Promoting the role of historical memory and political history education in preventing and combating peaceful evolution
Lương Thị Giang
Trường Đại học Điện lực
Email: giangluong89@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh các thông tin sai lệch và quan điểm xuyên tạc lịch sử ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức, việc phát huy giá trị của ký ức lịch sử và nâng cao hiệu quả giáo dục lịch sử chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố nhận thức, bồi đắp bản lĩnh chính trị và tăng cường sự đồng thuận xã hội. Bài viết phân tích những thách thức đặt ra đối với công tác giáo dục lịch sử hiện nay; đồng thời, làm rõ vai trò của ký ức lịch sử như một nguồn lực tinh thần góp phần bảo vệ các giá trị nền tảng của dân tộc. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử chính trị, đáp ứng yêu cầu bảo vệ và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Ký ức lịch sử; giáo dục lịch sử chính trị; diễn biến hòa bình; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Abstract: In the context where misinformation and viewpoints distorting history increasingly appear in various forms, promoting the value of historical memory and improving the effectiveness of political history education is of great importance in consolidating awareness, cultivating political fortitude and strengthening social consensus. The article analyzes the challenges facing history education today; at the same time, it clarifies the role of historical memory as a spiritual resource contributing to protecting the foundational values of the nation. On this basis, the article proposes some solutions to improve the quality of political history education, meeting the requirements of national defense and development in the new period.
Keywords: Historical memory; political history education; peaceful evolution; protection of the Party’s ideological foundation.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử không chỉ phản ánh quá khứ mà còn góp phần định hình bản sắc và củng cố nền tảng tinh thần của mỗi dân tộc. Đối với Việt Nam, ký ức lịch sử gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước, tạo nên cơ sở quan trọng cho việc hình thành niềm tin xã hội và định hướng phát triển đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch gia tăng lợi dụng lịch sử để xuyên tạc, gây nhiễu loạn nhận thức và làm suy giảm niềm tin chính trị. Một số quan điểm xét lại lịch sử, phủ nhận giá trị của các cuộc kháng chiến và vai trò lãnh đạo trong lịch sử cách mạng Việt Nam đang tác động trực tiếp đến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ. Trước yêu cầu đó, việc phát huy vai trò của ký ức lịch sử và tăng cường giáo dục lịch sử chính trị trở thành nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin và giữ vững định hướng phát triển của đất nước. Bài viết tập trung nhận diện thủ đoạn “xóa bỏ ký ức” và bẻ cong lịch sử, làm rõ vai trò của ký ức lịch sử và giáo dục lịch sử chính trị trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp trong bối cảnh hiện nay.
2. Nhận diện thủ đoạn “xóa bỏ ký ức” và bẻ cong lịch sử trong chiến lược “diễn biến hòa bình”
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch triển khai, lịch sử đã trở thành một trong những trọng điểm chống phá. Bản chất của thủ đoạn này là tác động vào cấu trúc niềm tin và hệ giá trị văn hóa của dân tộc, làm suy giảm niềm tin vào nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo đã được xác lập trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Việc “xóa bỏ ký ức” không đơn thuần làm cho con người quên đi quá khứ mà làm cho họ nghi ngờ và dần quay lưng với truyền thống của cha ông. Khi một dân tộc mất đi sự kết nối với nguồn cội, họ sẽ trở nên yếu đuối về mặt tư tưởng và dễ bị dẫn dắt bởi các kịch bản chính trị áp đặt từ bên ngoài.
Sự phá hoại này thường núp bóng dưới những danh xưng, như: khai phóng tư duy; trả lại sự thật lịch sử hay cái nhìn đa chiều. Điển hình nhất là thủ đoạn “xét lại” bản chất các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc. Một số diễn đàn, kênh truyền thông và hội nhóm trên không gian mạng khai thác cách tiếp cận xét lại lịch sử, đưa ra các cách diễn giải phiến diện về các sự kiện lịch sử quan trọng nhằm gây nhiễu loạn nhận thức xã hội. Mục tiêu của luận điệu này là tước bỏ tính chính nghĩa của dân tộc, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ đi xâm lược và người bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã nhận diện rõ đây là một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhằm phủ nhận thành quả cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (Bộ Chính trị, 2018).
