The impact of digital transformation on competency requirements for the science and technology human resources in Vietnam
ThS. Đào Xuân Lộc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: daoxuanloc.kt@gmail.com
ThS. Nguyễn Hải Yến
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng cấu trúc lại nền kinh tế, quản trị công và hệ thống đổi mới sáng tạo ở Việt Nam, từ đó, làm thay đổi sâu sắc yêu cầu năng lực đối với nhân lực khoa học, công nghệ. Bài viết làm rõ cơ sở lý thuyết về năng lực nhân lực khoa học, công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số, phân tích những tác động chủ yếu của chuyển đổi số đến yêu cầu năng lực của đội ngũ này, từ đó, đề xuất một số khuyến nghị về hoàn thiện khung năng lực, đổi mới đào tạo, tăng đầu tư R&D, gắn kết viện – trường – doanh nghiệp và nâng cao năng lực thể chế để phát triển nhân lực khoa học, công nghệ thích ứng với chuyển đổi số ở Việt Nam.
Từ khóa: Chuyển đổi số; nhân lực khoa học, công nghệ; năng lực số; đổi mới sáng tạo.
Abstract: Digital transformation has emerged as one of the key driving forces in restructuring the economy, public governance, and the national innovation system in Vietnam. This process has profoundly altered the competency requirements for scientific and technological human resources. This article clarifies the theoretical foundations of the competencies required of scientific and technological human resources in the context of digital transformation; analyzes the main impacts of digital transformation on the competency requirements for this workforce; and, on that basis, proposes several recommendations for improving the competency framework, innovating training programs, increasing R&D investment, strengthening linkages among research institutes, universities, and enterprises, and enhancing institutional capacity to develop scientific and technological human resources to adapt to digital transformation in Vietnam.
Keywords: Digital transformation; scientific and technological human resources; digital competencies; innovation.
1. Đặt vấn đề
Trong hơn một thập niên gần đây, chuyển đổi số không còn được hiểu đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hay số hóa quy trình tác nghiệp mà đã trở thành quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình tổ chức, chuỗi giá trị, phương thức tạo ra tri thức và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong nền kinh tế – xã hội. Đối với Việt Nam, chuyển đổi số càng có ý nghĩa chiến lược khi đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, vốn được xem là nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị quốc gia.
Trong tiến trình đó, nhân lực khoa học, công nghệ giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là lực lượng trực tiếp sáng tạo tri thức mới, làm chủ công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và dẫn dắt quá trình đổi mới sáng tạo trong các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và các khu vực sản xuất – dịch vụ (Vietnam News, 08/5/2025). Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ này đang thay đổi nhanh chóng. Nếu trước đây, tiêu chuẩn đối với nhân lực khoa học, công nghệ chủ yếu xoay quanh trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu và khả năng ứng dụng thành tựu khoa học vào thực tiễn thì trong bối cảnh chuyển đổi số, các yêu cầu mới, như: năng lực dữ liệu, năng lực số, năng lực hợp tác trên nền tảng số, năng lực đổi mới sáng tạo mở và năng lực học tập suốt đời ngày càng trở thành thành phần cốt lõi của năng lực nghề nghiệp.
Tính cấp thiết của vấn đề càng rõ hơn khi nhìn từ thực tiễn phát triển kinh tế số ở Việt Nam. Trong vài năm trở lại đây, quy mô đóng góp trong nền kinh tế của thương mại điện tử, du lịch trực tuyến và các dịch vụ số tiếp tục tăng trưởng mạnh. Sự mở rộng nhanh chóng của các lĩnh vực này kéo theo nhu cầu lớn đối với nhân lực có khả năng nghiên cứu, thiết kế, vận hành và cải tiến các nền tảng số, các hệ thống dữ liệu và các công nghệ thông minh. Trong khi đó, phần lớn nghề nghiệp tại Việt Nam đã bắt đầu yêu cầu kỹ năng số chuyên sâu, như: khoa học dữ liệu, phân tích nâng cao hay thiết kế hệ thống số vẫn chỉ tập trung ở một nhóm nghề hẹp hơn, phản ánh sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các phân khúc công nghệ lõi (World Bank, 26/3/2025).
