Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực và vận dụng trong phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Ho Chi Minh’s thought on the role of education in human resource development and its application to human resource development in Vietnam today

TS. Trịnh Quang Dũng
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Email: dungtq@due.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm toàn diện, sâu sắc về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết phân tích quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ đổi mới và những yêu cầu đặt ra trước cách mạng công nghiệp 4.0. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục; nguồn nhân lực; cách mạng công nghiệp 4.0.

Abstract: President Ho Chi Minh held comprehensive and profound views on the role of education in human resource development, which is particularly significant in the context of the Fourth Industrial Revolution. This article analyzes Ho Chi Minh’s views on the role of education in human resource development, assesses the current state of Vietnam’s human resources during the renovation period, and examines the requirements posed by the Fourth Industrial Revolution. On this basis, the article proposes several solutions for human resource development based on Ho Chi Minh’s thought to meet the demands of the new era.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; education; human resources; the Fourth Industrial Revolution.

1. Đặt vấn đề

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục luôn được xem là nhân tố cốt lõi, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển; vì vậy, giáo dục phải hướng đến việc đào tạo nên một thế hệ lao động vừa có tri thức, kỹ năng, vừa có phẩm chất đạo đức cách mạng để phụng sự nhân dân.

Bước vào kỷ nguyên số, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống và đặt ra những đòi hỏi khắt khe chưa từng có đối với chất lượng nguồn nhân lực. Đối chiếu với thực tiễn phát triển của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2024, dù chất lượng lao động đã có những bước tiến đáng ghi nhận, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực bứt phá cho nền kinh tế. Trước bối cảnh đó, việc bám sát và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn là yêu cầu thực tiễn cấp bách, nhất là khi Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Bài viết tập trung phân tích những giá trị cốt lõi trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực thời kỳ đổi mới, từ đó, đề xuất các giải pháp giáo dục đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước trong thời đại mới.

2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực

Động lực quan trọng nhất đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và phát triển kinh tế – xã hội nói riêng trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố con người. Muốn phát huy nhân tố con người, cần phải phát huy vai trò của giáo dục.

Thứ nhất, giáo dục có vai trò nâng cao năng lực sản xuất, trình độ chuyên môn cho người lao động. Nguồn nhân lực bao gồm hai yếu tố: số lượng và chất lượng, trong đó, chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào năng lực, trình độ chuyên môn của người lao động trong các lĩnh vực sản xuất. Sự phát triển kinh tế bao hàm nhiều lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, tất cả đều đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao. Để nâng cao trình độ đó, cần có sự đào tạo, hướng dẫn, tập huấn thông qua giáo dục. Giáo dục giúp nâng cao năng lực chuyên môn cho người lao động, từ đó nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, xuất phát điểm của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, với hơn 95% dân số mù chữ do chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá trình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phải tiến hành từng bước, phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm của Nhân dân. Giáo dục giúp con người, đặc biệt là người lao động, biết đọc, biết viết, biết cách làm việc; đồng thời, cải tạo bản thân để ngày càng tiến bộ. Sau khi giành chính quyền, nhiệm vụ cấp bách là xóa mù chữ để giúp Nhân dân làm việc thuận lợi hơn, hiểu và thực hiện các quyền lợi chính đáng của mình, từ đó khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng và phát triển kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Biết chữ, biết tính thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn. Một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù nửa quáng. Biết rồi, ta học thêm…” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.117).

Bên cạnh đó, giáo dục không chỉ giúp người dân biết đọc, biết viết mà còn giúp cho mỗi người tự cải tạo bản thân, rèn luyện nhân cách. Người nói: “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.527). Tuy nhiên, rèn luyện bản thân không thể diễn ra trong một sớm một chiều mà đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ:

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông

Sống ở trên đời, người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công.

(Hồ Chí Minh, 2011a, tr.382)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, để tự cải tạo, con người cần có hai phương pháp tốt nhất: học tập và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tự phê bình. Người nói: “Có hai thứ vũ khí rất sắc bén để giúp chúng ta cải tạo, tức là cố gắng học tập gắn liền với thực hành và không e ngại, không che giấu, thật thà tự phê bình và hoan nghênh quần chúng phê bình mình” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.301). Bởi lẽ, tự rèn luyện không phải dễ dàng, đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực bền bỉ. Người khẳng định: “Muốn cải tạo mình, cũng phải trường kỳ và gian khổ, chứ không phải là dễ đâu” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.98).