Không dừng lại ở việc xuyên tạc sự kiện, các thế lực thù địch còn tập trung mũi nhọn vào chiến dịch “hạ bệ thần tượng”. Bằng cách sử dụng các tài liệu ngụy tạo, những mẩu chuyện không có căn cứ, ra sức bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối cách mạng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng thuật toán trên các nền tảng mạng xã hội, như: Facebook, YouTube, TikTok để phát tán thông tin sai lệch, trong đó sự thật được trộn lẫn với thông tin bịa đặt một cách tinh vi. Việc trích dẫn các đoạn hồi ký cắt ghép hoặc các bức ảnh không rõ nguồn gốc để nghi ngờ về công lao và đời tư của các vị anh hùng nhằm phá hủy hình tượng người cộng sản mẫu mực trong lòng nhân dân. Đây là đòn đánh nguy hiểm, bởi khi biểu tượng tinh thần bị hạ thấp, niềm tin của quần chúng vào đường lối cách mạng sẽ dễ bị lung lay.
Đáng chú ý, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm trong quá khứ của Đảng và Nhà nước để “tuyệt đối hóa” mặt tối. Những sự kiện lịch sử đau thương, như: Cải cách ruộng đất hay những khó khăn trong thời kỳ bao cấp bị chúng xới lại, phóng đại một cách có hệ thống thông qua các bộ phim tài liệu hoặc các bài viết được đầu tư công phu về mặt hình ảnh. Chúng không nhìn nhận lịch sử trong bối cảnh cụ thể của một quốc gia vừa bước ra khỏi chiến tranh mà dùng tiêu chuẩn của hiện tại để phán xét quá khứ, nhằm chứng minh rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm. Đây chính là biểu hiện của sự đứt gãy ký ức mà khi lịch sử chỉ còn lại những mảng màu xám xịt, lòng tự tôn dân tộc sẽ bị xói mòn, nhường chỗ cho tâm lý sùng bái các giá trị ngoại lai và khát vọng thay đổi thể chế một cách mù quáng.
Có thể nói, thủ đoạn xóa bỏ ký ức là một dạng tác động tư tưởng có sức lây lan nhanh và tàn phá âm thầm, đặc biệt đối với lớp người trẻ. Nhiều bạn trẻ có thể thuộc lòng lịch sử thế giới nhưng lại mơ hồ về những cột mốc lịch sử của dân tộc mình, sự hời hợt này chính là điều kiện thuận lợi để các luận điệu xuyên tạc bám rễ. Thực tiễn từ các cuộc cách mạng màu trên thế giới cho thấy, một khi ký ức lịch sử bị thay thế bằng những câu chuyện ngụy tạo, quốc gia đó sớm muộn cũng rơi vào bất ổn chính trị, thậm chí mất quyền tự quyết. Do đó, việc nhận diện và bóc trần những thủ đoạn này không chỉ là công việc của các nhà sử học mà là nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục chính trị, nhằm bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng trước chiến lược “diễn biến hòa bình”.
