V.I. Lenin’s ideology in “Better fewer, but better” on inspection and supervision and its contemporary value in current party building and rectification
TS. Phạm Thị Chi
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Quanlynhanhuoc.vn) – Tác phẩm “Thà ít mà tốt” (1923) là một trong những di huấn lý luận chính trị kinh điển của V.I.Lênin về nghệ thuật cầm quyền, cải cách bộ máy nhà nước và kiểm soát quyền lực của Đảng vô sản. Bài viết tập trung luận giải bối cảnh lịch sử, hệ thống tư duy đột phá của V.I.Lênin về việc đặt chất lượng cán bộ kiểm tra lên trên số lượng cơ học và tư tưởng hợp nhất thiết chế kiểm tra Đảng với giám sát Nhà nước. Trên cơ sở phân tích thực trạng biến đổi đạo đức công vụ qua hệ thống số liệu kỷ luật và tư pháp gần đây tại Việt Nam, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm vận dụng sáng tạo di sản lý luận này vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: V.I.Lênin; thà ít mà tốt; kiểm tra, giám sát; kiểm soát quyền lực; Đại hội XIV.
Abstract: The work “Better Fewer, But Better” (1923) is one of the classic political-theoretical legacies of V.I. Lenin regarding the art of governance, state apparatus reform, and power control of the proletarian Party. This article focuses on analyzing the historical context and V.I. Lenin’s breakthrough thinking on prioritizing the quality of inspection cadres over mechanical quantity, as well as the ideology of merging Party inspection and State oversight institutions. Based on assessing the transformation of public service ethics through recent disciplinary and judicial statistics in Vietnam, the paper proposes synchronous solution groups to creatively apply this theoretical legacy to the task of building and rectifying the Party and the political system in light of the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam in the new era.
Keywords: V.I. Lenin; Better Fewer, but Better; Inspection and Supervision; Power Control; 14th National Congress.
1. Đặt vấn đề
Muốn Đảng mạnh, phải kiểm tra. Đây không chỉ là nhiệm vụ, mà là quy luật sinh tồn của một chính đảng cách mạng nắm giữ quyền lực cầm quyền. Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã để lại những bài học xương máu đầy nghiệt ngã: Một chính đảng dù có vĩ đại đến đâu, nếu buông lỏng công tác giám sát, coi nhẹ kỷ luật sắt và dung túng cho sự suy thoái thì tự thân tổ chức đó sẽ mục rỗng, tự sụp đổ về mặt tổ chức trước khi bị kẻ thù tấn công bằng súng đạn. Quyền lực vô kiểm soát là bản ngã của sự tha hóa. Liệu một bộ máy có thể giữ được tính thuần khiết chính trị nếu thiếu đi những thanh bảo kiếm tự thanh lọc hằng ngày? Câu trả lời chắc chắn là không.
Trong kho tàng lý luận mác-xít đồ sộ, tác phẩm “Thà ít mà tốt” (1923) của V.I.Lênin giữ vị trí như một bản di huấn chính trị mang tầm vóc thời đại (V.I.Lênin. 1978). Ra đời vào những ngày tháng cuối đời của lãnh tụ trên giường bệnh, văn kiện này hoàn toàn không thuần túy là một bài báo lý luận hay một khẩu lệnh hành chính thông thường. Bản chất của nó là một cuộc đại phẫu thuật tư duy, một sự thức tỉnh sâu sắc về nghệ thuật quản trị quốc gia và kiểm soát quyền lực tối cao trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền. Lênin đã kéo toàn bộ lý luận về tổ chức từ những mô hình xơ cứng trên giấy xuống mặt đất hiện thực của văn hóa công vụ và chất lượng cán bộ, thiết lập nên một hệ phương pháp luận kiểm tra thực chất để chống lại căn bệnh ba hoa, hình thức và tệ quan liêu bao cấp.
Bước vào giai đoạn lịch sử mới – kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với những yêu cầu mới, khắt khe và cam go hơn bao giờ hết về năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và tính liêm chính của bộ máy công quyền. Cuộc đấu tranh chống suy thoái tư tưởng, chống “giặc nội xâm” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang ở giai đoạn quyết liệt nhất. Nhìn thẳng vào thực tế đó, việc đào sâu nghiên cứu, luận giải khoa học và vận dụng sáng tạo tư tưởng “Thà ít mà tốt” của V.I.Lênin trong mối quan hệ biện chứng với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chiến lược đột phá của Đại hội XIV trở thành một tất yếu khách quan, một mệnh lệnh hành động cấp bách.
