Hoàn thiện chính sách phát triển ngành vật liệu xây dựng xanh ở Việt Nam

Improving policies for the development of the green building materials industry in Vietnam

ThS. Lê Ngọc Thuý
Công ty cổ phần Công nghiệp Á Mỹ

(Quanlynhanuoc.vn) – Vật liệu xây dựng xanh là nền tảng vật chất của công trình xanh và là một cấu phần thiết yếu trong tiến trình chuyển đổi xanh, hướng tới cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam. Trong ngành vật liệu xây dựng, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò sản xuất chủ đạo, song quá trình “xanh hóa” của khu vực này còn vướng nhiều rào cản về thể chế, vốn, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, với việc xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” và đặt chuyển đổi xanh vào trọng tâm định hướng, đã mở ra khung chính sách mới. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, pháp lý và đánh giá thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển ngành vật liệu xây dựng xanh theo tinh thần Nghị quyết, gắn với phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.

Từ khóa: Vật liệu xây dựng xanh; chính sách phát triển; kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 68-NQ/TW; chuyển đổi xanh.

Abstract: Green building materials constitute the material foundation of green buildings and an essential component of the green transition toward Vietnam’s net-zero commitment by 2050. In the construction materials industry, the private sector plays the leading role in production, yet its “greening” process still faces numerous barriers relating to institutions, capital, technology, standards and markets. Resolution No. 68-NQ/TW dated 4 May 2025 of the Politburo on private economic development, which affirms the private economy as “one of the most important driving forces of the national economy” and places green transition at the centre of its orientation, has opened a new policy framework. Based on a theoretical and legal analysis and an assessment of the current situation, the article proposes solutions to improve the policy on developing the green building materials industry in the spirit of the Resolution, associated with promoting the role of the private sector.

Keywords: Green building materials; development policy; private economy; Resolution No. 68-NQ/TW; green transition.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi xanh đã vượt khỏi phạm vi một lựa chọn khuyến khích để trở thành điều kiện tồn tại và cạnh tranh của nền kinh tế. Tại Hội nghị COP26 năm 2021, Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 (Vương quốc Anh. 2021).

Trong lộ trình đó, ngành xây dựng và công nghiệp vật liệu xây dựng thuộc nhóm chịu áp lực khử các-bon cao nhất, bởi đây vừa là khu vực tiêu thụ tài nguyên khoáng sản và năng lượng ở quy mô lớn, vừa là nguồn phát thải khó cắt giảm. Riêng sản xuất xi măng đã chiếm khoảng 8% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu (Vietstock. 2026); trong khi Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, và việc sản xuất gạch đất sét nung còn tiêu tốn đất canh tác cùng nhiên liệu hóa thạch. Sức ép giảm phát thải, vì thế, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc ngành từ gốc.

Vật liệu xây dựng xanh – nhóm vật liệu tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và thân thiện với môi trường trong toàn bộ vòng đời – là lời giải căn bản cho bài toán này. Phát triển nhóm vật liệu đó không chỉ phục vụ mục tiêu môi trường mà còn gắn với việc hiện đại hóa một ngành công nghiệp có đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Điểm mấu chốt nằm ở chỗ lực lượng sản xuất chủ yếu của ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam là khu vực kinh tế tư nhân. Do vậy, mọi chính sách phát triển vật liệu xây dựng xanh, xét đến cùng, đều phải phát huy tác dụng thông qua hành vi đầu tư và sản xuất của doanh nghiệp tư nhân.

Chính tại giao điểm này, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Bộ Chính trị. 2025), mở ra một khung định hướng mới. Nghị quyết khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời, đưa chuyển đổi xanh, phát triển bền vững vào trung tâm định hướng phát triển khu vực này. Tinh thần đó tạo cơ sở chính trị – pháp lý để nhìn nhận lại và hoàn thiện chính sách phát triển ngành vật liệu xây dựng xanh – lĩnh vực mà cho đến nay, hệ thống chính sách vẫn còn phân tán, thiếu chế tài và chưa đủ sức dẫn dắt thị trường. Bài viết phân tích cơ sở lý luận – pháp lý của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và phát triển vật liệu xây dựng xanh, đánh giá thực trạng chính sách hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.