3. Vai trò của ký ức lịch sử và giáo dục lịch sử chính trị trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự giao thoa văn hóa, tư tưởng ngày càng sâu rộng, ký ức lịch sử không chỉ là kho tàng lưu giữ quá khứ mà còn là nguồn lực tinh thần quan trọng để bảo vệ chế độ chính trị. Nếu các thủ đoạn bẻ cong lịch sử được ví như một mối nguy về mặt tư tưởng thì ký ức lịch sử chính là “hệ miễn dịch” của cộng đồng, còn giáo dục lịch sử chính trị là công cụ quan trọng giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hình thành bản lĩnh vững vàng trước tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Sức mạnh của ký ức lịch sử trước hết nằm ở vai trò giữ vững bản sắc và củng cố lòng tự tôn dân tộc. Lịch sử Việt Nam không phải là những con số vô hồn trên trang giấy mà là sự tiếp nối của những cuộc trường chinh, thấm đẫm máu đào và nước mắt. Từ mốc son ngày 02/9/1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975… tất cả đã dệt nên sợi chỉ đỏ xuyên suốt nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại đầy trách nhiệm. Ký ức này chính là điểm tựa để mỗi cá nhân định vị được bản thân giữa những nhiễu loạn của thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 259). Khi một người dân thấu hiểu sâu sắc rằng, độc lập hôm nay được đổi bằng sự hy sinh của hàng triệu liệt sĩ, họ sẽ hình thành nhãn quan chính trị đủ tỉnh táo để bác bỏ những luận điệu cho rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nội chiến” hay “chiến tranh ủy nhiệm”.
Nếu ký ức cung cấp nền tảng cảm xúc, thì giáo dục lịch sử chính trị là công cụ lý luận để chuyển hóa tình cảm ấy thành hành động cách mạng tự giác. Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục lịch sử chính trị cần góp phần lý giải vì sao dân tộc Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những bài học từ thời kỳ tiền khởi nghĩa đến bước ngoặt của công cuộc Đổi mới năm 1986 chính là những dẫn chứng sinh động. Giáo dục lịch sử chính trị giúp người học hiểu rõ rằng, sự lãnh đạo của Đảng được hình thành và khẳng định trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Đây chính là quá trình xây dựng thế giới quan khoa học mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nhấn mạnh nhằm ngăn chặn sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và cảnh báo rằng: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2016).
Từ sự vững vàng về lý luận đó, giáo dục lịch sử chính trị tiếp tục thực hiện sứ mệnh bồi đắp lý tưởng trước những thách thức của thời đại mới. Trong một thế giới bị tác động mạnh bởi các thuật toán mạng xã hội, nếu không có phương pháp luận lịch sử đúng đắn, cán bộ và đảng viên dễ bị cuốn theo những lập luận phiến diện. Khi đối diện với các thông tin xuyên tạc về sự kiện biên giới năm 1979 hay năm 1988, chính bản lĩnh có được từ giáo dục lịch sử chính trị sẽ giúp Nhân dân nhận diện rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Việc khẳng định thành tựu sau 40 năm đổi mới (1986 – 2026) chính là minh chứng cho sự kế thừa sáng tạo tinh hoa cha ông. Giáo dục lịch sử chính trị giúp mỗi người trẻ hiểu rằng, khát vọng đưa đất nước bước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” không tách rời tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của các thế hệ cha ông. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh những giải pháp có tính cách mạng, đột phá để đạt được mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong bối cảnh mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 11). Khi ký ức lịch sử được nuôi dưỡng và giáo dục chính trị được đẩy mạnh, Việt Nam không chỉ xây dựng được hệ miễn dịch tư tưởng vững chắc mà còn tạo ra nguồn năng lượng nội sinh to lớn, thúc đẩy toàn dân tộc vững tin làm chủ lịch sử trong kỷ nguyên mới.
4. Thực trạng và những vấn đề đặt ra hiện nay
Sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đất nước chính thức bước vào “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với tâm thế tự tin và khát vọng phát triển. Trong bối cảnh đó, việc nhìn nhận lại thực trạng phát huy giá trị ký ức lịch sử và giáo dục chính trị không chỉ là yêu cầu của công tác tuyên giáo mà còn là đòi hỏi khách quan để bảo đảm an ninh tư tưởng cho một quốc gia đang hội nhập sâu rộng.