Thứ hai, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc xóa mù chữ và nâng cao nhận thức cho nhân dân mà theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục còn đóng vai trò cốt lõi trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chủ đất nước và thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Sau cách mạng tháng Tám, nhân dân từ thân phận nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước. Tuy nhiên, để thực sự làm chủ, mỗi người cần phải được trang bị trình độ, chuyên môn, có năng lực làm chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà. Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ. Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới, trước hết là tổ chức nền sản xuất mới” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.527). Như vậy, việc biết đọc, biết viết chỉ là nền tảng ban đầu, nhân dân còn cần có trình độ chuyên môn để nhận thức rõ quyền lợi, trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Khi có đủ tri thức và kỹ năng, nhân dân mới có thể tham gia vào các giai đoạn của quá trình sản xuất, tiếp cận và ứng dụng khoa học, kỹ thuật, từ đó nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

Không chỉ giúp phát triển năng lực sản xuất, giáo dục còn tạo điều kiện cho người lao động mở rộng hiểu biết, không ngừng rèn luyện để nâng cao năng lực, tiến bộ lên mãi. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc có trình độ chuyên môn chưa phải là đích đến cuối cùng mà mỗi người lao động phải luôn cố gắng, không ngừng học hỏi để tự hoàn thiện và nâng cao tay nghề. Người nhấn mạnh: “Công việc kháng chiến kiến quốc ngày càng nhiều, càng to, càng mới. Đại đa số chúng ta thì trình độ thấp, kinh nghiệm còn ít. Chúng ta phải cố gắng làm, cố gắng học, cố gắng tiến bộ mãi” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.507). Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo, nếu không có tinh thần cầu tiến, không chịu học hỏi, trau dồi kiến thức thì sẽ bị tụt hậu: “Không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.273).

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, ngoài việc đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ nhân tài. Theo Người, giáo dục không chỉ là phương tiện truyền thụ tri thức mà còn là công cụ phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài, những người có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội và nhân loại. Người khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài cũng ngày càng phát triển thêm nhiều” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.114). Như vậy, giáo dục không chỉ đào tạo ra lực lượng lao động có chuyên môn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng đội ngũ nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế và công cuộc hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, giáo dục không chỉ trang bị tri thức mà còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư tưởng, tác phong của con người xã hội chủ nghĩa, giúp người lao động làm chủ sản xuất, làm chủ đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải có đạo đức cách mạng, biết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Giáo dục phải bồi dưỡng cho người học đạo đức cộng sản, kết hợp giữa giáo dục kỷ luật với giáo dục chủ nghĩa tập thể, giúp người học tự giác và tự nguyện đặt lợi ích chung lên hàng đầu. Đồng thời, giáo dục còn góp phần hình thành những giá trị cốt lõi, như: lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu lao động, yêu khoa học và yêu đạo đức. Trong đó, tình yêu đạo đức được thể hiện qua việc rèn luyện các phẩm chất cần, kiệm, giản dị, chất phác, loại bỏ hoàn toàn những tàn dư của tư tưởng nô lệ trong suy nghĩ và hành động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra những câu hỏi có tính định hướng về mục đích của giáo dục: Học để làm gì? Học để phụng sự ai? Theo Người, học để cải tạo tư tưởng, bởi chỉ khi tư tưởng đúng đắn, con người mới có hành động và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, bởi có đạo đức cách mạng mới có thể hy sinh, tận tụy với cách mạng, dẫn dắt quần chúng nhân dân tiến đến thắng lợi hoàn toàn. Học để củng cố niềm tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và cách mạng, bởi khi đã có niềm tin vững chắc, con người mới có thể hăng hái cống hiến, kiên trì vượt qua khó khăn, thậm chí sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung. Quan trọng nhất, học để gắn với hành động thực tiễn. Khi đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Người đã nhấn mạnh: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.208). Do vậy, giáo dục có vai trò quan trọng để giúp cách mạng hoàn thành mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh. Khi trả lời câu hỏi “Học để phụng sự ai?”, Người đã nói: “Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, tức là để làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.179).