2. Cơ sở lý luận và chính trị – pháp lý

2.1. Vật liệu xây dựng xanh và vai trò trong chuyển đổi xanh

Cho đến nay, chưa có một định nghĩa pháp lý thống nhất về “vật liệu xây dựng xanh”. Trên bình diện học thuật và quản lý, khái niệm này thường được tiếp cận theo tiêu chí vòng đời: một vật liệu được coi là “xanh” khi việc khai thác nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển, sử dụng và thải bỏ nó gây tác động môi trường thấp hơn đáng kể so với vật liệu truyền thống cùng công năng, đồng thời tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và có khả năng tái chế, tái sử dụng. Về thực tiễn, nhóm này bao gồm vật liệu xây không nung (gạch bê tông, gạch nhẹ chưng áp, tấm tường), vật liệu tái chế từ tro, xỉ, thạch cao và phế thải công nghiệp, vật liệu cách nhiệt – tiết kiệm năng lượng, cùng các sản phẩm sử dụng nguyên liệu tái tạo.

Vai trò của vật liệu xây dựng xanh vượt ra ngoài phạm vi một sản phẩm hàng hóa thông thường. Nó là nền tảng vật chất của công trình xanh, là mắt xích để hiện thực hóa kinh tế tuần hoàn trong xây dựng khi biến phế thải của ngành này thành đầu vào của ngành khác và là công cụ trực tiếp để giảm phát thải theo cam kết quốc gia. Chính đặc tính “kép”, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, vừa tạo ra lợi ích môi trường có tính chất hàng hóa công mà người sản xuất không thu hồi được đầy đủ, khiến vật liệu xây dựng xanh trở thành đối tượng chính sách đặc thù. Tính đặc thù đó biểu hiện qua đặc tính thị trường tự thân sẽ cung ứng dưới mức tối ưu nếu thiếu sự can thiệp và dẫn dắt của Nhà nước.

2.2. Kinh tế tư nhân và tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW

Sau gần bốn thập niên đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành một trụ cột của nền kinh tế. Khu vực này hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động (Nguyễn Thị Huyền. 2025). Tuy vậy, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, năng lực quản trị và mức đầu tư cho nghiên cứu – phát triển còn hạn chế, tốc độ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn chậm. Đây là những điểm yếu khiến khu vực này chưa tương xứng với tiềm năng.

Nghị quyết số 68-NQ/TW đánh dấu bước phát triển về nhận thức khi xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tốc độ tăng trưởng bình quân 10 – 12%/năm, đóng góp khoảng 55 – 58% GDP và 35 – 40% tổng thu ngân sách nhà nước; tầm nhìn đến năm 2045 có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp, đóng góp trên 60% GDP (Bộ Chính trị. 2025). Đáng chú ý, trong tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết dành riêng một nhóm cho việc thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh doanh bền vững, qua đó đưa “chuyển đổi xanh” từ một định hướng chung thành nhiệm vụ gắn trực tiếp với khu vực tư nhân.

Tinh thần của Nghị quyết đã nhanh chóng được thể chế hóa. Chỉ ít ngày sau, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, quy định nhiều ưu đãi có thể áp dụng trực tiếp cho doanh nghiệp vật liệu xây dựng xanh: Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm đối với khoản vay thực hiện dự án xanh, dự án tuần hoàn; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hai năm và giảm 50% trong bốn năm tiếp theo đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; chấm dứt phương pháp thuế khoán đối với hộ kinh doanh từ ngày 01/01/2026 (Quốc hội. 2025). Đây là những công cụ mà chính sách phát triển vật liệu xây dựng xanh có thể “neo” vào để tăng tính khả thi, thay vì phải thiết kế lại từ đầu.

2.3. Mối quan hệ nội tại giữa hai chính sách

Quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và phát triển vật liệu xây dựng xanh không phải là sự lồng ghép cơ học mà có tính nội tại. Trước hết, vì doanh nghiệp tư nhân là chủ thể sản xuất chính, năng lực “xanh hóa” của ngành phụ thuộc trực tiếp vào năng lực công nghệ, vốn và động lực của khu vực này; một chính sách vật liệu xanh bỏ qua bài toán doanh nghiệp sẽ chỉ dừng ở mục tiêu trên giấy. Tiếp đó, chuyển đổi xanh vừa là nghĩa vụ, vừa là cơ hội tái định vị cạnh tranh của doanh nghiệp, khi các thị trường xuất khẩu dần dựng lên hàng rào các-bon và người mua trong nước bắt đầu ưu tiên công trình xanh. Quan trọng hơn cả, những rào cản mà doanh nghiệp vật liệu xanh đang đối mặt như thể chế, vốn, công nghệ, thị trường trùng khớp gần như hoàn toàn với các “điểm nghẽn” mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu tháo gỡ. Nói cách khác, hoàn thiện chính sách phát triển vật liệu xây dựng xanh theo tinh thần Nghị quyết chính là vận dụng một khung giải pháp tổng thể về phát triển kinh tế tư nhân vào một ngành cụ thể.