4.1. Những kết quả đạt được
Việt Nam đã đạt được những thành tựu mang tính bước ngoặt trong việc “hồi sinh” ký ức lịch sử. Hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung; phát triển đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, đánh dấu chuyển biến từ “lượng” sang “chất” (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Thay vì những bài giảng khô khan, các địa chỉ đỏ đã biết cách kể câu chuyện lịch sử bằng ngôn ngữ của thời đại số. Thành công của Di tích Nhà tù Hỏa Lò hay Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mới là những ví dụ điển hình. Việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong trưng bày và tái hiện sự kiện lịch sử đã góp phần nâng cao sức hấp dẫn của các thiết chế văn hóa, đặc biệt đối với giới trẻ. Đây là minh chứng cho thấy, lịch sử luôn có sức sống mãnh liệt nếu được chuyển tải qua hình thức phù hợp với tâm lý tiếp nhận hiện đại. Tinh thần của Đại hội XIV của Đảng về việc phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam đã và đang được cụ thể hóa bằng những chỉ số tương tác thực tế trên không gian mạng, biến lịch sử thành một nguồn lực nội sinh sống động, bồi đắp lòng tự hào dân tộc ngay từ trong môi trường số.
4.2. Những hạn chế và thách thức
Thực trạng vẫn đang bộc lộ những “điểm nghẽn” tư tưởng. Theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nguy cơ đứt gãy nhận thức giữa các thế hệ. Báo cáo tổng kết công tác Đảng năm 2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên và thanh niên còn biểu hiện mơ hồ về lịch sử chính trị, dễ bị dao động trước các luồng thông tin xét lại” (Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, 2025). Khi Việt Nam mở cửa sâu rộng hơn, sự xâm nhập văn hóa không còn diễn ra thô bạo mà biến tướng dưới dạng “mưa dầm thấm lâu”. Các sản phẩm giải trí xuyên biên giới, từ phim ảnh đến trò chơi điện tử, thường xuyên lồng ghép khéo léo những quan điểm sai lệch về các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vô hình trung tạo ra một lớp mù mờ lịch sử trong giới trẻ. Điều này làm suy yếu lớp bảo vệ tự thân của quốc gia, khiến một bộ phận người dân dễ bị dẫn dắt bởi các kịch bản “cách mạng màu”, vốn thường bắt đầu bằng việc xóa bỏ niềm tin vào tính chính nghĩa của quá khứ.
Đặc biệt, cuộc đấu tranh trên không gian mạng hiện nay đang diễn biến rất phức tạp với những thủ đoạn phi chính trị hóa lịch sử. Theo dữ liệu từ Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, đầu năm 2026, các thế lực thù địch đã nâng tầm phá hoại bằng công nghệ Deepfake và AI tạo sinh. Chúng không chỉ dừng lại ở việc viết bài xuyên tạc mà đã có thể chế bản các tư liệu ngụy tạo dưới dạng video giả giọng nói của các lãnh đạo tiền bối hoặc trích dẫn cắt ghép sai lệch các văn kiện lịch sử nhằm gây nghi hoặc về vai trò lãnh đạo của Đảng (Bộ Công an, 2026). Trong khi một số kênh truyền thông và nền tảng trên không gian mạng khai thác các nội dung giải mật lịch sử với hình thức trình bày hấp dẫn, đánh vào tâm lý tò mò của công chúng, công tác phản bác ở một số nơi vẫn còn nặng tính hành chính, chậm về tốc độ và chưa thực sự thu hút. Sự chênh lệch về năng lực làm chủ công nghệ và phương thức tiếp cận thông tin chính là kẽ hở lớn mà chiến lược “diễn biến hòa bình” đang triệt để khai thác.
