Phát huy vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian số

Promoting the role of overseas Vietnamese youth in protecting the Party’s ideological foundation in the digital space

Trần Bình Minh
Sinh viên Trường Đại học Sydney, Australia

(Quanlynhanuoc.vn) – Thanh niên Việt Nam ở nước ngoài là lực lượng giàu tiềm năng, có lợi thế về tri thức, ngoại ngữ, công nghệ và khả năng kết nối quốc tế. Bài viết đề xuất khung phân tích “5K”, gồm: kiến thức, kiểm chứng, kiến giải, kết nối và kiến tạo nhằm phát huy vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian số, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

Từ khóa: Thanh niên Việt Nam; ở nước ngoài; nền tảng tư tưởng của Đảng; không gian số; Nhà nước pháp quyền XHCN; thông tin đối ngoại.

Abstract: Overseas Vietnamese youth constitute a highly promising cohort, with distinct strengths in knowledge, foreign-language proficiency, technological capabilities, and international networking. This paper proposes a “5K” analytical framework comprising Kiến thức (Knowledge), Kiểm chứng (Verification), Kiến giải (Interpretation), Kết nối (Connection), and Kiến tạo (Creation), aimed at enabling overseas Vietnamese youth to play a more active role in protecting the ideological foundation of the Communist Party of Vietnam in cyberspace and contributing to building and further perfecting the socialist rule-of-law State of Vietnam.

Keywords: Vietnamese youth; overseas; the Party’s ideological foundation; the digital space; the socialist rule of law; foreign information.

1. Đặt vấn đề

Không gian số ngày nay đã trở thành một không gian xã hội đặc thù, nơi nhận thức, hệ giá trị, niềm tin chính trị và hành vi công dân được hình thành, củng cố hoặc biến đổi. Sự chi phối của các thuật toán phân phối nội dung, phạm vi hoạt động xuyên biên giới của các nền tảng số cùng bước phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm cho dòng thông tin vận động với tốc độ chưa từng có, quy mô gần như không giới hạn và mức độ phức tạp ngày càng cao. Điều này mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, kết nối cộng đồng và tham gia đời sống xã hội; song đồng thời cũng tạo điều kiện cho sự phát tán của tin giả, nội dung cắt ghép, giả mạo, thao túng cảm xúc và các chiến dịch thông tin được tổ chức có chủ đích. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển năng lực số, bảo đảm an toàn và củng cố niềm tin trong môi trường số (Bộ Chính trị, 2024).  

Cùng với sự mở rộng nhanh chóng của không gian số, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và trong tiến trình phát triển, hội nhập của đất nước. Đến năm 2026, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có gần 6,5 triệu người đang sinh sống, học tập và làm việc tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 80% cư trú tại các nước phát triển (Bộ Ngoại giao, 2026).

Đường lối, chủ trương của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, đồng thời là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đó là: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Chính trị, 2004); Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Bộ Chính trị, 2015); Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Bộ Chính trị, 2021). Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021 – 2026 (Chính phủ, 2021).Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Chính trị, 2026).

Với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thanh niên là nhóm có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ, học thuật, truyền thông quốc tế và các mạng lưới nghề nghiệp xuyên biên giới. Họ đứng ở giao điểm của nhiều hệ sinh thái thông tin: thông tin chính thống từ Việt Nam, truyền thông nước sở tại, các diễn ngôn quốc tế về chính trị, pháp luật, dân chủ, quyền con người và dòng nội dung đa chiều từ mạng xã hội. Vị thế này đem lại những lợi thế đáng kể trong đối chiếu nguồn tin, chuyển ngữ, giao tiếp liên văn hóa và kết nối nguồn lực quốc tế. Tuy nhiên, sự hiện diện đồng thời trong nhiều không gian văn hóa, pháp lý và thông tin cũng đặt thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trước nhiều hệ quy chiếu khác nhau, những khoảng cách về thế hệ, nhận thức và ngôn ngữ, rủi ro pháp lý có tính chất xuyên biên giới.

