Chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích đất nông nghiệp khác gắn với phát triển bền vững ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Conversion of paddy land to other agricultural uses for sustainable development in the Mekong Delta

TS. Trần Thị Thu Hương
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: huongciem@gmail.com
TS. Nguyễn Thị Thanh Hương
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, việc chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích nông nghiệp khác là xu hướng tất yếu và đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với góc nhìn đa chiều trong mối quan hệ tổng thể giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, thị trường và cơ chế, chính sách, bài viết tập trung xem xét những thuận lợi và nhận diện những khó khăn trong việc chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích nông nghiệp khác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời gợi mở một số giải pháp chính sách, bao gồm: nâng cao năng lực thích ứng của nông hộ; chuyển đổi mô hình sản xuất gắn với tích tụ, tập trung đất đai; tổ chức sản xuất theo chuỗi; quản trị rủi ro biến đổi khi hậu, nguồn nước và biến động giá; và hài hòa giữa mục tiêu an ninh lương thực quốc gia và chi phí cơ hội bảo vệ đất trồng lúa.

Từ khóa: Chuyển đổi đất trồng lúa; mục đích nông nghiệp khác; Đồng bằng sông Cửu Long.

Abstract: In the context of climate change, urbanization, industrialization, and the need to improve the efficiency of agricultural land use, the conversion of rice-land to other agricultural uses is an inevitable trend occurring in many countries, including the Mekong Delta. From a multifaceted perspective, considering the overall relationship among natural conditions, economic conditions, markets, and mechanisms and policies, this article examines the advantages and difficulties of converting rice land to other agricultural purposes in the Mekong Delta. It also suggests several policy solutions, including: enhancing the adaptive capacity of farming households; transforming production models associated with land consolidation and concentration; organizing production along value chains; managing climate change risks, water resources, and price fluctuations; and harmonizing national food security goals with the opportunity costs of protecting rice-land.

Keywords: Conversion of rice-land, Alternative agricultural purposes, Mekong Delta.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế nông nghiệp là ngành chủ lực ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bởi đây là ngành tạo ra sinh kế cho hơn 50% dân cư của vùng và chiếm khoảng 82,67% diện tích tự nhiên của vùng (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Thậm chí, đến năm 2030, vùng vẫn đặt mục tiêu “trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới”. Trong giai đoạn 2017-2024, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có 736.689 ha đất trồng lúa chuyển sang đất nông nghiệp khác, trong đó chuyển đổi sang đất trồng cây hằng năm chiếm 65,85% tổng diện tích đất chuyển đổi. Quá trình chuyển đổi này góp phần khai thác tốt hơn lợi thế sinh thái của từng vùng, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân và gia tăng hiệu quả sử dụng đất.

Tuy nhiên, thực tiễn những năm gần đây cho thấy diện tích đất trồng lúa có xu hướng giảm, trong đó có không ít trường hợp chuyển đổi diễn ra tự phát, chưa phù hợp với quy hoạch và định hướng phát triển. Điều này dẫn đến nhiều hệ lụy đối với cả công tác quản lý nhà nước và phát triển nông nghiệp bền vững. Đặc biệt, việc chuyển đổi dẫn đến tình trạng phát triển quá nhanh về diện tích nuôi trồng, trong khi thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội địa, khiến cung vượt cầu. Tình trạng điệp khúc giá nông sản “nhảy múa” thất thường vẫn diễn ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, khiến người làm nông luôn trong tâm trạng “vừa mừng, vừa lo”, nên sản xuất khó trở nên bền vững. Đáng lưu ý, việc chuyển đổi sang trồng cây lâu năm trên đất trồng lúa khiến nhiều hộ sản xuất không quay lại trồng lúa, vì thế, có khả năng dẫn đến diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp theo thời gian.

Bài viết tập trung xem xét những thuận lợi và nhận diện những khó khăn trong việc chuyển đổi đất trồng lúa sang các mục đích nông nghiệp khác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trong vùng.