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
2.1. Chuyển đổi số và nhân lực khoa học, công nghệ
Chuyển đổi số có thể được hiểu là quá trình tổ chức lại hoạt động kinh tế – xã hội dựa trên việc tích hợp sâu các công nghệ số, như: dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật, phân tích thời gian thực và các nền tảng số vào toàn bộ chuỗi giá trị của tổ chức (World Bank, 30/7/2021). Khác với tin học hóa hoặc số hóa đơn lẻ, chuyển đổi số tác động tới mô hình kinh doanh, cách thức ra quyết định, phương thức quản trị tri thức và quan hệ tương tác giữa con người với công nghệ. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi hạ tầng nghiên cứu mà còn làm thay đổi cách thiết kế đề tài, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, hình thức công bố, chia sẻ tri thức và mô hình hợp tác nghiên cứu.
Nhân lực khoa học, công nghệ là bộ phận lao động có trình độ chuyên môn tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, quản trị hệ thống nghiên cứu và ứng dụng kết quả khoa học, công nghệ vào thực tiễn. Theo tiếp cận rộng, nhân lực khoa học, công nghệ không chỉ bao gồm nhà khoa học trong viện nghiên cứu và trường đại học mà còn gồm kỹ sư, chuyên gia công nghệ, cán bộ phát triển sản phẩm, nhân sự phân tích dữ liệu, cán bộ quản lý đổi mới sáng tạo và các lực lượng trung gian trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cách hiểu này phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, khi ranh giới giữa nghiên cứu, triển khai công nghệ, thử nghiệm sản phẩm và thương mại hóa tri thức ngày càng thu hẹp.
2.2. Tiếp cận năng lực trong nghiên cứu nguồn nhân lực
Trong nghiên cứu nguồn nhân lực, năng lực thường được hiểu là tổ hợp của kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị nghề nghiệp và những phẩm chất cá nhân cho phép một cá nhân hoàn thành công việc hiệu quả trong một bối cảnh cụ thể. Tiếp cận theo khung năng lực nhấn mạnh rằng, năng lực không phải là tập hợp tĩnh của bằng cấp hay chứng chỉ mà là khả năng huy động các nguồn lực cá nhân để giải quyết vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp. Khi bối cảnh lao động thay đổi nhanh bởi công nghệ số, nội hàm của năng lực nghề nghiệp cũng biến đổi theo, đòi hỏi người lao động phải liên tục cập nhật tri thức và tái cấu trúc bộ kỹ năng của mình.
Đối với nhân lực khoa học, công nghệ, khung năng lực truyền thống thường bao gồm: năng lực chuyên môn sâu, năng lực nghiên cứu, năng lực sử dụng phương pháp khoa học, tư duy phản biện và đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, trong môi trường số, những thành tố này cần được mở rộng để bao quát cả năng lực số, năng lực quản trị dữ liệu, năng lực hợp tác liên ngành, năng lực đổi mới sáng tạo mở, năng lực tham gia các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và năng lực thích ứng với thay đổi công nghệ. Vì vậy, nghiên cứu tác động của chuyển đổi số tới yêu cầu năng lực nhân lực khoa học, công nghệ cần được đặt trên cơ sở một khung phân tích tích hợp giữa lý thuyết năng lực nghề nghiệp và đặc trưng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo số.