Trong bối cảnh đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa là nhiệm vụ đòi hỏi phải không ngừng đổi mới về tư duy, nội dung và phương thức thực hiện. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Bộ Chính trị, 2018) và Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới (Bộ Chính trị, 2024).

Với môi trường truyền thông số đa chiều, phương diện “xây” phải được đặt ở vị trí nền tảng, bao gồm chủ động cung cấp thông tin chính xác, giải thích thuyết phục chủ trương và chính sách, lan tỏa những giá trị tích cực, nâng cao năng lực kiểm chứng và kiến tạo môi trường đối thoại có văn hóa. Phương diện “chống” phải được tiến hành trên cơ sở chứng cứ, phân loại đúng bản chất của từng loại thông tin, lựa chọn phương thức xử lý phù hợp và bảo đảm tính tương xứng với quan điểm sai trái, thù địch. Yêu cầu này có mối liên hệ hữu cơ với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Đảng nhấn mạnh yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; đồng thời tăng cường thông tin đối ngoại về chủ trương, chính sách, pháp luật và những thành tựu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Từ cách tiếp cận này, hoạt động của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài thực sự góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khi được triển khai trên nền tảng thượng tôn pháp luật, minh bạch về nguồn tin, tôn trọng quyền con người và quyền công dân, đề cao đối thoại dựa trên chứng cứ, có những kênh phản hồi chính sách hữu hiệu.

2. Khung phân tích

Để chuyển hóa những lợi thế và nguồn lực còn phân tán của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài thành năng lực tham gia có tổ chức, có trách nhiệm và tạo ra giá trị công, bài viết đề xuất khung phân tích “5K”, gồm: kiến thức, kiểm chứng, kiến giải, kết nối và kiến tạo. Khung này được xây dựng trên cơ sở tổng hợp phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” theo Nghị quyết số 35-NQ/TW; các yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo Nghị quyết số 27-NQ/TW; đồng thời, kế thừa những nghiên cứu về sức đề kháng số và quản trị mạng lưới.

Ý nghĩa của Khung “5K” không nằm ở việc liệt kê năm nhóm năng lực riêng biệt, mà ở logic vận động từ nhận thức đến hành động, từ năng lực cá nhân đến sức mạnh mạng lưới. Kiến thức tạo nền móng chính trị, lịch sử và pháp lý cho quá trình tiếp nhận thông tin; kiểm chứng bảo đảm tính xác thực và cung cấp căn cứ cho nhận định; kiến giải chuyển hóa những thông tin đã được kiểm chứng thành nội dung dễ hiểu, có bối cảnh và phù hợp với từng nhóm công chúng; kết nối tập hợp các chủ thể, tri thức và nguồn lực phân tán thành năng lực phối hợp chung; kiến tạo chuyển tri thức và sự liên kết đó thành sản phẩm truyền thông, sáng kiến cộng đồng, hoạt động chuyển giao tri thức và phản hồi chính sách. Năm thành tố không vận hành theo đường thẳng khép kín mà bổ trợ, phản hồi và củng cố lẫn nhau, qua đó hình thành một chu trình tham gia chủ động, có trách nhiệm và bền vững của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài.

