền bị lừa từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng10.

Một xu hướng đáng quan ngại khác là, người dân vùng sâu, vùng xa và dân tộc thiểu số dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động chia rẽ hoặc bị lôi kéo vào các hình thức đa cấp, lừa đảo việc làm trên không gian mạng.

Hai là, gia tăng bạo lực trực tuyến, bắt nạt trực tuyến, quấy rối trên không gian mạng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh sự và sức khỏe tinh thần của nhóm yếu thế. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng kéo theo làn sóng lạm dụng kỹ thuật số, đặc biệt là việc tạo ra các hình ảnh giả mạo nhạy cảm (deepfake) mà nạn nhân chủ yếu là nữ giới.. Một báo cáo của Viện Bình đẳng giới châu Âu cho biết cả phụ nữ và nam giới đều có thể là nạn nhân của bạo lực mạng hoặc lạm dụng kỹ thuật số. Một nghiên cứu công bố trên Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh cho thấy học sinh nữ có tỷ lệ bị bắt nạt trực tuyến cao gấp đôi học sinh nam11. Về tác động, phụ nữ và trẻ em gái dễ bị ảnh hưởng nhiều hơn; có thể phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng, dẫn đến tổn hại và đau khổ về thể chất, tình dục, tâm lý hoặc kinh tế; thường có xu hướng rút lui khỏi không gian kỹ thuật số, tự cô lập bản thân và cuối cùng đánh mất cơ hội xây dựng giáo dục, sự nghiệp chuyên môn và mạng lưới hỗ trợ12.

Trẻ em cũng là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trên môi trường Internet do chưa hoàn thiện về nhận thức và thiếu kỹ năng tự bảo vệ trước các cạm bẫy tinh vi trong khi lại là nhóm dành nhiều thời gian trên các nền tảng mạng xã hội. Nhiều trẻ em Việt Nam dành quá nhiều thời gian trên mạng xã hội, bỏ bê việc học tập và công việc, thậm chí phát triển triệu chứng nghiện mạng xã hội, giảm sự tương tác trong thế giới thực, dẫn đến sự xa cách với bạn bè và người thân; bị dụ dỗ gửi ảnh/video nhạy cảm để tống tiền hoặc bán trên các trang web đen13; bị bắt nạt qua mạng (14% thanh thiếu niên từng trải qua)14. Theo một nghiên cứu, khoảng 36,5% trẻ em đã từng tiếp xúc với hình ảnh bạo lực và hơn 13% tiếp xúc với tài liệu khiêu dâm trên internet15. Phần lớn các vụ việc xâm hại tinh thần và bạo lực trực tuyến đối với trẻ em diễn ra rất kín đáo, nạn nhân phải chịu đựng khủng hoảng tinh thần nặng nề, làm sụt giảm kết quả học tập trước khi được gia đình phát hiện. Việc tiếp xúc quá sớm với các nội dung độc hại, bạo lực trên mạng còn làm lệch lạc thế giới quan, khiến trẻ dễ có xu hướng bắt chước các hành vi lệch chuẩn ngoài đời thực.

Đối với người khuyết tật, mặc dù công nghệ mang lại cơ hội hòa nhập tốt hơn với xã hội nhưng họ lại dễ trở thành nạn nhân của không gian số không an toàn (trở thành nạn nhân của lừa đảo mạo danh trên không gian mạng, bạo lực mạng…) do hạn chế về khả năng tiếp cận các biện pháp an ninh chuyên sâu16. Nghiên cứu của Đại học Edinburgh cho thấy: có đến 29% người khuyết tật là trưởng thành sử dụng Internet từng là nạn nhân của bắt nạt trực tuyến; tỷ lệ này của nhóm người khuyết tật từ 18 – 24 tuổi là 47%17. Cộng đồng LGBTQ+ cũng thường xuyên phải đối mặt với sự kỳ thị, bạo lực ngôn từ và xâm phạm quyền riêng tư trên các mạng xã hội…18

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc trong toàn hệ thống chính trị và toàn dân về chủ trương, đường lối của Đảng giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước thời gian tới. Nâng cao nhận thức của người dân, nhất là nhóm dễ bị tổn thương về phương thức, thủ đoạn lừa đảo trên không gian mạng. Nghiên cứu phương thức cá nhân hóa nội dung cảnh báo cho từng nhóm đối tượng cụ thể: phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật…

Thứ hai, hoàn thiện thể chế chính sách, hệ thống pháp luật để bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương trên không gian số; tăng nặng khung hình phạt đối với tội phạm công nghệ cao, nhất là những đối tượng lợi dụng trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế vận động sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp phát triển Quỹ an sinh số quốc gia giúp hỗ trợ thiệt hại bước đầu cho nạn nhân thuộc nhóm yếu thế bị lừa đảo trực tuyến trong thời gian chờ cơ quan chuyên trách điều tra, xử lý.

Thứ ba, đổi mới căn bản phương thức truyền thông. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của các nền tảng truyền thông xã hội, nghiên cứu phát triển các hình thức tuyên truyền đa nền tảng (sản xuất các nội dung ngắn, trực quan như Infographic, video ngắn (TikTok, Reels) và các tình huống giả định thực tế ảo…) để nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho các nhóm dễ bị tổn thương. Việc cập nhật các phương thức, thủ đoạn lừa đảo trực tuyến phải được thực hiện theo thời gian thực với ngôn ngữ dễ hiểu, dễ nhớ.