3. Thực trạng chính sách phát triển ngành vật liệu xây dựng xanh

3.1. Khung chính sách, pháp luật hiện hành

Việt Nam đã hình thành một khung chính sách tương đối đầy đủ về mặt định hướng. Ở tầm chiến lược ngành, Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, định hướng đến năm 2050 đã xác lập nguyên tắc loại bỏ công nghệ lạc hậu, tiêu tốn tài nguyên, ưu tiên công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng và tận dụng tối đa phế thải làm nguyên liệu. Cụ thể hơn, Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung tại Việt Nam đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ. 2021), đặt mục tiêu tỷ lệ vật liệu xây không nung trên tổng số vật liệu xây đạt 35 – 40% vào năm 2025 và 40 – 45% vào năm 2030, qua đó cắt giảm phát thải khí CO2 trên 2,5 triệu tấn/năm vào năm 2025 và trên 3,0 triệu tấn/năm vào năm 2030 so với sản xuất gạch nung tương đương.

Ở tầm liên ngành, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050 và Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đặt vật liệu xanh trong dòng chảy chung của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 bổ sung nền tảng pháp lý cho các công cụ kinh tế môi trường, kinh tế tuần hoàn và mua sắm xanh(Quốc hội. 2020). Như vậy, xét về định hướng, chính sách cơ bản đã đồng bộ, vấn đề còn lại nằm ở khâu thiết kế công cụ và tổ chức thực hiện.

3.2. Một số kết quả bước đầu

Trên nền khung chính sách đó, ngành đã có những chuyển động thực chất. Sản lượng và tỷ trọng vật liệu xây không nung tăng lên; nhiều cơ sở sản xuất gạch bê tông, tấm tường, vật liệu tái chế từ tro, xỉ đã hình thành, phần lớn do doanh nghiệp tư nhân đầu tư. Nhận thức xã hội về công trình xanh, vật liệu xanh được cải thiện, số công trình đạt chứng nhận xanh tăng dần qua từng năm. Một số doanh nghiệp tư nhân lớn đã chủ động đầu tư dây chuyền phát thải thấp, tận dụng nhiệt thừa để phát điện, xem đây là điều kiện để giữ thị phần xuất khẩu. Những tín hiệu này cho thấy dư địa thị trường là có thật, và khu vực tư nhân sẵn sàng dịch chuyển khi tín hiệu chính sách đủ rõ ràng.

Tuy vậy, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế còn lớn, bắt nguồn từ bốn nhóm bất cập. Một là, hệ thống chính sách ưu đãi phần nhiều mang tính khuyến khích, “dừng ở mức vận động”, thiếu chế tài và chưa đủ tính bắt buộc (Báo Xây dựng. 2026). Việc chưa quy định rõ tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu xanh trong công trình vốn ngân sách khiến “cầu” từ khu vực công – vốn có thể dẫn dắt thị trường – chưa được kích hoạt.

Hai là, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đặc biệt là danh mục phân loại xanh còn thiếu và chưa đồng bộ. Khoảng trống này khiến doanh nghiệp khó chứng minh “tính xanh” của sản phẩm, tổ chức tư vấn e ngại khi thẩm định, đồng thời phát sinh vướng mắc về an toàn phòng cháy, chữa cháy đối với một số vật liệu mới.

Ba là, rào cản chi phí và vốn còn rất lớn. Giá thành vật liệu xanh thường cao hơn 10 – 30% so với vật liệu truyền thống cùng loại, trong khi khả năng tiếp cận tín dụng xanh còn hạn chế. Tín dụng cho lĩnh vực xây dựng xanh chỉ chiếm khoảng 3% tổng dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống, và khoảng 55% doanh nghiệp được khảo sát cho biết thiếu vốn, khó tiếp cận nguồn tín dụng này (Báo Sài Gòn Giải Phóng. năm 2026).