Bảng: Khung phân tích “5K” và sự gắn kết với yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Thành tốNội dung chủ yếuLiên hệ với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền theo Nghị quyết số 27-NQ/TW
Kiến thứcTrang bị có hệ thống kiến thức về nền tảng tư tưởng của Đảng, lịch sử dân tộc, chủ trương, chính sách, Hiến pháp, pháp luật, quyền và nghĩa vụ của công dân.Góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao nhận thức về Nhà nước pháp quyền XHCN, bồi đắp lối sống thượng tôn Hiến pháp, pháp luật.
Kiểm chứngThẩm định độ tin cậy của nguồn tin; đối chiếu dữ liệu và bối cảnh; nhận diện tin giả, nội dung cắt ghép, giả mạo, thao túng và nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra.Góp phần kiến tạo môi trường thông tin chính xác, trung thực và đáng tin cậy; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, củng cố niềm tin xã hội trên cơ sở tính xác thực.
Kiến giảiChuyển hóa chủ trương, chính sách và pháp luật thành nội dung chính xác, dễ hiểu, đa ngôn ngữ, phù hợp với đặc điểm văn hóa, pháp lý và nhu cầu tiếp nhận của công chúng sở tại.Hỗ trợ thực hiện xây dựng hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, khả thi và dễ tiếp cận; góp phần chủ trương, chính sách và pháp luật được thực thi hiệu lực, hiệu quả.
Kết nốiThiết lập và củng cố sự liên kết giữa thanh niên với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức Đoàn, Hội, hội đoàn người Việt Nam, chuyên gia, cơ sở giáo dục và cộng đồng sở tại.Mở rộng sự tham gia của Nhân dân; tăng cường phối hợp giữa Nhà nước và xã hội; phát huy đối ngoại nhân dân và nâng cao hiệu quả thông tin đối ngoại về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Kiến tạoChuyển tri thức và liên kết mạng lưới thành sản phẩm truyền thông tích cực, sáng kiến cộng đồng, hoạt động chuyển giao tri thức, góp ý và phản hồi chính sách.Phát huy quyền làm chủ và năng lực tham gia của Nhân dân; bổ sung sáng kiến, tri thức cho quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW và Nghị quyết số 27-NQ/TW.

3. Quan điểm và giải pháp

3.1. Quan điểm

Phát huy vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian số phải được xác định là nhiệm vụ có tính lâu dài, thường xuyên, được tổ chức trên nền tảng pháp quyền, tri thức, công nghệ và sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội và chính thanh niên. Mục tiêu xuyên suốt là chuyển hóa tiềm năng tri thức, năng lực số và khả năng kết nối xuyên biên giới của thế hệ trẻ thành một nguồn lực có tổ chức, có trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Do vậy, để tiếp tục phát huy vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các quan điểm được đề xuất, gồm:

Một là, tiếp tục khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới; đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” (Bộ Chính trị, 2026).  

Hai là, kiên định phương châm lấy “xây” làm nền tảng, “chống” có trọng tâm, đúng đối tượng và dựa trên bằng chứng. “Xây” phải được đặt ở vị trí chủ động, căn bản và lâu dài, thể hiện ở việc cung cấp thông tin chính xác, củng cố tri thức chính trị, pháp lý, giải thích thuyết phục chủ trương, chính sách, lan tỏa những giá trị tích cực và kiến tạo môi trường đối thoại lành mạnh. “Chống” phải được tiến hành trên cơ sở nhận diện đúng bản chất vấn đề, kiểm chứng đầy đủ nguồn tin, sử dụng chứng cứ đáng tin cậy và lựa chọn phương thức biểu đạt phù hợp với từng nhóm công chúng.

Ba là, xác định thanh niên là chủ thể tham gia và đồng kiến tạo, không chỉ là đối tượng tập hợp, tuyên truyền hoặc tiếp nhận thông tin. Thanh niên cần được tham gia ngay vào tất cả các khâu, giai đoạn của công tác bảo vệ nền tảng tư của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bốn là, quán triệt đầy đủ nguyên tắc pháp quyền trong mọi hoạt động. Mỗi nội dung được sản xuất, mỗi thông tin được chia sẻ và mỗi hành động được triển khai phải bảo đảm đúng pháp luật, minh bạch về nguồn tin, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, bảo vệ dữ liệu cá nhân và gắn với trách nhiệm giải trình. Đối với thanh niên Việt Nam ở nước ngoài, yêu cầu này còn bao gồm việc tôn trọng pháp luật, văn hóa và chuẩn mực xã hội của nước sở tại, cũng như quy định của cơ sở giáo dục, nơi làm việc và nền tảng số.