Như vậy, để phát triển kinh tế – xã hội nói riêng và hoàn thành mục tiêu cách mạng nói chung, điều kiện tiên quyết là phải có một nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cao. Không chỉ mở rộng về số lượng, lực lượng lao động còn cần được nâng cao chất lượng một cách toàn diện. Đối với Việt Nam, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải được thực hiện theo lộ trình từng bước, từ việc xóa mù chữ, giúp nhân dân biết đọc, biết viết, đến rèn luyện ý thức tự cải tạo bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp tục học tập để tiến bộ không ngừng. Đồng thời, cần chú trọng phát hiện, đào tạo và sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân tài, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Bên cạnh trình độ chuyên môn, người lao động còn phải được rèn luyện về phẩm chất đạo đức cách mạng, hun đúc tinh thần phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc với mục tiêu cao nhất là “dân giàu, nước mạnh”. Chỉ khi hội tụ đủ cả tri thức và đạo đức, người lao động mới có thể thực sự làm chủ đất nước, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của dân tộc.

Thứ tư, giáo dục là nền tảng để phát triển khoa học – kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy móc sẽ chắp thêm tay cho người, làm cho sức người được tăng lên gấp trăm, gấp nghìn lần và giúp người làm được những việc phi thường. Muốn có máy móc, thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy móc, ra gang, ra thép, than, dầu… Đó là con đường đi của chúng ta: con đường công nghiệp hóa nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.445). Định hướng đó của Người đã chỉ rõ vai trò thiết yếu của khoa học – kỹ thuật đối với sự phát triển của sản xuất và đòi hỏi phải có một nền giáo dục phù hợp, giúp người lao động tiếp thu, sáng tạo và vận dụng công nghệ vào sản xuất. Do đó, giáo dục không chỉ đào tạo cán bộ khoa học – kỹ thuật mà còn rèn luyện người lao động trở thành những người biết sáng tạo, học hỏi và cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ rằng, giáo dục không chỉ giới hạn trong nhà trường mà còn diễn ra trong quá trình lao động, thông qua việc tự học và học hỏi lẫn nhau. Đây là quá trình liên tục, giúp người lao động không chỉ nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng thực hành, nâng cao tay nghề và khả năng cải tiến kỹ thuật. Chính vì vậy, giáo dục được xem là nền tảng để phát triển khoa học từ điểm xuất phát thấp của Việt Nam, tạo điều kiện để người lao động nâng cao trình độ, phát huy sáng kiến, kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện bản thân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra các biện pháp phát triển khoa học – kỹ thuật, trong đó giáo dục được xem là nền tảng quan trọng giúp người lao động nâng cao trình độ, cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện bản thân. Cụ thể:

(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, nâng cao năng suất lao động là nhiệm vụ cấp bách, bởi chỉ khi năng suất lao động được cải thiện, nhân dân mới có thể thóat khỏi tình trạng thiếu ăn, thiếu mặc. Tuy nhiên, trong bối cảnh khoa học – kỹ thuật của Việt Nam còn lạc hậu, việc nâng cao năng suất đặt ra một thách thức lớn. Trước tình hình đó, Người khẳng định, cần tập trung cải tiến công cụ lao động, bởi đây là giải pháp khả thi và mang lại hiệu quả thiết thực. Người nhấn mạnh: “Cải tiến nông cụ là một việc làm rất cần thiết. Nó tiết kiệm được nhiều sức lao động và thời giờ. Nó giúp ích cho việc tăng gia sản xuất” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.463); đồng thời, khẳng định: “Công cụ nào, năng suất ấy. Cho nên cải tiến công cụ sản xuất là cách tốt nhất để nâng cao năng suất lao động” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.495).

