Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước

Enhancing the role of trade unions in state administration

ThS. Trương Anh Tuấn
Liên đoàn Lao động TP. Hồ Chí Minh
Email: tuequangthuongchieu@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội là chức năng cơ bản của tổ chức công đoàn, thể hiện vị trí đặc biệt của Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị. Thời gian qua, các cấp công đoàn ngày càng phát huy tốt vai trò tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, giám sát, phản biện xã hội, thực hiện dân chủ ở cơ sở, tham gia quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, quá trình này còn những bất cập, đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ để công đoàn thực sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động và là đối tác trách nhiệm của Nhà nước.

Từ khóa: Công đoàn; quản lý nhà nước; quản lý kinh tế – xã hội; giám sát, phản biện xã hội; người lao động.

Abstract: Participation in state administration and socio-economic governance is one of the fundamental functions of trade unions, reflecting the unique position of the Vietnam Trade Union within the country’s political system. In recent years, trade unions at all levels have increasingly strengthened their role in contributing to the formulation of policies and laws, conducting supervision and social criticism, promoting grassroots democracy, and participating in the management of social insurance, health insurance, and occupational safety and hygiene. However, this process still faces a number of shortcomings, requiring comprehensive and coordinated solutions to ensure that trade unions truly serve as a reliable support for workers and a responsible partner of the State.

Keywords: Trade unions; state administration; socio-economic governance; supervision, social criticism; workers.

1. Đặt vấn đề

Ngay từ khi ra đời (năm 1929), Công đoàn Việt Nam luôn được Đảng xác định là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân, người lao động. Vai trò của công đoàn trong tham gia quản lý nhà nước được Đảng khẳng định từ sớm: Báo cáo tại Đại hội III (tháng 9/1960) xác định phải làm cho công đoàn “thật sự trở thành trường học quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, trường học của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Sự tham gia quản lý nhà nước của công đoàn phù hợp với xu hướng quản trị quốc gia trong giai đoạn mới, khi Nhà nước khuyến khích người dân, các tổ chức chính trị – xã hội và doanh nghiệp cùng tham gia quản lý xã hội. Thuật ngữ “quản trị quốc gia” trong Văn kiện Đại hội XIII phản ánh chuyển biến lớn về nhận thức của Đảng: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là quản lý phát triển và quản lý xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.88).

Bối cảnh hiện nay đặt ra cả cơ hội và thách thức: Luật Công đoàn năm 2024 (có hiệu lực từ 01/7/2025) với nhiều quy định mới; Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục khẳng định địa vị hiến định của Công đoàn Việt Nam; hệ thống công đoàn được sắp xếp tinh gọn, trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đại hội XIV của Đảng (tháng 6/2026) mở ra nhiệm kỳ 2026 – 2031 với khâu đột phá mới; hội nhập quốc tế sâu rộng với các công ước của ILO cho phép ra đời tổ chức của người lao động ngoài hệ thống Công đoàn Việt Nam.

2. Cơ sở chính trị, pháp lý về vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước

Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh toàn diện, là cơ sở chính trị – xã hội vững chắc của Đảng, Nhà nước, làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân, người lao động. Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội tạo cơ sở chính trị để công đoàn thực hiện quyền giám sát, phản biện – phương thức tham gia quản lý nhà nước đặc thù của các tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 10 Hiến pháp năm 2013, quy định Công đoàn Việt Nam đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động. Như vậy, tham gia quản lý nhà nước là chức năng hiến định của công đoàn, không phải quyền năng do cơ quan nhà nước “ủy nhiệm” hay “ban phát”, mà là địa vị pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.

Ngày 16/6/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, trong đó Điều 10 tiếp tục khẳng định Công đoàn Việt Nam trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, “là đại diện của người lao động ở cấp quốc gia trong quan hệ lao động và quan hệ quốc tế về lao động”.

Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Công đoàn năm 2024 dành Điều 12 quy định công đoàn tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; tham gia xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Từ cơ sở nêu trên, nội dung tham gia quản lý nhà nước của công đoàn có thể được nhìn nhận trên các phương diện chủ yếu sau: (1) Tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn; (2) Giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp; (3) Tham gia xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức đối thoại; (4) Tham gia quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp lao động; (5) Tham gia các hội đồng, ban chỉ đạo liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động và tuyên truyền, vận động người lao động thực hiện chính sách, pháp luật.

3. Thực trạng phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước

3.1. Một số kết quả tích cực

Một là, tích cực tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn.

Giai đoạn 2023 – 2025, các cấp công đoàn đã tham gia có trách nhiệm vào xây dựng nhiều đạo luật liên quan trực tiếp đến người lao động, như: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Việc làm năm 2025, đặc biệt là Luật Công đoàn năm 2024 và Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2025. Là thành viên Hội đồng Tiền lương quốc gia, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã chủ động thương lượng điều chỉnh lương tối thiểu vùng: trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng, Chính phủ ban hành Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 tăng bình quân 7,2% từ ngày 01/01/2026.

Hai là, hoạt động giám sát, phản biện xã hội của công đoàn ngày càng thực chất, hiệu quả.

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Luật Công đoàn năm 2024, các cấp công đoàn đã chủ trì, phối hợp tổ chức hàng nghìn cuộc giám sát mỗi năm về thực hiện chính sách, pháp luật lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động. Qua giám sát, công đoàn kịp thời kiến nghị xử lý tình trạng nợ lương, trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm hợp đồng lao động. Báo cáo tại Đại hội XIV của Công đoàn Việt Nam đánh giá giai đoạn 2023 – 2025 có 8/10 nhóm chỉ tiêu nhiệm kỳ đạt và vượt (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2024).

Ba là, tham gia xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thúc đẩy đối thoại, thương lượng tập thể.

Các cấp công đoàn đã phối hợp với chính quyền, chuyên môn đồng cấp và người sử dụng lao động tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, hội nghị người lao động, đối thoại định kỳ và đột xuất theo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và Bộ luật Lao động năm 2019. Chất lượng thỏa ước lao động tập thể không ngừng nâng lên: đến cuối năm 2023, cả nước ký kết 42.550 bản thỏa ước, đạt 72,12% số doanh nghiệp đã thành lập công đoàn cơ sở (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2024). Nghị quyết Đại hội XIV của Công đoàn Việt Nam đã đặt chỉ tiêu đến hết nhiệm kỳ 2026 – 2031 có ít nhất 87% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn được thỏa ước bao phủ và 85% tổ chức đối thoại tại nơi làm việc, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ (Công đoàn Việt Nam, 2026).

Bốn là, tham gia quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp lao động.

Công đoàn thường xuyên phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội, lao động – thương binh và xã hội (nay là ngành Nội vụ) trong tuyên truyền, giám sát thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống tư vấn pháp luật của công đoàn đã hỗ trợ pháp lý miễn phí cho hàng trăm nghìn lượt người lao động, hỗ trợ khởi kiện đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội; tham gia các hội đồng trọng tài lao động, góp phần giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp, giữ vững an ninh, trật tự tại địa bàn đông công nhân.

Năm là, chủ động tham mưu, phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội và các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.

Hằng năm, hàng triệu lượt đoàn viên, người lao động khó khăn được chăm lo qua các chương trình “Tết Sum vầy”, “Mái ấm Công đoàn”, “Phúc lợi đoàn viên”, “Chuyến tàu Công đoàn”. Các phong trào thi đua lan tỏa sâu rộng: giai đoạn 2023 – 2025, đoàn viên, người lao động cả nước có hơn 383.837 sáng kiến được ứng dụng với tổng giá trị làm lợi hơn 40 nghìn tỷ đồng; các cấp công đoàn tích cực triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Sáu là, tổ chức bộ máy công đoàn từng bước được củng cố, đổi mới, tạo nền tảng nâng cao hiệu quả tham gia quản lý nhà nước.