Năm là, tổ chức hoạt động theo phương thức quản trị mạng lưới, bảo đảm sự điều phối thống nhất nhưng đồng thời phát huy tính chủ động, linh hoạt của từng địa bàn. Cơ quan nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, cung cấp định hướng, dữ liệu chính thống và chuẩn mực hoạt động; cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cùng các tổ chức Đoàn, Hội làm đầu mối kết nối và điều phối tại địa bàn; đội ngũ chuyên gia bảo đảm chất lượng khoa học, chính trị và pháp lý; thanh niên trực tiếp sáng tạo nội dung, tổ chức sáng kiến và tiếp cận công chúng. Sự phân công phải rõ trách nhiệm nhưng không hành chính hóa mạng lưới; sự điều phối phải thống nhất nhưng không làm suy giảm tính sáng tạo và tự nguyện của người tham gia.

3.2. Giải pháp

Từ các luận điểm, quan điểm trên, một số giải pháp phát huy vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là:

Thứ nhất, cụ thể hóa Khung phân tích “5K” thành chương trình phát triển năng lực có hệ thống và phân tầng theo đối tượng. Nội dung chương trình cần bao quát kiến thức chính trị, pháp lý; nhận thức về Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; kỹ năng đánh giá nguồn tin, kiểm chứng dữ liệu; năng lực truyền thông đa ngôn ngữ, giao tiếp liên văn hóa; bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực hành đạo đức số. Chương trình có thể được thiết kế theo ba cấp độ: cơ bản dành cho hội viên và thanh niên tham gia hoạt động cộng đồng; nâng cao dành cho cán bộ Đoàn, Hội và người sáng tạo nội dung; chuyên sâu dành cho nhóm điều phối, kiểm chứng và xử lý các vấn đề phức tạp.

Thứ hai, xây dựng hạ tầng thông tin chính thống, đa ngôn ngữ, dễ tiếp cận và có khả năng tái sử dụng. Hình thành kho tài nguyên dùng chung, bao gồm dữ liệu chính sách đã được xác minh, chuyên mục hỏi- đáp, bản giải thích ngắn, đồ họa thông tin, video, danh mục chuyên gia và hướng dẫn xử lý thông tin sai lệch. Đồng thời, phải có đầu mối tiếp nhận phản ánh và cơ chế xử khi phát hiện sai sót. Tính mở của dữ liệu cần được đặt trong giới hạn của pháp luật, bảo đảm bí mật nhà nước, bản quyền và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới phối hợp ba tầng theo mô hình “trung tâm – đầu mối – cộng đồng”. Tầng trung tâm, gồm: cơ quan phụ trách công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam và các cơ quan có chức năng về thông tin, truyền thông số; chịu trách nhiệm định hướng, hướng dẫn nghiệp vụ, tổ chức đào tạo, cung cấp dữ liệu và tổng hợp kết quả. Tầng đầu mối quốc gia hoặc khu vực gồm cơ quan đại diện Việt Nam, hội sinh viên cấp quốc gia, mạng lưới trí thức và các hội đoàn người Việt Nam; có nhiệm vụ điều phối theo đặc điểm từng địa bàn. Tầng cộng đồng gồm hội sinh viên tại các trường, câu lạc bộ chuyên môn, nhóm tình nguyện, cá nhân sáng tạo nội dung và cộng tác viên kiểm chứng.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình kiểm chứng và ứng phó với thông tin sai lệch. Quy trình cần được thực hiện theo sáu bước: phát hiện – kiểm chứng – phân loại – lựa chọn phương thức xử lý – truyền thông hoặc đối thoại – theo dõi và đánh giá. Tùy theo tính chất và mức độ ảnh hưởng của nội dung để có phương thức xử lý phù hợp. Đối với những vấn đề phức tạp, cần có sự rà soát của chuyên gia trước khi công bố. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tổng hợp, dịch thuật hoặc phát hiện dấu hiệu bất thường, nhưng không thể thay thế con người trong việc kiểm tra, thẩm định và chịu trách nhiệm cuối cùng.