Tuy nhiên, để cải tiến công cụ sản xuất và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn, không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà cần có sự hướng dẫn, đào tạo bài bản. Theo Người, người lao động không chỉ cần được đào tạo bài bản thông qua hệ thống giáo dục chính quy mà còn phải biết tự học và học hỏi lẫn nhau trong thực tiễn lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: việc cải tiến công cụ sản xuất và nâng cao năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào những tiến bộ khoa học – kỹ thuật mang lại mà còn dựa vào chính sự chủ động học tập của người lao động. Người khuyến khích tinh thần tự học, tự rèn luyện để tiếp thu kỹ thuật mới; đồng thời, đề cao việc học hỏi kinh nghiệm, phổ biến sáng kiến trong quá trình lao động: “Cải tiến kỹ thuật là phải học hỏi kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm lẫn cho nhau” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.280). Như vậy, giáo dục không chỉ giới hạn trong nhà trường mà còn diễn ra trong môi trường lao động, dưới hình thức đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng, chia sẻ kinh nghiệm thực tế giữa những người lao động. Khi cả ba yếu tố: giáo dục chính quy, tự học và học hỏi lẫn nhau kết hợp chặt chẽ, người lao động không chỉ nắm vững kiến thức kỹ thuật mà còn có khả năng vận dụng linh hoạt vào thực tiễn sản xuất, từ đó, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

(2) Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của sáng kiến, kinh nghiệm trong việc thúc đẩy năng suất lao động, coi đó là nguồn tài sản quý giá của dân tộc, cần được phổ biến và áp dụng rộng rãi. Người chỉ rõ: “Những sáng kiến kinh nghiệm của từng người, từng đơn vị cần được đúc kết và phổ biến kịp thời để không ngừng nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành, đẩy mạnh sản xuất và xây dựng cơ bản” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.447). Như vậy, việc khuyến khích, ghi nhận và triển khai các sáng kiến không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình lao động mà còn tạo động lực để người lao động phát huy tinh thần sáng tạo. Khi người lao động được rèn luyện tư duy đổi mới ngay trong quá trình làm việc, họ không chỉ tiếp thu tri thức một cách thụ động mà còn biết cách vận dụng và cải tiến, qua đó, nâng cao trình độ chuyên môn. Việc phát huy sáng kiến kinh nghiệm không chỉ đóng góp vào năng suất lao động trước mắt mà còn là một phương thức đào tạo thực tiễn, giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và từng bước hiện đại hóa nền sản xuất trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế.

3. Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực Việt Nam và yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay

3.1. Về thành tựu đạt được

Suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người luôn xem giáo dục là gốc rễ để phát triển con người và đất nước. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực, trong thời gian qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những quan điểm phát triển giáo dục, khoa học – công nghệ, xem đây là quốc sách hàng đầu. Mục tiêu của Đảng đặt ra là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài, với mức chi cho giáo dục tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự vận dụng ấy đã đem lại những thành tựu trong phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực Việt Nam đã tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, do có sự đóng góp của sự phát triển giáo dục và đào tạo. Trong 10 năm (từ 2010 – 2020), chỉ số vốn nhân lực (HCI) của Việt Nam đã tăng từ 0,66 lên 0,69 (Ngân hàng Thế giới, 2020). Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đứng thứ 115/191 quốc gia. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để nguồn nhân lực của Việt Nam có khả năng chuyển đổi, ứng dụng công nghệ số để xây dựng kinh tế số trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Á – Thái Bình Dương có điểm cao nhất về chỉ số vốn nhân lực. Điều này phản ánh những thành tựu lớn trong giáo dục phổ thông và y tế trong những năm qua.

Cơ cấu lao động đã thay đổi theo hướng giảm lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, lao động thuần nông đã giảm xuống, lao động trong nông nghiệp giảm từ 48,7% (năm 2010) xuống 27,6% (năm 2022); trong khi đó, lao động trong công nghiệp và dịch vụ có xu hướng gia tăng. Lao động trong công nghiệp từ 21,7% (năm 2010) tăng lên 33,3% (năm 2022); dịch vụ tăng từ 29,6% (năm 2010) lên 39,1% (năm 2022) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Mặc dù cơ cấu lao động đã dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, nhưng tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ chưa đủ cao để Việt Nam đạt tiêu chí của một nước công nghiệp. Trong giai đoạn 2011 – 2017, phát triển vốn nhân lực đóng góp khoảng 1/3 tăng trưởng GDP bình quân đầu người.