Giai đoạn 2023 – 2025, cả nước phát triển mới trên 2,2 triệu đoàn viên, thành lập trên 15.000 công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn cơ sở (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2026). Thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết số 60-NQ/TW (khóa XIII) và Kết luận số 157-KL/TW ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị, Công đoàn Việt Nam đã về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kết thúc hoạt động của công đoàn viên chức, công đoàn lực lượng vũ trang; từ ngày 01/7/2025 không còn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở. Sau sắp xếp, cả nước có 9,95 triệu đoàn viên; chỉ trong 9 tháng đầu năm 2025 vẫn kết nạp hơn 609.000 đoàn viên mới, giới thiệu 35.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng (Phương Mai, 2025). Đại hội XIV của Công đoàn Việt Nam đề ra chỉ tiêu nhiệm kỳ 2026 – 2031: tăng thực ít nhất 3 triệu đoàn viên; ít nhất 90% doanh nghiệp từ 20 lao động trở lên có tổ chức công đoàn; số hóa 100% dữ liệu đoàn viên (Công đoàn Việt Nam, 2026).

3.2. Một số bất cập, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả tích cực, việc phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước vẫn còn một số bất cập, hạn chế:

(1) Chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật ở một số cấp, lĩnh vực chưa cao, có nơi còn hình thức. Việc góp ý chủ yếu ở cấp Tổng Liên đoàn và liên đoàn lao động cấp tỉnh, trong khi công đoàn cơ sở tham gia còn hạn chế; năng lực dự báo, phát hiện vấn đề chính sách từ thực tiễn chưa theo kịp yêu cầu.

(2) Hoạt động giám sát, phản biện xã hội chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp, chưa có nhiều cuộc giám sát đối với cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực liên quan đến người lao động; việc đôn đốc thực hiện kiến nghị sau giám sát chưa thường xuyên, chế tài còn thiếu, làm giảm hiệu lực thực tế.

(3) Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, đối thoại, thương lượng tập thể ở một bộ phận doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hình thức. Tỷ lệ ký kết thỏa ước tăng nhưng chất lượng nhiều bản chưa cao, nội dung có lợi hơn cho người lao động còn ít; vi phạm pháp luật về lao động, bảo hiểm xã hội vẫn còn xảy ra.

(4) Đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên trách còn mỏng so với số lượng đoàn viên và tốc độ phát triển doanh nghiệp, nhất là sau tinh gọn bộ máy; phần lớn cán bộ công đoàn cơ sở kiêm nhiệm, hưởng lương từ người sử dụng lao động nên vị thế độc lập còn hạn chế; kỹ năng đối thoại, thương lượng của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

(5) Quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính và kết thúc hoạt động của một số loại hình công đoàn đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình lớn, trong khi thể chế cụ thể hóa địa vị mới của công đoàn trực thuộc Mặt trận Tổ quốc đang hoàn thiện. Công đoàn Việt Nam đã chỉ rõ trong Nghị quyết Đại hội, việc phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở chưa đạt chỉ tiêu; vận hành bộ máy sau sắp xếp còn bất cập; chuyển đổi số chưa đạt yêu cầu (Công đoàn Việt Nam, 2026). Cùng với đó, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ngoài hệ thống Công đoàn Việt Nam theo Bộ luật Lao động năm 2019 tạo áp lực cạnh tranh về vai trò đại diện.

Những hạn chế trên có nguyên nhân khách quan từ khối lượng công việc lớn, địa bàn rộng, số doanh nghiệp và người lao động tăng nhanh, nguồn lực có hạn. Tuy nhiên, chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, người sử dụng lao động và cán bộ công đoàn về vai trò tham gia quản lý nhà nước chưa đầy đủ. Phương thức hoạt động ở một số nơi chậm đổi mới.

4. Một số giải pháp phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về vai trò tham gia quản lý nhà nước của công đoàn.