2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận hệ thống nhằm xem xét quá trình chuyển đổi đất trồng lúa sang đất nông nghiệp khác trong mối quan hệ tổng thể giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, thị trường và cơ chế, chính sách. Thông qua cách tiếp cận này, nghiên cứu phân tích mối liên kết giữa các yếu tố nêu trên, đồng thời xem xét những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong quá trình chuyển đổi đất trồng lúa. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh để có góc nhìn đa chiều về việc chuyển đổi đất trồng lúa sang các loại đất nông nghiệp khác.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Những thuận lợi trong chuyển đổi

Thứ nhất, vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng có địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng và hệ sinh thái đa dạng (vùng nước ngọt, vùng nước lợ và vùng nước mặn) do được hình thành từ quá trình bồi tích phù sa của sông Mê Kông và các nhánh sông trước khi đổ ra Biển Đông. Vùng có nền nhiệt độ ổn định quanh năm, với mức dao động trung bình 25-27 độ C; khí hậu nhiệt đới ôn hòa. Đây là điều kiện thuận lợi cho phép chuyển đổi linh hoạt sang nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp khác nhau, đặc biệt là các mô hình xen canh hoặc luân canh (lúa – tôm, lúa – cá,…) mà không phải thay đổi hoàn toàn kết cấu sử dụng đất. Đây cũng chính là điểm mạnh mà các vùng khác ở Việt Nam không có.

Thứ hai, là vùng đi đầu triển khai chuyển đổi đất trồng lúa sang các mô hình sản xuất nông nghiệp khác của cả nước, nên các nông hộ và chính quyền địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn sản xuất, đặc biệt là quy trình kỹ thuật và các mô hình mẫu, mô hình tham khảo tiêu biểu. Trước tác động của xâm nhập mặn tại các vùng ven biển ngày càng mạnh mẽ, thay vì cố ngăn mặn để trồng lúa, các nông hộ đã sáng tạo, tận dụng nước lợ/nước mặn để nuôi tôm, cá hoặc kết hợp sản xuất xen canh, luân canh nhằm hạn chế suy thoái đất, sâu bệnh, đa dạng hóa nguồn thu…

Thứ ba, vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước do vùng giữ vai trò sống còn đối với an ninh lương thực (ANLT) quốc gia và chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu (biến đổi khí hậu). Chủ trương và chính sách trong phát triển nông nghiệp đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển từ tư duy “ưu tiên cây lúa” sang tư duy nông nghiệp đa giá trị, thích ứng với biến đổi khí hậu và linh hoạt trước các điều kiện sinh thái. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi một phần đất trồng lúa sang các loại hình sản xuất nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, vùng được đầu tư hệ thống giao thông nội đồng, hệ thống hạ tầng thủy lợi (đê bao, cống kiểm soát mặn, kênh dẫn nước, hệ thống tiêu thoát nước…) và các hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp khác. Chính vì vậy, nhìn chung, hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long tương đối hoàn thiện và có bước phát triển so với nhiều vùng khác trong cả nước.

Thứ tư, theo dự báo của WB (2016) cơ cấu tiêu thụ giữa các loại lương thực thực phẩm thay đổi khi thu nhập tăng; đô thị hóa tiếp diễn và sự thay đổi thể hiện: tăng tiêu thụ thực phẩm phi ngũ cốc (như: rau, quả, protein động vật, hạt,…); tăng tiêu thụ thực phẩm chế biến để nấu tại nhà; và tăng tiêu thụ thực ăn làm sẵn. Đồng thời, báo cáo WB (2016) cũng dự báo rằng nhóm dân cư đô thị và nhóm thu nhập cao ở toàn bộ khu vực Đông Á và Đông Nam Á sẽ giảm tiêu thụ gạo; trong khi đó, các sản phẩm chăn nuôi, cá, rau, quả sẽ được tiêu thụ mạnh ở hai khu vực này. Riêng đối với mức tiêu thụ gạo trên đầu người tại Việt Nam, WB (2016) dự kiến sẽ giảm 10-30% trong 2 thập kỷ tới. Như vậy, xu hướng tiêu dùng này sẽ tạo cơ hội cho ngành nông nghiệp Việt Nam đa dạng hóa sản phẩm, giảm áp lực duy trì diện tích trồng lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời mở ra cơ hội chuyển đổi sang nhiều loại hình sản xuất nông nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với việc độc canh lúa.

Thứ năm, phát triển kinh tế xanh nói chung và nông nghiệp xanh nói riêng là một xu hướng tất yếu đang được nhiều quốc gia theo đuổi và là yêu cầu bắt buộc trong sản xuất hàng hóa. Xu hướng phát triển nông nghiệp xanh buộc các chủ thể có liên quan phải tái cấu trúc hoạt động sản xuất, đặc biệt chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao và ứng dụng nhiều mô hình xen canh, sinh thái, tuần hoàn (lúa-tôm, lúa-cá, lúa-rau,…) hay áp dụng phương thức cánh tác lúa theo hướng “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”,..