2.3. Khung phân tích
Từ tổng quan lý thuyết và thực tiễn chính sách, bài viết sử dụng khung phân tích gồm năm nhóm năng lực cốt lõi của nhân lực khoa học, công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số. (1) Năng lực chuyên môn khoa học, công nghệ chuyên sâu, bao gồm: kiến thức lĩnh vực, phương pháp nghiên cứu và năng lực giải quyết vấn đề chuyên ngành. (2) Năng lực số và dữ liệu, bao gồm: sử dụng công cụ số, quản trị dữ liệu, phân tích dữ liệu, bảo mật và khả năng làm việc trên các nền tảng số. (3) Năng lực đổi mới sáng tạo và thương mại hóa, bao gồm: tư duy thiết kế, phát triển giải pháp, quản trị tài sản trí tuệ và kết nối với thị trường. (4) Năng lực hợp tác liên ngành và hội nhập quốc tế trong môi trường số. (5) Năng lực tự học, thích ứng và học tập suốt đời nhằm đáp ứng chu kỳ đổi mới công nghệ ngày càng rút ngắn.
Khung phân tích này cho phép nhận diện tác động của chuyển đổi số không làm mất đi vai trò của năng lực chuyên môn truyền thống nhưng làm thay đổi thứ bậc ưu tiên và yêu cầu tích hợp các nhóm năng lực mới. Nói cách khác, nhân lực khoa học, công nghệ hiện nay không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải giỏi làm việc trong môi trường số, hợp tác đổi mới và cập nhật liên tục.
3. Tác động của chuyển đổi số đối với nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam
(1) Chuyển đổi số trở thành động lực tái cấu trúc nền kinh tế.
Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của chuyển đổi số ở Việt Nam là sự tăng trưởng nhanh của kinh tế số. Theo các thông tin công bố năm 2024, quy mô kinh tế số Việt Nam được dự báo đạt 36 tỷ USD GMV, tăng khoảng 16% so với năm 2023. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục là lĩnh vực dẫn dắt với quy mô khoảng 22 tỷ USD, bên cạnh sự gia tăng của du lịch trực tuyến và dịch vụ gọi xe, giao đồ ăn. Dù các con số này chủ yếu phản ánh khu vực kinh tế số nhưng vẫn cho thấy xu hướng số hóa đang thâm nhập ngày càng sâu vào các hoạt động tiêu dùng, logistics, tài chính, giáo dục và dịch vụ công (Cổng thông tin điện tử Báo Chính phủ, 14/11/2024).
Sự phát triển của kinh tế số đặt ra yêu cầu rất cụ thể đối với hệ thống nhân lực khoa học, công nghệ. Các ngành nghề mới nổi, như: phân tích dữ liệu, kỹ sư AI, an toàn thông tin, thiết kế hệ thống số, điện toán đám mây, công nghệ bán dẫn và công nghệ sinh học số đang tạo ra nhu cầu nhân lực chất lượng cao chưa từng có. Điều này đồng nghĩa rằng, đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ không thể chỉ vận hành trong logic nghiên cứu hàn lâm truyền thống mà phải gắn với chuỗi đổi mới sáng tạo, các bài toán thị trường và tốc độ cập nhật công nghệ rất nhanh.
(2) Chính sách quốc gia tạo ra chuẩn năng lực mới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy chính sách khi đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào cùng một chỉnh thể chiến lược. Cách tiếp cận này hàm ý rằng, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới không chỉ được kỳ vọng làm tốt vai trò nghiên cứu mà còn phải trở thành lực lượng chủ công trong triển khai chuyển đổi số quốc gia và hình thành năng lực cạnh tranh mới của nền kinh tế.
Tiếp đó, Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 24/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến 2045 đã cụ thể hóa yêu cầu phát triển nhân lực bằng những chỉ tiêu rất rõ. Đến năm 2030, ít nhất 35% người học ở mỗi trình độ được định hướng theo học STEM; Việt Nam hướng tới 80.000 người tốt nghiệp ICT mỗi năm, trong đó 10% có trình độ kỹ sư, thạc sĩ hoặc tiến sĩ; số lượng tốt nghiệp AI đạt 8.000 người mỗi năm, trong đó 20% có trình độ sau đại học. Các chỉ tiêu này cho thấy, yêu cầu về năng lực nhân lực khoa học, công nghệ đang chuyển mạnh sang các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ số và nghiên cứu liên ngành (Hạ Chi, 26/5/2025).