Việc phần lớn công nghệ phải nhập khẩu càng làm ngưỡng đầu tư ban đầu trở nên khó vượt, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bốn là, phía cầu của thị trường còn yếu. Tâm lý tiêu dùng vẫn nghiêng về vật liệu truyền thống, chủ đầu tư thường tính toán theo lợi nhuận ngắn hạn thay vì chi phí vòng đời; lực lượng thi công cũng còn hạn chế về kỹ năng đối với vật liệu mới.

Nhìn tổng thể, các bất cập này đều có gốc rễ ở thể chế chưa hoàn thiện, khâu thực thi yếu và nguồn lực hỗ trợ mỏng. Đây đồng thời cũng chính là những vấn đề mà Nghị quyết số 68-NQ/TW nhận diện đối với toàn khu vực kinh tế tư nhân. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách cần được đặt trong khung tổng thể của Nghị quyết, thay vì xử lý riêng lẻ từng điểm nghẽn.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, đổi mới tư duy và tạo lập “cầu” dẫn dắt từ khu vực công.

Điểm khởi đầu của mọi thay đổi, theo tinh thần nhóm giải pháp đầu tiên của Nghị quyết, là nhận thức. Cần dứt khoát nhìn nhận vật liệu xây dựng xanh không phải là khoản chi phí tăng thêm mà là điều kiện cạnh tranh trong trung và dài hạn, nhất là khi các thị trường xuất khẩu lớn áp dụng cơ chế điều chỉnh các-bon. Song song với truyền thông, Nhà nước cần chủ động tạo “cầu” thay vì chỉ kêu gọi quy định tỷ lệ tối thiểu bắt buộc sử dụng vật liệu xây dựng xanh, vật liệu tái chế trong các công trình sử dụng vốn đầu tư công. Mua sắm công xanh, nếu được luật hóa với lộ trình rõ ràng, sẽ tạo ra một thị trường “mồi” đủ lớn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, khắc phục đúng điểm yếu “chính sách dừng ở mức vận động” hiện nay.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn – quy chuẩn và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.

Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế của Nghị quyết có ý nghĩa nền tảng đối với ngành. Ưu tiên trước hết là ban hành danh mục phân loại xanh cùng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và nhãn sinh thái cho vật liệu xây dựng. Đây là cơ sở để phân định sản phẩm xanh với sản phẩm thông thường và làm căn cứ cho ưu đãi cũng như cho hoạt động thẩm định, chứng nhận. Đồng thời, cần rà soát, tháo gỡ vướng mắc về an toàn phòng cháy, chữa cháy đối với vật liệu nhẹ, vật liệu mới nhằm loại bỏ rủi ro pháp lý cho nhà đầu tư. Ở bình diện rộng hơn, việc bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng như tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết, đòi hỏi xóa bỏ những ưu thế không chính đáng, để doanh nghiệp xanh dù quy mô nhỏ vẫn được cạnh tranh sòng phẳng với vật liệu truyền thống.

Thứ ba, khơi thông tiếp cận vốn, tín dụng xanh, đất đai và công nghệ.

Bài toán vốn và công nghệ cần được giải bằng chính các công cụ đã được thể chế hóa tại Nghị quyết số 198/2025/QH15. Cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho vay thực hiện dự án xanh, dự án tuần hoàn cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho các dự án sản xuất vật liệu xây dựng xanh, kèm tiêu chí minh bạch và thủ tục đơn giản (Quốc hội. 2025). Bên cạnh đó là chính sách miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với dây chuyền, thiết bị công nghệ xanh trong nước chưa sản xuất được; ưu đãi tiền thuê đất trong khu, cụm công nghiệp cho cơ sở sản xuất vật liệu tái chế. Về phía hệ thống tín dụng, cần phát triển các sản phẩm tín dụng xanh trung và dài hạn phù hợp với đặc thù đầu tư dài hạn của ngành, thay vì để tỷ trọng vốn chảy vào xây dựng xanh dừng ở mức rất thấp như hiện nay.

Thứ tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ và kinh tế tuần hoàn.