Từ thực trạng trên, những vấn đề cấp bách đặt ra sau Đại hội XIV của Đảng là rất lớn. Không thể bảo vệ lịch sử chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính khô khan hay những bài giảng một chiều. Vấn đề đặt ra là phải chủ động xây dựng không gian thông tin lịch sử chính thống trên môi trường số, có sức lan tỏa và khả năng định hướng nhận thức xã hội. Tinh thần Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò của văn hóa, trong đó có lịch sử, trong việc bồi đắp nền tảng tinh thần dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Yêu cầu hiện nay là phải chuyển từ trạng thái “phòng ngự, phản bác” sang trạng thái “chủ động tiến công”, lấp đầy không gian mạng bằng những câu chuyện lịch sử chính thống nhưng đầy sức hấp dẫn. Đây không chỉ là câu chuyện của tri thức mà là cuộc đấu tranh giành giật niềm tin và tâm hồn của thế hệ tương lai, những người sẽ nắm giữ vận mệnh của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
5. Giải pháp phát huy vai trò ký ức lịch sử và giáo dục lịch sử chính trị
Một là, đổi mới căn bản tư duy và nội dung giáo dục lịch sử chính trị theo hướng lấy thực tiễn kiểm chứng lý luận.
Nội dung giáo dục lịch sử chính trị cần thoát ly khỏi lối mòn “kinh viện”, chuyển sang giải đáp trực diện những vấn đề tư tưởng mà dư luận đang quan tâm. Thay vì chỉ chú trọng vào kết quả thắng lợi, giáo dục lịch sử chính trị cần đi sâu phân tích bối cảnh, những khó khăn, thách thức và cả những kinh nghiệm trong quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi người học hiểu rằng con đường dân tộc đang đi là kết quả của quá trình lựa chọn thực tiễn của lịch sử, họ sẽ hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng. Việc cung cấp một phương pháp luận khoa học, biết nhìn nhận sự kiện trong tính chỉnh thể, sẽ giúp người học tự “miễn nhiễm” trước các thủ đoạn cắt ghép, ngụy tạo tài liệu của các thế lực thù địch.
Hai là, bứt phá về phương pháp truyền thông thông qua xây dựng hệ sinh thái ký ức số.
Trong cuộc đấu tranh giành giật niềm tin trên không gian mạng, công nghệ vừa là công cụ vừa là trận địa. Cần thay đổi phương thức tiếp cận lịch sử từ áp đặt một chiều sang tương tác đa chiều. Việc đa dạng hóa các sản phẩm nội dung, như: phim tài liệu ngắn, đồ họa thông tin động hay các chuỗi podcast lịch sử chính trị là yêu cầu cấp thiết để chiếm lĩnh sự chú ý của thế hệ trẻ. Đặc biệt, cần biến các bảo tàng và di tích lịch sử thành các không gian trải nghiệm thông qua công nghệ thực tế ảo và AI. Khi lịch sử được tái hiện sinh động, cho phép người học nhập vai vào những thời khắc lịch sử quan trọng, ký ức lịch sử sẽ không còn là tri thức vay mượn mà trở thành cảm xúc cá nhân sâu sắc, đây chính là cách giáo dục bền vững nhất, hình thành bản lĩnh và năng lực chọn lọc thông tin cho người dân.
Ba là, xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng “sứ giả lịch sử”.
Đội ngũ bảo vệ nền tảng tư tưởng không nên chỉ giới hạn trong các cơ quan chuyên trách mà cần sự chung tay của toàn xã hội. Cần có cơ chế kết nối chặt chẽ giữa các nhà khoa học sử học đầu ngành với những người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs) có tư tưởng tích cực. Sự kết hợp giữa tri thức chuẩn xác của chuyên gia và khả năng lan tỏa của giới trẻ sẽ tạo ra luồng sinh khí mới cho công tác giáo dục chính trị. Cần khuyến khích và đào tạo thế hệ Gen Z, Gen Alpha trở thành những người kể chuyện lịch sử của chính dân tộc mình. Khi những giá trị chính nghĩa được lan tỏa bằng chính ngôn ngữ, phong cách của người trẻ, sức thuyết phục sẽ nhân lên gấp bội, tạo nên một “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng, đủ sức lấn lướt các luồng thông tin sai lệch.