Khi lý luận kinh điển được soi rọi bởi hơi thở thời đại, nó sẽ biến thành vũ khí lý luận sắc bén, đập tan mọi biểu hiện nể nang, né tránh tại cơ sở. Sự kết hợp này chính là chìa khóa để thanh lọc triệt để bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ công bộc thực sự tinh nhuệ, đặt danh dự và sự liêm chính lên trên hết, bảo đảm bệ đỡ vững chắc cho con thuyền cách mạng Việt Nam tự tin hội nhập và bứt phá vươn tầm thế giới.
2. Nền tảng phương pháp luận của V.I.Lênin về cải cách bộ máy và công tác kiểm tra
Để thấu hiểu tính chất bước ngoặt trong tư tưởng của V.I.Lênin, cần đặt hệ thống quan điểm của Người vào bối cảnh lịch sử cụ thể của nước Nga Xô-viết năm 1923. Sau khi dập tan nội chiến và can thiệp quân sự, nước Nga bước vào thời kỳ hòa bình với bước chuyển chiến lược sang Chính sách kinh tế mới (NEP). Đây là một giai đoạn quá độ đầy cam go, phức tạp khi một nền kinh tế nhiều thành phần xuất hiện, quan hệ hàng hóa – tiền tệ và các yếu tố tư bản chủ nghĩa được khôi phục dưới sự điều tiết của chính quyền công nông. Môi trường NEP liên tiếp dội những gáo nước lạnh vào năng lực cầm quyền của Đảng Bolshevik. Sự thâm nhập của lối sống thực dụng tư sản, tư tưởng cá nhân ích kỷ bắt đầu làm lung lay những nền tảng đạo đức cũ. Đáng sợ hơn cả là căn bệnh “phình to” cơ học của bộ máy hành chính và các cơ quan kiểm tra với tình trạng số lượng tăng nhưng chất lượng giảm.
Nhiều phần tử cơ hội, quan liêu, hách dịch, có trình độ văn hóa thấp kém đã len lỏi, thâm nhập sâu vào các cơ quan quyền lực, biến thiết chế công quyền thành nơi hạch sách, sách nhiễu nhân dân, nhận hối lộ và đóng băng các sắc lệnh cách mạng của Trung ương. Nhìn vào bức tranh nhức nhối đó, Lênin nhận ra một chân lý nghiệt ngã rằng, nguy cơ lớn nhất đe dọa nền chuyên chính vô sản không còn là súng đạn bên ngoài biên giới, mà là sự tự tha hóa từ bên trong lòng bộ máy. Không cải cách triệt để, không thiết lập được một cơ chế kiểm tra đủ mạnh để tự thanh lọc hằng ngày, chế độ sẽ tự sụp đổ. Tác phẩm “Thà ít mà tốt” ra đời như một tiếng chuông cảnh báo khẩn thiết gửi tới toàn Đảng, khẳng định bảo vệ thành quả cách mạng phải bằng một hệ thống kiểm tra mật thiết, nghiêm khắc và khoa học.
Tư duy cải cách của V.I.Lênin trong tác phẩm là sự biểu hiện sinh động của thế giới quan duy vật biện chứng, kiên quyết bài trừ căn bệnh chủ quan, duy ý chí và thói ba hoa cách mạng. Lênin đập tan khuynh hướng chạy theo số lượng, thói ham chuộng hình thức trong tổ chức, bởi việc thành lập các ban bệ một cách vội vã, cơ học thực chất chỉ là trò chơi sắp xếp các ô chức năng trên giấy. Biên chế càng tăng, hiệu năng càng giảm, bộ máy ấy chỉ tạo chỗ ẩn nấp cho những kẻ cơ hội và vô năng, hoàn toàn xa rời đời sống quần chúng. Lênin chỉ rõ, xây dựng bộ máy kiểu mới đòi hỏi sự thận trọng khoa học ở bậc cao nhất, chứ không thể giải quyết bằng khẩu hiệu hay các sắc lệnh duy ý chí. Từ thực tiễn đó, Người khái quát nên một quy luật tổ chức: thà ít cơ quan, ít cán bộ nhưng có trình độ văn hóa cao, tinh thông nghiệp vụ và tuyệt đối trung thành, còn hơn là một bộ máy đồ sộ nhưng đầy những kẻ quan liêu. “Thà ít mà tốt” chính là hạt nhân hợp lý của nghệ thuật cầm quyền. Bản chất của cải cách phải là một cuộc tự phẫu thuật đau đớn: tinh giản biên chế, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng đầu vào và thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt. Trong guồng quay đó, cơ quan kiểm tra, giám sát giữ vai trò là “bác sĩ” chẩn đoán lâm sàng, dũng cảm thực hiện các thao tác ngoại khoa để cắt bỏ những tế bào hoại tử ra khỏi cơ thể sống của Đảng và Nhà nước vô sản.