3.2. Những khó khăn, thách thức trong chuyển đổi

Thứ nhất, việc chuyển đổi mô hình từ trồng lúa truyền thống sang các mô hình sản xuất nông nghiệp khác thường đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn hơn (như: cải tạo đất, mua/thuê máy móc, thiết bị, mua giống,…), đặc biệt là chuyển từ trồng lúa sang cây lâu năm thường không chỉ đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà thời gian thu hồi vốn dài. Trong khi đó, các nông hộ gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ưu đãi do thủ tục (hoặc yêu cầu tài sản thế chấp hoặc phải có đề xuất phương án sản xuất kinh doanh…). Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, tỷ lệ hộ có nhu cầu vay vốn trong tổng số hộ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2024 là 19,6%. Tuy nhiên, trong số này chỉ có 59,92% hộ được vay vốn. Trong năm 2024, đã có 228,9 nghìn lượt hộ của vùng được vay vốn ưu đãi theo các chương trình, dự án, tương ứng với khoảng 6,72% tổng số hộ nông dân trong vùng (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương, 2026). Bên cạnh đó, nghiên cứu của Phạm Ngọc Nhàn (2021) đã chỉ ra rằng 18,7% tổng số nông hộ trả lời phiếu khảo sát cho rằng thiếu vốn sản xuất là một trong những khó khăn khi chuyển đổi các mô hình canh tác trên đất trồng lúa. Ngoài ra, một bộ phận nông hộ có tâm lý ngại rủi ro nợ nần nên vẫn duy trì phương thức sản xuất cũ và ngại chuyển đổi.

Thứ hai, việc chuyển từ trồng lúa sang các mô hình nông nghiệp khác đòi hỏi kỹ thuật canh tác khắt khe hơn, đặc biệt là kỹ năng quản lý dịch bệnh trên cây ăn trái hoặc kỹ năng nuôi thủy sản công nghệ cao. Trong khi đó, nghiên cứu của Phạm Ngọc Nhàn (2021) đã chỉ ra rằng có tới 19,1% số người được hỏi cho rằng họ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi mô hình canh tác trên đất trồng lúa do không nắm vững kỹ thuật canh tác các loại cây trồng mới. Khi tập quán canh tác truyền thống ăn sâu, một bộ phận nông hộ gặp khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật mới cho cây trồng cạn hoặc nuôi thủy sản. Bên cạnh đó, canh tác mô hình trồng màu trên ruộng lúa thường đòi hỏi nhiều lao động do phải chăm sóc và tưới tiêu hằng ngày. Do vậy, đối với các nông hộ thiếu hụt nguồn lực lao động, đây là một trong những khó khăn lớn khi chuyển đổi mô hình. Ngoài ra,vùng đồng bằng sông Cửu Long đang chứng kiến một thực tế: độ tuổi của người nông dân ngày càng cao do lực lượng lao động trẻ không còn mặn mà với công việc nông nghiệp. Cụ thể, tỷ lệ lao động dưới 35 tuổi giảm từ 45,5% (năm 2012) xuống còn 38,9% (năm 2017), và tỷ lệ lao động trên 50 tuổi lại tăng từ 20,7% lên 26,8% (Thanh Thanh, 2019). Tương tự, trong giai đoạn 2020 – 2024, trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 – 250.000 người lao động từ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long di cư đến các vùng công nghiệp; trong đó, nhóm tuổi từ 18 – 35 chiếm hơn 70% (Phương Uyên, 2025). Tình trạng thiếu nhân lực trẻ am hiểu công nghệ tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã khiến tiến trình cơ giới hóa và chuyển đổi số trong nông nghiệp ngày càng gặp nhiều khó khăn. Điều này có thể làm chậm quá trình tiến lên nền nông nghiệp thông minh và hiện đại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ ba, quy mô đất sản xuất còn nhỏ lẻ khiến việc cơ giới hóa, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất tại vùng đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều hạn chế; do vậy, công việc trồng lúa trở nên nặng nhọc, năng suất không cao, sức lao động của người nông dân trồng lúa không tương xứng với thành quả lao động. Nghiên cứu của (Cao Văn Hơn, 2022) đã nhận định rằng có tình trạng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf được xây dựng ở một số khu vực liền kề hoặc ngay trong khu vực đồng ruộng trồng lúa màu mỡ (như trường hợp của Hậu Giang cũ), làm thay đổi tính chất đất và nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất lúa xung quanh. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mô hình từ trồng lúa truyền thống sang các mô hình sản xuất nông nghiệp khác trong một số trường hợp mang tính phong trào. Hiện tượng các hộ nông dân chuyển đổi tự phát khi thấy các hộ lân cận đạt kết quả tốt mà không tính toán kỹ đến sự phù hợp của đất đai, rủi ro về đầu ra sản phẩm (thị trường), kỹ thuật chăm sóc…  không phải là hiếm. Nghiên cứu của Phạm Ngọc Nhàn (2021) cho thấy có tới 17,4% trong tổng số nông hộ được hỏi cho rằng việc chuyển đổi là do “làm theo hàng xóm”.