Theo định hướng về khoa học công nghệ và chuyển đổi xanh, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp trong nghiên cứu – phát triển, chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ sản xuất phát thải thấp, thay cho tình trạng phụ thuộc nhập khẩu. Đặc biệt, cần chính sách khuyến khích mạnh việc sử dụng tro, xỉ, thạch cao và phế thải công nghiệp làm nguyên liệu. Điều này vừa giảm áp lực chôn lấp chất thải, vừa hạ giá thành, đúng theo mô hình kinh tế tuần hoàn mà Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đã hướng tới (Thủ tướng. 2021). Các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo có thể được sử dụng để chia sẻ rủi ro cho những doanh nghiệp tiên phong, qua đó rút ngắn khoảng cách công nghệ với khu vực.

Thứ năm, phát triển thị trường và liên kết doanh nghiệp.

Một thị trường vận hành tốt cần thông tin và sự kết nối. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu, “thư viện” vật liệu xây dựng xanh quốc gia nhằm công khai thông số kỹ thuật, chứng nhận và nhà cung cấp sẽ giảm chi phí tìm kiếm cho chủ đầu tư và tư vấn thiết kế. Cùng với đó, cần thúc đẩy liên kết theo chuỗi giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau, với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để chuyển giao công nghệ và ổn định đầu ra. Truyền thông làm thay đổi hành vi tiêu dùng, hướng chủ đầu tư và người dân tính toán theo chi phí vòng đời thay vì giá mua ban đầu, cũng là cấu phần không thể thiếu của chính sách phát triển thị trường.

Thứ sáu, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trong ngành.

Cuối cùng, do phần lớn cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, chính sách sẽ khó đạt hiệu quả nếu bỏ quên nhóm chủ thể này. Các hình thức hỗ trợ về vốn, công nghệ, đào tạo nhân lực và tư vấn áp dụng tiêu chuẩn cần được thiết kế riêng, đơn giản về thủ tục để nhóm này tiếp cận được. Việc giảm chi phí tuân thủ, cùng các ưu đãi thuế dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh theo Nghị quyết số 198/2025/QH15, sẽ tạo điều kiện để quá trình “xanh hóa” diễn ra cả ở quy mô nhỏ – nơi tập trung phần lớn năng lực sản xuất nhưng cũng là nơi công nghệ còn lạc hậu nhất.

5. Kết luận

Phát triển ngành vật liệu xây dựng xanh là yêu cầu vừa cấp bách về môi trường, vừa mang tính chiến lược về kinh tế. Do khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò sản xuất chủ đạo, thành bại của quá trình này phụ thuộc vào việc chính sách có tháo gỡ được các rào cản về thể chế, vốn, công nghệ và thị trường cho doanh nghiệp hay không. Nghị quyết số 68-NQ/TW, cùng Nghị quyết số 198/2025/QH15, đã cung cấp một khung định hướng và những công cụ chính sách cụ thể để làm việc đó. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện để chuyển hóa tinh thần của Nghị quyết thành các quy định có chế tài, có nguồn lực và có địa chỉ trách nhiệm rõ ràng, thay vì dừng lại ở những lời kêu gọi. Đó cũng là điều kiện để ngành vật liệu xây dựng xanh trở thành một minh chứng cụ thể cho vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong tiến trình phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:
Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2026). Vốn tín dụng dành cho xây dựng “xanh” vẫn còn khiêm tốn. https://www.sggp.org.vn/von-tin-dung-danh-cho-xay-dung-xanh-van-con-khiem-ton-post862611.html, ngày 16/7/2026.
Báo Xây dựng. (2025). Tháo gỡ rào cản phát triển vật liệu xây dựng xanh. https://baoxaydung.vn/thao-go-rao-can-phat-trien-vat-lieu-xay-dung-xanh-192260508223953383.htm, ngày 08/5/2026.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Nguyễn Thị Huyền (2025). Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/09/vai-tro-cua-kinh-te-tu-nhan-trong-nen-kinh-te-viet-nam-hien-nay/, ngày 09/12/2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, định hướng đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2171/QĐ-TTg ngày 23/12/2021 phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung tại Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 – 2030.
Vương quốc Anh. (2021). Việt Nam đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26). Glasgow, Vương quốc Anh, tháng 11/2021.
Vietstock. (2026). Ngành xi măng khó giảm phát thải nhất, vật liệu xanh panel mắc kẹt rào cản tâm lý. https://vietstock.vn/2026/05/nganh-xi-mang-kho-giam-phat-thai-nhat-vat-lieu-xanh-panel-mac-ket-rao-can-tam-ly-768-1442901.htm.