Khi cải tổ Bộ Dân ủy Thanh tra Công nông – cơ quan kiểm tra cao nhất của nhà nước lúc bấy giờ, V.I.Lênin đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe đến mức nghiêm ngặt đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra. Người ra chỉ lệnh chính trị đanh thép: “Chúng ta phải áp dụng quy tắc này: thà ít mà tốt… chúng ta hãy quyết tâm không vội vã mở rộng bộ máy, không tiếc thời gian để chuẩn bị cho được những người làm việc trong bộ máy thanh tra thật có bảo đảm” (V.I.Lênin. 1978). Bản chất sức mạnh của cơ quan kiểm tra không nằm ở số lượng biên chế, mà nằm ở độ tinh nhuệ của từng thành viên. Tiêu chuẩn đầu tiên là trình độ văn hóa cao, sự tinh thông nghiệp vụ quản lý nhà nước và năng lực luận giải khoa học các quy luật xã hội. Thuật ngữ “văn hóa” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tri thức khoa học, kỹ năng hành chính và văn minh công vụ. Lập luận của Lênin rất sòng phẳng và thực tế: một cán bộ không thể đi kiểm tra, giám sát người khác nếu trình độ văn hóa và kiến thức nghiệp vụ thấp kém hơn đối tượng bị kiểm tra. Cán bộ thanh tra phải là chuyên gia bậc thầy về quản trị; việc chạy theo số lượng để tuyển dụng những người thiếu năng lực sẽ biến các cuộc thanh tra thành những hình thức đối phó rỗng tuếch, dễ dàng bị các thủ đoạn gian lận tinh vi của kẻ tham nhũng che mắt.
Đặc biệt, tiêu chuẩn cao quý nhất của người cán bộ kiểm tra chính là phẩm chất đạo đức cách mạng, sự liêm chính, lòng dũng cảm và lòng tin cậy chính trị tuyệt đối. Đụng chạm đến kiểm tra là đụng chạm đến quyền lực và lợi ích vật chất. Cán bộ kiểm tra hằng ngày phải đối mặt với áp lực vô hình từ uy quyền cấp trên và sức cám dỗ độc hại của đồng tiền. Vì thế, họ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng như thép đã tôi, sở hữu đức tính “không sợ va chạm”, sẵn sàng bảo vệ chân lý mà không màng đến sự an toàn cá nhân. Lênin nhấn mạnh một quan điểm đầy tính đột phá: thà chấp nhận bỏ trống vị trí kiểm tra để kiên trì đào tạo những cán bộ thực sự xứng đáng, còn hơn mở cửa tuyển dụng bừa bãi để rồi biến cơ quan giám sát thành một ổ quan liêu mới, gánh nặng cho chế độ.
Một trong những cống hiến lý luận đột phá và độc đáo nhất của V.I.Lênin về mặt tổ chức bộ máy cầm quyền chính là tư tưởng hợp nhất giữa Ban Kiểm tra Trung ương của Đảng và Bộ Dân ủy Thanh tra Công nông của Nhà nước. Sự phân tách độc lập trước đó tạo ra các khoảng trống pháp lý để tệ quan liêu len lỏi, đồng thời gây lãng phí nguồn lực nhân sự chất lượng cao và làm suy giảm hiệu lực kiểm soát quyền lực tối cao. Lênin đập tan tư duy giáo điều cũ về tổ chức khi chỉ ra rằng, trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước tuy có phương thức biểu hiện khác nhau nhưng bản chất là thống nhất biện chứng về mặt mục tiêu giai cấp. Hợp nhất hai cơ quan này không phải là sự lắp ghép hành chính khiên cưỡng mà là tất yếu khách quan để tạo ra sức mạnh cộng hưởng. Thiết chế hợp nhất này định hình nên một cơ chế kiểm soát quyền lực đa chiều: vừa giám sát chặt chẽ kỷ luật nội bộ Đảng, vừa đại diện cho quyền lực tối cao của nhân dân để tiến hành thanh tra, kiểm toán việc chấp hành luật pháp tại mọi cơ quan hành chính nhà nước. Mô hình này giúp tinh giản tối đa đầu mối bộ máy, bẻ gãy tận gốc rễ căn bệnh đùn đẩy trách nhiệm và bảo đảm các quyết sách của Trung ương được thực thi một cách thông suốt, triệt để.