Giáo dục và khoa học – kỹ thuật phát triển cũng là cơ sở để Việt Nam tiến hành đổi mới sáng tạo. Năm 2017, Việt Nam xếp thứ 47/129 quốc gia về đổi mới sáng tạo. Đáng chú ý, năm 2024, Việt Nam có 3 chỉ số đứng đầu thế giới, đó là: chỉ số về nhập khẩu công nghệ cao, xuất khẩu công nghệ cao và xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Sự phát triển của giáo dục và đầu tư khoa học – công nghệ đã tác động đến việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Để đánh giá tác động của khoa học – công nghệ đến phát triển kinh tế, các nhà kinh tế học sử dụng chỉ tiêu TFP – năng suất các yếu tố tổng hợp, bao gồm: đổi mới công nghệ và quản lý. Tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã tăng đáng kể trong giai đoạn 2011 – 2024, từ 14% (năm 2011) lên mức trung bình 39,72% (giai đoạn 2011 – 2023), vượt mục tiêu đề ra tại Đại hội XII (30 – 35%). Tuy nhiên, sẽ khó khăn cho kinh tế Việt Nam với mục tiêu 40 – 50% giai đoạn 2021 – 2025 như Đảng xác định tại Đại hội XIII (Lê Xuân Định, 2022).

3.2. Về hạn chế

Thứ nhất, đối với lao động Việt Nam thể hiện ở tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn khá lớn (khoảng hơn 70% lao động chưa qua đào tạo từ sơ cấp trở lên) (Lê Xuân Định, 2022); chất lượng đào tạo thấp và chưa có sự hợp lý về cơ cấu ngành nghề. Việt Nam vẫn còn thiếu hụt những công nhân có kỹ năng lao động cao, thiếu các nhà lãnh đạo, quản lý giỏi, các nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành; lao động phổ thông, thủ công còn lớn.

Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốn và lao động, với mức đóng góp bình quân giai đoạn 2016 – 2020 là 54,28%, trong đó, đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này cao hơn đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Chất lượng nguồn nhân lực thấp là một trong những thách thức rất lớn của Việt Nam trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ ba, theo nhiều chuyên gia, khoa học – công nghệ chưa thực sự trở thành động lực của nền kinh tế. Trình độ khoa học – công nghệ của Việt Nam còn có khoảng cách so với nhóm đầu khu vực Đông Nam Á. Trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh, như: công nghệ thông tin, viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính, ngân hàng…, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới. Năng lực hấp thụ và đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Năng lực nghiên cứu ứng dụng của các cơ sở giáo dục đại học còn khiêm tốn. Ngoài ra, còn nhiều hạn chế về hành lang pháp lý, đầu tư vốn cho khoa học – công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đồng bộ; chưa tạo được sản phẩm khoa học – công nghệ thực sự mang tính đột phá.

Thứ tư, nguồn nhân công có số lượng đông và giá rẻ là một trong những nguyên nhân để thu hút đầu tư nước ngoài, điều đó cho thấy, trình độ của người lao động Việt Nam còn thấp và sẽ mất dần đi những lợi thế này khi khoa học – công nghệ phát triển trong cách mạng công nghiệp 4.0.

Thứ năm, chất lượng nhân lực chưa đáp ứng nền kinh tế số. Nhân lực mũi nhọn còn thiếu, người lao động hạn chế về kỹ năng số và khả năng thích ứng với công nghệ mới; đồng thời, đối mặt với thách thức chảy máu chất xám.

Thứ sáu, hệ thống giáo dục nặng về lý thuyết. Phương pháp giảng dạy thiếu tính thực hành, chưa gắn kết chặt chẽ với thực tế doanh nghiệp; thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo và học tập suốt đời.

Thứ bảy, hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ kém hiệu quả. Các trường đại học và doanh nghiệp chưa tận dụng tốt cơ hội hợp tác nước ngoài; còn thiếu cơ chế thu hút chuyên gia công nghệ cao từ quốc tế về làm việc, giảng dạy.