Bốn là, thiết lập kỷ cương và tính chủ động trong đấu tranh, ngăn chặn các hành vi xuyên tạc, bóp méo lịch sử.
Xây dựng luôn đi đôi với bảo vệ, cần chủ động nhận diện sớm các xu hướng “xét lại lịch sử” ngay từ khi mới xuất hiện trên các diễn đàn trực tuyến. Việc ngăn chặn các trang web, hội nhóm có ý đồ xấu không chỉ là biện pháp kỹ thuật mà còn là sự khẳng định vai trò định hướng của tri thức lịch sử. Cần xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng công nghệ cao để xuyên tạc lãnh tụ, bôi nhọ thành quả cách mạng, coi đây là hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực tư tưởng. Sự quyết liệt trong hành động sẽ tạo ra lá chắn nhận thức, bảo vệ sự trong sáng của ký ức lịch sử; bảo đảm cho công cuộc vươn mình của đất nước không bị chệch hướng bởi những âm mưu phá hoại tinh vi của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
6. Kết luận
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử dân tộc Việt Nam đã trở thành huyết mạch nuôi dưỡng linh hồn và bản sắc quốc gia. Trước những thử thách của thời đại số và các âm mưu “diễn biến hòa bình” tinh vi, ký ức lịch sử là di sản vô giá, còn giáo dục lịch sử chính trị là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nền tảng tư tưởng. Nếu ký ức là điểm tựa để dân tộc định vị bản thân giữa dòng chảy toàn cầu hóa, thì giáo dục lịch sử chính trị chính là định hướng tư tưởng, bảo đảm cho mọi bước đi của quốc gia đều kiên định trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong kỷ nguyên phát triển mới – Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc bảo vệ lịch sử không còn là nhiệm vụ riêng lẻ của các nhà khoa học hay các cơ quan tuyên giáo mà đã trở thành vấn đề của an ninh quốc gia. Bảo vệ lịch sử chính là bảo vệ chế độ, bảo vệ sự chính danh của Đảng và bảo vệ tương lai của dân tộc. Một dân tộc lãng quên quá khứ sẽ đánh mất bản lĩnh ở hiện tại và không có phương hướng cho tương lai. Việc giữ vững được sự trong sáng của lịch sử trước các luồng tư tưởng “xét lại” chính là đang bảo vệ thành quả xương máu của các thế hệ đi trước; đồng thời, gieo mầm niềm tin vững chắc cho các thế hệ mai sau.
Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận lịch sử và tư tưởng là một quá trình lâu dài, không tiếng súng nhưng đầy phức tạp. Điều này đòi hỏi ở mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân sự kiên trì trong bản lĩnh và sự sáng tạo trong hành động. Sự sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ, linh hoạt trong phương thức truyền cảm hứng và quyết liệt trong đấu tranh phản bác chính là chìa khóa để chiếm lĩnh trận địa tư tưởng trên không gian mạng. Khi ký ức lịch sử được khơi thông thành dòng chảy nội sinh mạnh mẽ và mỗi người dân đều có khả năng nhận diện, sàng lọc thông tin, sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp, không chỉ giúp bẻ gãy mọi âm mưu “phi chính trị hóa”, “xét lại lịch sử” của các thế lực thù địch mà còn là động lực để đưa đất nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV đã đề ra.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2025). Báo cáo số 112/BC-BTGTW ngày 20/12/2025 về tổng kết công tác tư tưởng, lý luận và thực trạng nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên năm 2025.
Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Bộ Công an (2026). Báo cáo chuyên đề của Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao về nhận diện các phương thức, thủ đoạn sử dụng Deepfake và AI tạo sinh xuyên tạc lịch sử năm 2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (22/7/2026). Hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số. https://mst.gov.vn/hinh-thanh-he-sinh-thai-du-lieu-quoc-gia-phuc-vu-phat-trien-kinh-te-so-xa-hoi-so-197260721104541942.htm.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.