Kỷ luật nghiêm minh là tối thượng luật của một Đảng cách mạng cầm quyền. Trong tác phẩm này, Lênin đặt kỷ luật ở mức độ nghiêm cẩn tuyệt đối: không có vùng cấm, không có ngoại lệ và không một rào cản đặc quyền nào được phép tồn tại. Người đanh thép chỉ thị phải làm sao cho không một thế lực nào, không một cá nhân nào có thể đứng ngoài hoặc đứng trên sự kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Nhà nước. Kỷ luật, theo Lênin, không phải là thứ công cụ chỉ dùng để răn đe cấp dưới, mà trước hết và quan trọng nhất, nó phải được áp dụng nghiêm khắc nhất đối với các cán bộ lãnh đạo cấp cao ở các cơ quan Trung ương. Kiên quyết bác bỏ tư duy dùng công lao quá khứ hay vị thế hiện tại để làm “kim bài miễn tử” che chắn cho các hành vi sai phạm. Ai vi phạm, dù công lao vĩ đại đến đâu, cũng phải bị trừng trị sòng phẳng theo Điều lệ Đảng và pháp luật. Quét sạch những phần tử tham nhũng, nhận hối lộ, lười biếng ra khỏi bộ máy – đó là mệnh lệnh hành động. Sự nghiêm minh của kỷ luật không hề làm yếu Đảng; ngược lại, đó là quy luật tự làm sạch, là chất keo kết dính khối thống nhất ý chí và hành động, nâng cao uy tín tuyệt đối của Đảng trước quần chúng nhân dân.
3. Thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức công vụ hiện nay
Để nhận diện một cách khoa học tầm quan trọng chiến lược của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng, cần phải nhìn thẳng vào thực tế biến đổi các giá trị đạo đức công vụ thông qua hệ thống số liệu thống kê khách quan, thuyết phục từ các báo cáo tổng kết của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ngành Tòa án (. Những minh chứng định lượng này phản chiếu tính chất cam go, phức tạp của cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay. Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh dốn Đảng những năm qua cho thấy, số lượng tổ chức đảng và đảng viên bị xử lý kỷ luật phản ánh quyết tâm chính trị rất cao, tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của toàn hệ thống. Theo Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, chỉ tính riêng trong giai đoạn từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hàng trăm tổ chức đảng và hàng chục nghìn đảng viên có sai phạm. Sự nghiêm minh này được thể hiện rõ nét qua kết quả tổng hợp công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng đối với cán bộ, đảng viên qua các năm gần đây (xem Bảng 1):
Bảng 1: Tình hình xử lý kỷ luật Đảng giai đoạn 2021 – 2025
| Năm | Số lượng đảng viên bị thi hành kỷ luật | Số lượng tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật | Trong đó: Cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý |
| 2021 | Hơn 20.300 đảng viên | Hơn 370 tổ chức đảng | 32 cán bộ |
| 2022 | Hơn 21.400 đảng viên | Hơn 410 tổ chức đảng | 47 cán bộ |
| 2023 | Hơn 24.100 đảng viên | Hơn 440 tổ chức đảng | 68 cán bộ |
| 2024 | Hơn 25.600 đảng viên | Hơn 480 tổ chức đảng | 83 cán bộ |
| 2025 | Hơn 28.100 đảng viên | Hơn 520 tổ chức đảng | 95 cán bộ |
Những số liệu trên một mặt chứng minh tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng, nhưng mặt khác cũng chỉ ra một thực tế đáng quan ngại về sự xói mòn các giá trị đạo đức công vụ khi số lượng đảng viên và tổ chức đảng bị kỷ luật có xu hướng gia tăng qua từng năm. Đáng chú ý, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật có xu hướng dịch chuyển về tính chất phức tạp hơn. Nguyên nhân gốc rễ của những sai phạm này, như các hội nghị Trung ương đã thẳng thắn chỉ rõ, bắt nguồn từ sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, việc buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ, dẫn đến tình trạng tự ý quyết định các chủ trương lớn để trục lợi, làm suy yếu sức chiến đấu và tính tiền phong của tổ chức đảng tại cơ sở.