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng nhấn mạnh ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho bán dẫn, AI và điện toán đám mây. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi tiêu chuẩn năng lực rất cao, không chỉ về chuyên môn kỹ thuật mà còn về toán học, mô hình hóa, dữ liệu, ngoại ngữ, làm việc nhóm xuyên biên giới và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, các quyết sách gần đây đã trực tiếp tái định nghĩa yêu cầu năng lực của nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Mặc dù đã có những bước tiến tích cực, tiềm lực R&D của Việt Nam vẫn còn những hạn chế. Dữ liệu World Bank cho thấy, Việt Nam có công bố theo dõi về chỉ số số nhà nghiên cứu trong R&D trên một triệu dân, song đây mới chỉ là một chỉ báo nền tảng phản ánh quy mô tương đối của đội ngũ nghiên cứu chứ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng năng lực số và năng lực đổi mới sáng tạo của lực lượng này. Đồng thời, dữ liệu World Bank về chi cho R&D trên GDP cho thấy, mức đầu tư của Việt Nam vẫn ở nhóm thấp, đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực khoa học, công nghệ và khả năng chuyển hóa đầu tư nghiên cứu thành sản phẩm, công nghệ và giá trị gia tăng (World Bank, 26/3/2025).
Về phương diện kỹ năng, báo cáo của World Bank về nhu cầu kỹ năng số tại Việt Nam cho thấy, khoảng 68% nghề nghiệp trong cơ sở dữ liệu khảo sát có đề cập tới kỹ năng số cơ bản, trong khi các kỹ năng số chuyên sâu như khoa học dữ liệu chỉ xuất hiện trong khoảng 20% nghề nghiệp. Đây là một phát hiện quan trọng cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn mà kỹ năng số nền tảng đã trở thành phổ biến, nhưng kỹ năng số chuyên sâu vẫn là điểm nghẽn đối với các lĩnh vực công nghệ cao (World Bank, 30/7/2021).
4. Thực trạng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ
Thứ nhất, có thể thấy, nhận thức chính sách về vai trò của nhân lực khoa học, công nghệ trong chuyển đổi số đã được nâng lên rõ rệt. Việc ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng với các chương trình phát triển nhân lực công nghệ cao cho thấy, Nhà nước đã chuyển từ tư duy phát triển nguồn nhân lực nói chung sang tư duy phát triển lực lượng nhân lực chiến lược cho công nghệ số và đổi mới sáng tạo. Đây là nền tảng quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ điều chỉnh chương trình đào tạo, phương thức tuyển dụng và chiến lược phát triển nhân lực.
Thứ hai, quy mô đào tạo trong các ngành công nghệ số và STEM đang được mở rộng mạnh. Các mục tiêu về 35% người học theo STEM, 80.000 tốt nghiệp ICT và 8.000 tốt nghiệp AI mỗi năm vào năm 2030 cho thấy, Việt Nam đang có bước dịch chuyển đáng kể trong cấu trúc đào tạo (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2025). Nếu được thực hiện hiệu quả, đây sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho lực lượng nhân lực khoa học, công nghệ trong những năm tới.
Thứ ba, quá trình số hóa ở nhiều lĩnh vực đang tạo môi trường thực hành, cọ xát và tích lũy kinh nghiệm cho đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ. Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, tài chính số, logistics thông minh, giáo dục số và dịch vụ công trực tuyến tạo ra nhiều bài toán thực tiễn để viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ và đào tạo nhân lực theo hướng ứng dụng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, có thể thấy, mức độ đáp ứng thực tế của đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ vẫn còn nhiều hạn chế.