Thứ tư, tiếp tụctriển khai hiệu quả các chiến dịch “bình dân học vụ số”, thành lập các nhóm trợ giúp tại cộng đồng để trực tiếp “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn người cao tuổi cách bảo mật tài khoản ngân hàng, dạy trẻ em cách bảo vệ quyền riêng tư cá nhân… Từ đó, phát triển năng lực, kỹ năng số an toàn của nhóm dễ bị tổn thương. Nghiên cứu ban hành và triển khai Khung năng lực số chuẩn hóa dành riêng cho nhóm dễ bị tổn thương, tích hợp vào ứng dụng quốc gia VNeID.

Thứ năm, đầu tư nâng cao năng lực giám sát, phát hiện, cảnh báo sớm các nguy cơ, rủi ro đối với an ninh con người trên không gian số; triển khai nhiều giải pháp đấu tranh về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật nhằm buộc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới tuân thủ pháp luật Việt Nam, kiểm soát, hạn chế, ngăn chặn, gỡ bỏ kịp thời thông tin giả, xấu, độc hại, phản cảm trên mạng xã hội; thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối và phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; thông tin lừa đảo, thông tin gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thông tin độc hại đối với trẻ em… Đầu tư nghiên cứu, phát triển các giải pháp phần mềm nội địa, các ứng dụng trình duyệt an toàn cho trẻ em, bộ lọc tin nhắn rác tự động cho người cao tuổi…

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ an ninh, an toàn nhóm dễ bị tổn thương trên không gian số; hỗ trợ xử lý khủng hoảng tâm lý và tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho nạn nhân thuộc nhóm dễ bị tổn thương.

Chú thích:
1. Báo cáo Digital 2026: Toàn cảnh xu hướng digital marketing và chiến lược cho năm 2026. https://rentracks.com.vn/bao-cao-digital-2026-va-xu-huong-nam-2026/#:i
2. Number of social internet users in selected countries in 2022 and 2027. https://www.statista.com/statistics/278341/number-of-social-network-users-in-selected-countries/
3. Forecast of the number of social media users in Vietnam from 2019 to 2028. https://www.statista.com/forecasts/1147065/social-media-users-in-vietnam
4. Mua sắm trực tuyến tăng mạnh, nhưng người Việt ngày càng thận trọng hơn với hàng hóa. https://tuoitre.vn/mua-sam-truc-tuyen-tang-manh-nhung-nguoi-viet-ngay-cang-than-trong-hon-voi-hang-hoa-20260211122225547.htm
5. Thông cáo báo chí tỷ trọng gái trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRPD giai đoạn 2021-2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
6. WEF: Global Cybersecurity Outlook 2026: Insight Report, tháng 1/2026, tr. 8.
7, 8. Tội phạm mạng gia tăng khi tận dụng AI và lừa đảo xuyên biên giới. https://vov.vn/xa-hoi/toi-pham-mang-gia-tang-khi-tan-dung-ai-va-lua-dao-xuyen-bien-gioi-post1293162.vov
9. Phụ nữ – nhóm dễ bị lừa đảo trên mạng: Vì sao. https://hoilhpn.org.vn/web/ntm-va-bao-ve-moi-truong/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/phu-nu-x2013-nhom-de-bi-lua-%C4%91ao-tren-mang-vi-sao–769301-5202.html.
10. Bảo vệ người yếu thế trên không gian mạng. https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/bao-ve-nguoi-yeu-the-tren-khong-gian-mang-1012650
11. Lê Võ Hồng Tuyết, Nguyễn Thị Trang, Đinh Văn Ngôn, Nguyễn Thị Thu An và Thái Thanh Trúc (2024). Tỷ lệ bắt nạt và các yếu tố liên quan ở học sinh phổ thông hệ giáo dục thường xuyên tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 27(2), tr. 159.
12. European Institute for Gender Equality: Combating Cyber Violence against Women and Girls. Luxembourg: Publications Office of the European Union, 2022.
13. Nhiều trẻ em bị dụ dỗ quay video, chụp ảnh khiêu dâm trên mạng xã hội. https://tuoitre.vn/nhieu-tre-em-bi-du-do-quay-video-chup-anh-khieu-dam-tren-mang-xa-hoi-20250521204619.htm
14. Bảo vệ trẻ em trước các rủi ro trên không gian mạng. https://www.rmit.edu.vn/vi/tin-tuc/tat-ca-tin-tuc/2025/jan/bao-ve-tre-em-truoc-cac-rui-ro-tren-khong-gian-mang
15. Gần 36,5% trẻ em phải trải nghiệm các thông tin, hình ảnh bạo lực trên Internet. https://vjst.vn/gan-36-5-tre-em-phai-trai-nghiem-cac-thong-tin-hinh-anh-bao-luc-tren-internet-60647.html
16. Để không gian số trở thành cơ hội cho người khuyết tật thay vì các loại bẫy. https://www.youtube.com/watch?v=aCIl_JVdf6A
17. Online safety for students with disabilities. https://information-services.ed.ac.uk/help/digital-skills-and-training/digital-safety-wellbeing-and-citizenship/online-safety-for
18. Bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội đối với người LGBT: Hiện trạng và giải pháp giảm kỳ thị. https://tramxacauvong.com/bao-luc-ngon-tu-tren-mang-xa-hoi-doi-voi-nguoi-lgbt-hien-trang-va-giai-phap-giam-ky-thi/