Khẩn trương thể chế hóa quy định mới của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về địa vị của Công đoàn Việt Nam trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò “đại diện của người lao động ở cấp quốc gia”; tổ chức thi hành hiệu quả Luật Công đoàn năm 2024; cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV thành chương trình hành động của Công đoàn các cấp.

Thứ hai, nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.

Chủ động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn quan hệ lao động, đời sống, việc làm để đề xuất vấn đề chính sách từ sớm, từ xa; nâng cao chất lượng góp ý, phản biện đối với các dự thảo văn bản, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội liên quan đến người lao động. Phát huy vai trò của công đoàn trong Hội đồng Tiền lương quốc gia và các hội đồng, ban chỉ đạo; coi trọng lấy ý kiến rộng rãi đoàn viên, người lao động và huy động chuyên gia, nhà khoa học để tiếng nói người lao động được chuyển tải vào quyết định của Nhà nước.

Thứ ba, đổi mới hoạt động giám sát, phản biện xã hội.

Mở rộng phạm vi giám sát không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả cơ quan quản lý nhà nước trong thi hành chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động, nhà ở xã hội cho công nhân. Lựa chọn nội dung giám sát trọng tâm, xuất phát từ vấn đề bức xúc của người lao động; tăng cường hậu giám sát, công khai kết quả; kiến nghị hoàn thiện chế tài xử lý các trường hợp không thực hiện kiến nghị giám sát; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc, thanh tra, kiểm tra nhà nước.

Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu tình hình mới.

Thực hiện nghiêm chủ trương sắp xếp tổ chức công đoàn theo Nghị quyết số 60-NQ/TW và Kết luận số 157-KL/TW của Bộ Chính trị, bảo đảm tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, tập trung cho khu vực doanh nghiệp. Làm tốt quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, am hiểu pháp luật, có kỹ năng đối thoại, thương lượng, giám sát, phản biện; nghiên cứu cơ chế bảo vệ và chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ công đoàn.

Thứ năm, đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở, đối thoại, thương lượng tập thể, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

Triển khai hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022. Nâng cao chất lượng hội nghị người lao động, đối thoại tại nơi làm việc; tăng cả số lượng và chất lượng thỏa ước lao động tập thể, mở rộng thương lượng theo nhóm doanh nghiệp, theo ngành. Phát huy vai trò của công đoàn trong dự báo, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động, ngừng việc tập thể, không để phát sinh điểm nóng về quan hệ lao động, an ninh, trật tự.

Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn.

Quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, phấn đấu số hóa 100% dữ liệu đoàn viên; xây dựng cơ sở dữ liệu về đoàn viên, người lao động, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội; ứng dụng công nghệ số trong tuyên truyền, tư vấn pháp luật, tiếp nhận, xử lý kiến nghị của người lao động.

5. Kết luận

Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động quản lý nhà nước vừa là yêu cầu hiến định, vừa là đòi hỏi khách quan của quá trình đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh mới, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, đổi mới giám sát, phản biện xã hội, kiện toàn tổ chức, cán bộ và đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ góp phần để công đoàn thực sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động và là đối tác trách nhiệm của Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2021). Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 157-KL/TW ngày 25/5/2025 về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
Chính phủ (2025). Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Công đoàn Việt Nam (05/6/2026). Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV. https://congdoanvietnam.vn/dai-hoi-cdvn/nghi-quyet-dai-hoi-cong-doan-viet-nam-lan-thu-xiv-36440.tld
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Phương Mai (21/10/2025). 9 tháng đầu năm 2025 công đoàn kết nạp hơn 600 nghìn đoàn viên mới. Tạp chí Lao động Đoàn thể. https://laodongdoanthe.vn/9-thang-dau-nam-2025-cong-doan-ket-nap-hon-600-nghin-doan-vien-moi-113680.html.
Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2024). Luật Công đoàn số 50/2024/QH15 ngày 27/11/2024.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2024). Văn kiện Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam. Nxb Lao động.