Một là, sự thiếu hụt nhân lực có kỹ năng số chuyên sâu. Mặc dù kỹ năng số cơ bản đã trở nên phổ biến hơn trên thị trường lao động, các kỹ năng, như: khoa học dữ liệu, AI, an ninh mạng, kiến trúc hệ thống số và điện toán đám mây vẫn chưa được phổ cập tương xứng (World Bank, 30/7/2021). Với nhân lực khoa học, công nghệ, sự thiếu hụt này ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực làm chủ công nghệ lõi, khả năng nghiên cứu liên ngành và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hai là, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn còn khá lớn. Nhiều chương trình đào tạo vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, chậm cập nhật công nghệ mới, thiếu phòng thí nghiệm số, thiếu gắn kết với doanh nghiệp và thiếu môi trường phát triển năng lực đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ cao và các viện nghiên cứu hiện đại lại cần những nhân sự có thể làm việc ngay với dữ liệu, công cụ số, dự án liên ngành và bài toán thực tế.
Ba là, đầu tư cho R&D còn hạn chế, ảnh hưởng tới chất lượng môi trường làm việc và phát triển năng lực của nhân lực khoa học, công nghệ. Khi chi cho R&D còn thấp, việc đầu tư cho hạ tầng số nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phòng thí nghiệm hiện đại và cơ chế thử nghiệm công nghệ sẽ khó đáp ứng yêu cầu của các lĩnh vực công nghệ cao. Điều này có thể dẫn đến tình trạng nhân lực được đào tạo nhưng thiếu môi trường để phát huy năng lực và phát triển nghề nghiệp bền vững.
Bốn là, cơ chế sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao trong khu vực công và khu vực nghiên cứu công lập chưa thật sự cạnh tranh. Trong bối cảnh thị trường lao động công nghệ toàn cầu cạnh tranh mạnh, nếu thiếu cơ chế linh hoạt về tuyển dụng, thu hút chuyên gia, trả lương theo năng lực và hỗ trợ nghiên cứu, Việt Nam có thể gặp khó khăn trong việc giữ chân đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ ưu tú.
5. Yêu cầu đối với nguồn nhân lực khoa học, công nghệ
Một là, yêu cầu về năng lực số và năng lực dữ liệu.
Tác động rõ rệt nhất của chuyển đổi số là làm cho năng lực số trở thành thành tố cấu thành của năng lực nghề nghiệp cốt lõi. Trong môi trường nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hiện đại, hầu hết các công đoạn từ tìm kiếm tài liệu, thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu, mô phỏng, dự báo, công bố, chia sẻ tri thức đến hợp tác nghiên cứu đều gắn với nền tảng số. Vì vậy, nhân lực khoa học, công nghệ không thể chỉ có kiến thức chuyên ngành mà phải có khả năng sử dụng thành thạo các công cụ số, các phần mềm chuyên dụng, các kho dữ liệu mở, các công cụ trực quan hóa và các hạ tầng điện toán phục vụ nghiên cứu.
Năng lực dữ liệu trở thành yêu cầu nổi bật vì dữ liệu ngày càng là nguồn tài nguyên cốt lõi của hoạt động khoa học và đổi mới sáng tạo. Từ nghiên cứu xã hội, y sinh, môi trường tới tự động hóa và công nghệ vật liệu, khả năng thu thập, làm sạch, quản trị, phân tích và diễn giải dữ liệu quyết định ngày càng lớn tới chất lượng kết quả nghiên cứu. Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam phải chuyển từ năng lực xử lý thông tin theo kiểu truyền thống sang năng lực làm việc với dữ liệu lớn, dữ liệu thời gian thực và các công cụ phân tích tiên tiến.
Ngoài ra, chuyển đổi số cũng kéo theo yêu cầu về an toàn, an ninh dữ liệu và đạo đức số trong nghiên cứu. Nhân lực khoa học, công nghệ phải hiểu các nguyên tắc bảo mật dữ liệu, sở hữu trí tuệ, sử dụng AI có trách nhiệm và tuân thủ chuẩn mực đạo đức trong khai thác dữ liệu nghiên cứu. Đây là lớp năng lực mà trước đây chưa được chú trọng tương xứng trong đào tạo, bồi dưỡng truyền thống.