Song song với các chế tài kỷ luật Đảng, hệ thống dữ liệu từ công tác xét xử của ngành Tòa án đối với các vụ án hình sự về kinh tế, chức vụ cũng phản ánh những diễn biến phức tạp trong sự biến đổi đạo đức công vụ. Theo Báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại các kỳ họp Quốc hội khóa XV, các vụ án liên quan đến tội phạm chức vụ có xu hướng tinh vi, mang tính tổ chức chặt chẽ và xảy ra ở nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước nhạy cảm. Các hành vi vi phạm đã có sự biến tướng đáng lo ngại, từ các sai phạm hành chính đơn thuần chuyển sang các hành vi mang tính chất “lợi ích nhóm”, cấu kết chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư để thâu tóm tài sản, đất đai, nguồn lực công sản của Nhà nước. Nhiều vụ án trọng điểm được đưa ra xét xử công khai cho thấy giá trị thiệt hại, thất thoát tài sản nhà nước lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Phương thức thực hiện các hành vi nhận hối lộ, chuyển dịch tài sản phạm tội cũng được số hóa, thực hiện qua các kênh tài chính trung gian phức tạp nhằm xóa dấu vết công vụ, tạo nên những ma trận kinh tế ẩn gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra.
Thực trạng xói mòn đạo đức công vụ này là minh chứng sinh động cho những cảnh báo mang tính phương pháp luận của V.I.Lênin về nguy cơ tha hóa quyền lực của đảng cầm quyền. Khi người cán bộ được giao phó nắm giữ quyền lực hành chính và làm chủ các nguồn lực kinh tế lớn của quốc gia, nhưng hệ thống thể chế quản lý lại thiếu đi một cơ chế kiểm tra, giám sát thực chất từ bên ngoài, đồng thời bản thân người cán bộ lại buông lỏng việc tự soi, tự sửa từ bên trong, họ sẽ dễ dàng bị khuất phục trước sức hút của các lợi ích vật chất vị kỷ. Quyền lực công vụ khi bị tách rời khỏi nền tảng đạo đức cách mạng sẽ lập tức bị tha hóa, bị lợi dụng làm công cụ để mua bán, trục lợi, chuyển dịch lợi ích công cộng thành lợi ích cá nhân. Đây chính là điểm cốt lõi đòi hỏi công tác xây dựng Đảng về đạo đức và thể chế công vụ trong bối cảnh Đại hội XIV phải được thực hiện bằng những giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt và mang tính đột phá hơn bao giờ hết.
4. Hệ thống giải pháp hoàn chỉnh và đồng bộ theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra những định hướng chiến lược tầm vóc nhằm nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam. 2026). Để hiện thực hóa tư tưởng “thà ít mà tốt” của V.I.Lênin vào thực tiễn hiện nay, không thể dùng các biện pháp tình thế mà phải triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp mang tính đột phá sau:
Thứ nhất, giải pháp về cách mạng tổ chức bộ máy và nâng cao vượt bậc chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra. Kế thừa sâu sắc luận điểm đặt chất lượng lên trên số lượng của Lênin, cần kiên quyết tinh giản biên chế, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy cơ quan kiểm tra các cấp theo hướng tinh gọn, đa năng, hoạt động hiệu lực, hiệu quả cao. Phải xây dựng quy trình tuyển chọn, đào tạo cán bộ kiểm tra chuyên trách một cách cực kỳ nghiêm ngặt. Cán bộ làm công tác kiểm tra trong kỷ nguyên mới phải là những chiến sĩ tiên phong có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông về nghiệp vụ, am hiểu sâu sắc về pháp luật, kinh tế và công nghệ số để đáp ứng yêu cầu kiểm tra trong điều kiện kinh tế số. Song song đó, Nhà nước cần thiết lập cơ chế đặc thù để bảo vệ, tôn vinh và có chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo vùng đệm an toàn để cán bộ kiểm tra yên tâm cống hiến, tuyệt đối liêm chính, không thể và không dám sa ngã trước những thủ đoạn mua chuộc của các nhóm lợi ích.