4. Một số giải pháp

Từ việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn tác động của giáo dục đối với phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay; đồng thời, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Bộ Chính trị, 2025) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024), có thể đưa ra một số giải pháp sau:

Một là, cải thiện chất lượng giáo dục chuyên môn thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực giảng dạy, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong đào tạo và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại cho các trường đại học, cơ sở đào tạo nghề, tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên học tập và nghiên cứu. Bên cạnh đó, tổ chức các chương trình bồi dưỡng giảng viên về phương pháp giảng dạy hiện đại, khuyến khích họ tham gia hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học để nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm. Đồng thời, tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tham gia xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm bảo đảm nội dung giảng dạy sát với thực tiễn và đáp ứng tốt nhu cầu thị trường lao động.

Hai là, tích hợp giáo dục đạo đức, phẩm chất cách mạng và ý thức trách nhiệm xã hội vào chương trình đào tạo; đồng thời, xây dựng các hoạt động ngoại khóa và chương trình tình nguyện để phát triển tinh thần công dân số, kỹ năng mềm cho người học. Khuyến khích sinh viên và nhân lực trẻ phát huy tinh thần cống hiến cho đất nước; giáo dục họ về sứ mệnh của mình trong việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. Kết hợp đào tạo kỹ năng chuyên môn với giáo dục về trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp, giúp nguồn nhân lực không chỉ có trình độ cao mà còn có phẩm chất đạo đức tốt, gắn kết với sự phát triển của đất nước.

Ba là, phát triển tư duy sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp thông qua xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học, khuyến khích sinh viên tham gia các dự án đổi mới sáng tạo, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và tư duy phản biện. Tạo điều kiện để sinh viên phát triển khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và đổi mới trong học tập, nghiên cứu. Các cuộc thi khởi nghiệp, nghiên cứu khoa học hoặc các dự án thực tiễn sẽ là môi trường giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng sáng tạo. Nhà nước và các trường đại học cần hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp thông qua việc cung cấp các khóa đào tạo, tư vấn và các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp. Điều này giúp sinh viên có cơ hội áp dụng kiến thức học được vào thực tiễn, đồng thời tạo động lực phát triển cho các doanh nghiệp trẻ.

Bốn là, phát triển nhân lực trong các ngành mũi nhọn, như: công nghệ thông tin, AI, tự động hóa thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, hợp tác với doanh nghiệp và viện nghiên cứu để cập nhật công nghệ mới. Đầu tư mạnh mẽ vào các chương trình đào tạo nhân lực trong các ngành công nghệ thông tin, AI, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học và các ngành STEM khác. Đây là những ngành kinh tế mũi nhọn có thể đưa Việt Nam bắt kịp với các xu thế phát triển toàn cầu. Đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ, giúp sinh viên tiếp cận với các công nghệ và phương pháp mới nhất trên thế giới. Tạo ra các chính sách ưu đãi, học bổng cho những sinh viên xuất sắc trong các lĩnh vực mũi nhọn, khuyến khích họ tiếp tục học tập và nghiên cứu sâu hơn để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao.

Năm là, xây dựng cơ chế thu hút và giữ chân nhân tài thông qua chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo môi trường làm việc sáng tạo và linh hoạt; đồng thời, thúc đẩy hợp tác với nhân tài Việt Nam ở nước ngoài. Để giữ chân nhân tài, cần có những chính sách đãi ngộ hấp dẫn, bao gồm: mức lương cạnh tranh, cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc thuận lợi. Cần có những chương trình, chính sách hỗ trợ tài chính, khoa học và công nghệ để thu hút các du học sinh quay về đóng góp cho đất nước sau khi hoàn thành chương trình học ở nước ngoài. Xây dựng các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế, tạo môi trường nghiên cứu hấp dẫn để các chuyên gia, nhà khoa học trẻ có điều kiện phát triển năng lực.

5. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và phát triển con người vẫn vẹn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người là giải pháp cốt lõi để nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. Đầu tư toàn diện cho giáo dục, khoa học – công nghệ kết hợp với rèn luyện đạo đức cách mạng sẽ tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước vươn mình, phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 9). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011f). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011h). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Xuân Định (18/1/2022). Tạo đột phá để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Tạp chí Cộng sản.
Ngân hàng Thế giới (2020). Vietnam Human Capital Index report. World Bank.
Nguyễn Thị Thủy & Nguyễn Thị Như Quỳnh (25/1/2025). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào công tác đổi mới phương pháp dạy học tại Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh. Tạp chí Quản lý nhà nước.