Hai là, yêu cầu về năng lực nghiên cứu liên ngành và tích hợp công nghệ.
Chuyển đổi số làm mờ dần ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học, công nghệ và ứng dụng. Nhiều hướng nghiên cứu mới, như: AI trong y tế, công nghệ sinh học tính toán, đô thị thông minh, nông nghiệp chính xác, giáo dục số hay vật liệu thông minh đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức chuyên ngành với toán học, khoa học dữ liệu, công nghệ phần mềm và kỹ thuật hệ thống. Vì vậy, nhân lực khoa học, công nghệ cần có năng lực làm việc liên ngành và năng lực tích hợp công nghệ, thay vì phát triển theo mô hình chuyên môn hóa hẹp tách biệt. Điều này dẫn tới sự thay đổi trong chuẩn năng lực của cả nhà nghiên cứu lẫn kỹ sư phát triển công nghệ. Một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ cần hiểu quy trình chuyên môn của ngành mà còn phải biết ứng dụng dữ liệu viễn thám, IoT, tự động hóa và phân tích dự báo. Tương tự, một nhà nghiên cứu y sinh hiện nay không thể tách rời khỏi kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu, AI hỗ trợ chẩn đoán hay quản trị dữ liệu bệnh án số. Vì vậy, chuyển đổi số làm gia tăng nhu cầu về khả năng kết nối tri thức liên ngành, giao tiếp chuyên môn với các nhóm ngành khác nhau và tham gia các nhóm nghiên cứu tích hợp.
Ba là, yêu cầu về năng lực đổi mới sáng tạo và thương mại hóa tri thức.
Một tác động quan trọng khác của chuyển đổi số là rút ngắn chu kỳ từ nghiên cứu đến ứng dụng và làm cho đổi mới sáng tạo diễn ra trong mô hình mở hơn, kết nối mạnh hơn với doanh nghiệp và thị trường. Trong môi trường này, nhân lực khoa học, công nghệ không chỉ được đánh giá bởi công bố khoa học hoặc kết quả nghiên cứu hàn lâm mà còn bởi khả năng phát hiện vấn đề thực tiễn, thiết kế giải pháp công nghệ, thử nghiệm nhanh, cải tiến liên tục và chuyển hóa tri thức thành sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị.
Do đó, yêu cầu năng lực đối với nhân lực khoa học, công nghệ hiện nay bao gồm cả tư duy thiết kế, tư duy hệ thống, kỹ năng quản trị dự án đổi mới sáng tạo, hiểu biết về sở hữu trí tuệ, mô hình kinh doanh công nghệ và nhu cầu của thị trường. Đây là sự thay đổi rất đáng chú ý so với cách tiếp cận truyền thống vốn tách biệt tương đối giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất – kinh doanh. Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và công nghệ cao, năng lực thương mại hóa tri thức của nhân lực khoa học, công nghệ sẽ ngày càng trở nên quan trọng.
Bốn là, yêu cầu về năng lực thích ứng, tự học và học tập suốt đời.
Một đặc trưng của chuyển đổi số là tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh. Công nghệ, công cụ, nền tảng, chuẩn dữ liệu và quy trình nghiên cứu có thể thay đổi chỉ trong vài năm, thậm chí vài tháng ở một số lĩnh vực, như: AI tạo sinh, phân tích dữ liệu hay điện toán đám mây. Vì vậy, nhân lực khoa học, công nghệ không thể dựa lâu dài vào tri thức tích lũy từ đào tạo ban đầu mà phải có năng lực tự học, tự cập nhật và tái đào tạo liên tục.