Thứ năm, đẩy mạnh truyền thông chính sách dựa trên đối thoại và phản hồi. Có thể tổ chức các diễn đàn giải thích chính sách, chương trình “mỗi tháng một chính sách”, bản tin pháp luật dành cho người Việt Nam ở nước ngoài… Cần hình thành một vòng phản hồi khép kín: tiếp nhận – phân loại – chuyển đến cơ quan có thẩm quyền – theo dõi – trả lời. Khi tiếng nói của thanh niên được lắng nghe họ sẽ chuyển từ vị trí người nhận thông tin sang vị trí người tham gia quản trị và đồng kiến tạo chính sách.

Thứ sáu, ban hành bộ nguyên tắc pháp lý và đạo đức ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện. Bộ nguyên tắc cần bao gồm các yêu cầu cốt lõi: thông tin phải chính xác và có nguồn; không xuyên tạc hoặc cắt ghép; không xúc phạm, đe dọa hay công kích cá nhân; không công khai dữ liệu cá nhân trái pháp luật; không giả danh cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; công khai phù hợp khi trí tuệ nhân tạo được sử dụng ở mức độ đáng kể; chủ động sửa sai; đồng thời, tôn trọng pháp luật nước sở tại và quy định của nơi học tập, làm việc.

Các nhóm giải pháp nêu trên không tồn tại biệt lập mà hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Đó cũng là cơ sở để thanh niên Việt Nam ở nước ngoài phát huy đầy đủ trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng cống hiến trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

4. Kết luận

Thanh niên Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là một bộ phận gắn bó của cộng đồng dân tộc, mà còn là nguồn lực trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đưa Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian số cần đáp ứng yêu cầu căn bản và lâu dài là phải chủ động “xây”: xây dựng nền tảng tri thức, củng cố năng lực kiểm chứng, nâng cao khả năng kiến giải chính sách, mở rộng kết nối xã hội và kiến tạo những giá trị tích cực phục vụ cộng đồng.

Từ góc độ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, ý nghĩa đóng góp của lực lượng này được thể hiện ở việc nâng cao khả năng tiếp cận thông tin chính xác; bồi đắp ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; mở rộng các kênh tham gia và phản hồi chính sách; tăng cường hiệu quả thông tin đối ngoại; đồng thời củng cố niềm tin xã hội trên nền tảng sự thật, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đây chính là điểm gặp gỡ giữa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Phát huy đúng đắn vai trò của thanh niên Việt Nam ở nước ngoài vừa huy động thêm một lực lượng tham gia truyền thông, khơi thông một nguồn lực, nuôi dưỡng trách nhiệm công dân và củng cố mối liên hệ bền chặt giữa thế hệ trẻ với Tổ quốc vừa làm cho thanh niên Việt Nam ở nước ngoài trở thành cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới, là chủ thể tham gia, đồng sáng tạo và có trách nhiệm đối với đời sống chính trị, xã hội của Tổ quốc.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Ngoại giao (2026). Đẩy mạnh toàn diện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, tạo động lực hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước. Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, ngày 12/4/2026. https://vnconsulate-vladivostok.mofa.gov.vn/vi/web/guest/tin-chi-tiet/chi-tiet/day-manh-toan-dien-cong-tac-doi-voi-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-tao-dong-luc-hien-thuc-hoa-cac-muc-tieu-phat-trien-cua-tp-ho-chi-minh-va-ca-nuoc-59409-140.html (truy cập ngày 31/7/2026).
Bộ Chính trị (2004). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ Chính trị (2015). Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Chính phủ (2021). Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 31/12/2021 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021 – 2026.
Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2024). Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.