Thứ hai, giải pháp về hoàn thiện thể chế và vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất bằng công nghệ số. Đảng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về công tác kiểm tra, bảo đảm sự đồng bộ, liên thông chặt chẽ và không có khoảng trống giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước và chế tài của pháp luật. Một giải pháp đột phá được nhấn mạnh trong kỷ nguyên mới là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) vào toàn bộ quy trình giám sát công vụ. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, liên thông về tài sản, thu nhập, biến động tài chính của cán bộ, đảng viên, thực hiện kiểm soát dòng tiền và chi tiêu qua tài khoản. Đây là chìa khóa để chuyển dịch phương thức kiểm tra từ “hậu kiểm” sang “tiền kiểm”, giúp phát hiện từ sớm, từ xa các dấu hiệu bất minh kinh tế. Phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực đặc biệt chặt chẽ đối với người đứng đầu, bảo đảm mọi quyền lực đều được nhốt trong “lồng cơ chế”, kiên quyết không để một cá nhân nào có thể đứng ngoài hoặc đứng trên kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, giải pháp về định hình văn hóa liêm chính và phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Kiểm soát quyền lực bằng thể chế và bộ máy chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi nó trở thành văn hóa ứng xử tự thân của mỗi công bộc. Cần đẩy mạnh giáo dục, xây dựng văn hóa liêm chính, văn hóa tiết kiệm, xem việc phòng chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực là chuẩn mực đạo đức công vụ hàng đầu, là thước đo danh dự cao quý nhất của mỗi cán bộ, đảng viên.
Cùng với việc tự làm sạch từ bên trong, Đảng phải chủ động đổi mới mạnh mẽ và phát huy một cách thực chất vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan thông tấn báo chí và quần chúng nhân dân. Phát huy tinh thần cốt lõi của Bộ Dân ủy “Thanh tra Công nông” của Lênin, cần ứng dụng công nghệ để tạo ra các kênh tiếp nhận thông tin tố giác tham nhũng tiện lợi, an toàn, bảo mật tuyệt đối danh tính cho người dân trên không gian mạng. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự tự kiểm tra nghiêm mật từ bên trong Đảng với sự giám sát, phê bình rộng rãi từ bên ngoài của nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để thanh lọc bộ máy, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng.
5. Kết luận
Tác phẩm “Thà ít mà tốt” (1923) của V.I.Lênin không thuần túy là một văn kiện lịch sử, mà là một học thuyết kinh điển về kiểm soát quyền lực, giữ nguyên vẹn giá trị phương pháp luận khoa học sau hơn một thế kỷ. Lênin đã để lại cho giai cấp vô sản thế giới một bài học nghiệt ngã nhưng vô giá về nghệ thuật cầm quyền: Sức mạnh của một chính đảng cách mạng tuyệt đối không nằm ở quy mô số lượng đảng viên hay sự bề thế, cồng kềnh của bộ máy ban bệ. Cái gốc của sức mạnh nằm ở chất lượng chính trị, ở danh dự, sự liêm chính của cán bộ và tính nghiêm minh thực chất của kỷ luật. Quyền lực mà thiếu đi một cơ chế tự giám sát, tự làm sạch hằng ngày thì dù bộ máy có đồ sộ đến đâu cũng chỉ là một khối kiến trúc dễ vỡ từ bên trong.
Đối với cách mạng Việt Nam hiện nay, khi đất nước đang đứng trước bước ngoặt lịch sử để tiến vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không còn là nhiệm vụ thường quy. Nó đã trở thành nhân tố chiến lược quyết định sự sinh tồn của chế độ. Thanh bảo kiếm kỷ luật có sắc bén thì con thuyền cách mạng mới vững vàng bứt phá.
Việc vận dụng kiên định, sáng tạo tư tưởng “Thà ít mà tốt” trong mối quan hệ biện chứng với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chiến lược đột phá của Đại hội XIV sẽ là bệ đỡ lý luận giúp Đảng không ngừng tự đổi mới, tự thanh lọc. Cuộc “đại phẫu thuật” tự giác này chính là chìa khóa để xóa bỏ căn bệnh hình thức, quét sạch những phần tử cơ hội, xây dựng đội ngũ cán bộ công bộc “vừa có đức, vừa có tài”. Đó là điểm tựa để Đảng giữ vững niềm tin tuyệt đối của Nhân dân, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, chèo lái đất nước thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2021). Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2021.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2022). Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2022.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2023). Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2023.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2024). Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2024.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2025). Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng năm 2025.
V.I.Lênin toàn tập (1978). Thà ít mà tốt. Tập 45. Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va.