Báo cáo của World Bank chỉ ra rằng, kỹ năng số có tác động dương tới thu nhập và hiệu quả nghề nghiệp; đồng thời, có tính bổ trợ mạnh với kỹ năng tự tổ chức công việc. Nhận định này đặc biệt quan trọng đối với nhân lực khoa học, công nghệ, bởi hiệu quả của lao động nghiên cứu và sáng tạo phụ thuộc rất lớn vào khả năng tự quản trị, tự định hướng học tập và tự thích ứng với môi trường tri thức đang biến đổi nhanh. Nói cách khác, trong bối cảnh chuyển đổi số, học tập suốt đời không còn là năng lực phụ mà trở thành điều kiện tồn tại nghề nghiệp của nhân lực khoa học, công nghệ.
Năm là, yêu cầu về năng lực hợp tác số và hội nhập quốc tế.
Chuyển đổi số tạo điều kiện để hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo diễn ra trên các mạng lưới mở, vượt qua ranh giới địa lý. Các nhóm nghiên cứu ngày càng sử dụng nền tảng số để chia sẻ dữ liệu, phối hợp xử lý, đồng tác giả công bố, tham gia hội thảo trực tuyến và kết nối với mạng lưới chuyên gia toàn cầu. Điều này làm gia tăng yêu cầu về ngoại ngữ, giao tiếp học thuật, quản trị hợp tác trực tuyến và khả năng làm việc trong các môi trường đa văn hóa đối với nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam.
Trong các lĩnh vực công nghệ cao, như: AI, bán dẫn, công nghệ sinh học hoặc điện toán đám mây, năng lực hội nhập quốc tế càng có ý nghĩa quyết định vì phần lớn tri thức tiên tiến, chuẩn công nghệ và mạng lưới đầu tư đều vận hành ở quy mô toàn cầu. Do vậy, nhân lực khoa học, công nghệ cần được chuẩn bị không chỉ để phục vụ thị trường nội địa mà còn để tham gia chuỗi giá trị tri thức và công nghệ quốc tế.
6. Một số hàm ý chính sách
Một là, hoàn thiện khung năng lực cho nhân lực khoa học, công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số. Cần xây dựng và chuẩn hóa khung năng lực dành riêng cho nhân lực khoa học, công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung năng lực này cần tích hợp cả năm nhóm năng lực: chuyên môn khoa học, công nghệ; năng lực số và dữ liệu; năng lực đổi mới sáng tạo và thương mại hóa; năng lực hợp tác liên ngành và hội nhập quốc tế; năng lực tự học và thích ứng. Việc chuẩn hóa khung năng lực sẽ giúp định hướng rõ hơn cho xây dựng chương trình đào tạo, tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm và phát triển nghề nghiệp của đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ đào tạo, bồi dưỡng. Các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu cần chuyển từ mô hình đào tạo nặng về lý thuyết sang mô hình đào tạo dựa trên năng lực, dựa trên dự án và dựa trên hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chương trình đào tạo cần tăng tỷ trọng học phần về dữ liệu, AI, an ninh mạng, công cụ số chuyên ngành, đạo đức số, sở hữu trí tuệ và khởi nghiệp công nghệ. Đồng thời, cần thiết kế các chương trình đào tạo lại và bồi dưỡng ngắn hạn cho đội ngũ đang làm việc nhằm cập nhật nhanh các công nghệ mới.
Ba là, tăng đầu tư cho R&D và hạ tầng số nghiên cứu. Để nâng cao chất lượng nhân lực khoa học, công nghệ không thể chỉ tập trung vào đào tạo mà phải đồng thời nâng cấp môi trường làm việc. Điều này đòi hỏi tăng đầu tư cho R&D, đặc biệt là đầu tư cho dữ liệu nghiên cứu, phòng thí nghiệm số, hạ tầng điện toán, hệ thống mô phỏng và các nền tảng hợp tác số. Môi trường nghiên cứu hiện đại không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của đội ngũ hiện có mà còn là điều kiện để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Bốn là, tăng cường liên kết viện – trường – doanh nghiệp. Chuyển đổi số đòi hỏi nhân lực khoa học, công nghệ phải có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, nên liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần được xem là một trụ cột của chính sách nhân lực. Cần phát triển các mô hình phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm đổi mới sáng tạo, dự án đồng tài trợ và chương trình thực tập nghiên cứu trong doanh nghiệp để người học và nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp xúc với bài toán thực tế, dữ liệu thực và công nghệ thực.
Năm là, hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân tài. Trong cạnh tranh công nghệ toàn cầu, cơ chế nhân sự đóng vai trò quyết định đối với phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ. Vì vậy, cần có chính sách linh hoạt hơn trong tuyển dụng, trả lương theo năng lực, hỗ trợ nhóm nghiên cứu mạnh, khuyến khích công bố quốc tế, sáng chế và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cùng với đó là cơ chế thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và xây dựng các trung tâm trong các lĩnh vực chiến lược.
7. Kết luận
Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản yêu cầu năng lực của nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam. Nếu trước đây tiêu chuẩn chủ yếu đặt vào chuyên môn nghiên cứu thì hiện nay năng lực số, năng lực dữ liệu, năng lực liên ngành, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực thích ứng và năng lực hợp tác số đã trở thành những thành tố không thể thiếu của chuẩn nghề nghiệp. Những thay đổi này không chỉ xuất phát từ sự phát triển của công nghệ mà còn được thúc đẩy mạnh bởi yêu cầu phát triển kinh tế số, cạnh tranh công nghệ toàn cầu và định hướng chính sách mới của Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, phát triển nhân lực khoa học, công nghệ không thể chỉ dừng ở tăng quy mô đào tạo mà phải chuyển sang chiến lược nâng cao chất lượng và tái cấu trúc năng lực. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ từ hoàn thiện khung năng lực, đổi mới giáo dục và đào tạo, đầu tư cho R&D, tăng liên kết hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tới cải cách cơ chế sử dụng nhân lực. Chỉ khi xây dựng được đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ có năng lực số mạnh, có tư duy đổi mới và khả năng hội nhập quốc tế, Việt Nam mới có thể tận dụng đầy đủ cơ hội mà chuyển đổi số mang lại và biến khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Asian Development Bank. (2021). Reaping the benefits of Industry 4.0 through skills development in Vietnam. Asian Development Bank.
2. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông. (27/5/2025). Việt Nam approves plan to develop high-tech human resources. https://beta-en.mic.gov.vn/viet-nam-approves-plan-to-develop-high-tech-human-resources-197250528101837939.htm
4. Cổng thông tin điện tử Báo Chính phủ. (14/11/2024). Viet Nam’s digital economy to reach US$36 bln this year. https://en.baochinhphu.vn/viet-nams-digital-economy-to-reach-us36-bln-this-year-111241114085659185.htm
5. Hạ Chi (2025, May 26). Vietnam targets to have 100,000 ICT graduates annually in 2030-2035 period. https://en.vneconomy.vn/vietnam-targets-to-have-100-000-ict-graduates-annually-in-2030-2035-period.htm
6. Ministry of Science and Technology. (2024, December 26). PM orders measures to promote human resources training in semiconductor, AI, cloud computing. https://www.most.gov.vn/en/news/935/pm-orders-measures-to-promote-human-resources-training-in-semiconductor–ai–cloud-computing
7. Vietnam News. (2025, May 8). Viet Nam promotes human resources and R&D investment. https://vietnamnews.vn/economy/1717222/viet-nam-promotes-human-resources-and-r-d-investment.html
8. World Bank. (2021, July 30). Assessing the demand for digital skills in Vietnam. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099145203242227159/pdf/P170610055e87f070aec9045067a21aaf6.pdf
9. World Bank. (2025, March 26). Research and development expenditure (% of GDP) – Viet Nam. https://data.worldbank.org/indicator/GB.XPD.RSDV.GD.ZS?locations=VN
10. World Bank. (2025, March 26). Researchers in R&D (per million people) – Viet Nam. https://data.worldbank.org/indicator/SP.POP.SCIE.RD.P6?locations=VN