Thứ tư, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã và vẫn đang chứng kiến hiện tượng biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn và tình trạng thiếu nước ngọt. Điều này đang gây ra những thách thức đối với ngành lúa gạo, khiến năng suất lúa giảm đáng kể; mức sụt giảm năng suất lúa so với kịch bản không xảy ra biến đổi khí hậu là 4,2% (WB, 2016). Đến năm 2030, khoảng 45% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị nhiễm mặn, gây thiệt hại khoảng 17 tỷ USD (WB, 2022). Nghiên cứu của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khi hậu của Liên Hợp quốc (IPPC) và WB cảnh báo, lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm không còn khả năng canh tác và những năm lũ lớn sẽ có khoảng trên 90% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4-5 tháng, trong đó chủ yếu là đất lúa bị ngập hoặc nhiễm mặn không thể sản xuất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2026:99-100).

Thứ năm, vùng đồng bằng sông Cửu Long có vai trò đầu tàu trong phát triển nông nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng lại phụ thuộc rất lớn vào dòng chảy của hệ thống sông Mê Kông. Những năm gần đây, nguồn nước trở nên thiếu ổn định do chịu tác động đồng thời của các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn; nhu cầu tưới tiêu ngày càng tăng của các quốc gia trong lưu vực; biến đổi khí hậu làm thay đổi chế độ dòng chảy, giảm lượng phù sa; và sự xuất hiện của xâm nhập mặn và nước biển dâng. Điều này khiến một số khu vực của vùng đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn, từ đó làm gia tăng rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp. Trong số các cây trồng, lúa là một trong những cây trồng sử dụng lượng nước khá lớn, từ giai đoạn mạ, đẻ nhánh, làm đòng đến trỗ và chín. Nghiên cứu của Bouman & cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng, khoảng 1/4 đến 1/3 nguồn nước ngọt trên thế giới được sử dụng để trồng lúa, vì sản xuất 1 kg thóc cần khoảng 2.500 lít nước. Theo Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRI), để sản xuất 1 kg lúa cần 3.000 – 5.000 lít nước, và ước tính 1 ha lúa với năng suất khoảng 7 tấn cần khoảng 30.000 m³ nước ngọt (Ngọc Dung, 2015).

Thời gian qua, nhiều quốc gia châu Á, vốn là trung tâm sản xuất lúa gạo toàn cầu, đang chứng kiến sự suy giảm diện tích đất trồng lúa. Tại Indonesia, theo ước tính, diện tích đất trồng lúa ở 2 “vựa lúa” Java và Sumatra đã giảm 2,4% trong giai đoạn 2010-2017 (Harjanti & Hara, 2020). Nhật Bản cũng ghi nhận sự gia tăng diện tích đất lúa bị bỏ hoang, ảnh hưởng đến ANLT và đa dạng sinh học (Koshida & Katayama, 2018). Trung Quốc, dù là nhà sản xuất lúa gạo lớn nhất, cũng đã chuyển đổi nhiều ruộng lúa sang đất khô để trồng ngô và các loại cây trồng thương mại khác vào đầu những năm 2000 (Yuan & cộng sự, 2018). Như vậy, dưới sức ép của nguồn nước ở hạ lưu sông Mê Kông ngày càng khan hiếm, việc này đã đặt ra thách thức không chỉ đối với sản xuất lúa mà còn đối với yêu cầu đổi mới tư duy trong quản lý đất trồng lúa.

Thứ sáu, thời gian qua, Việt Nam đã tham gia ký kết và thực thi 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 65 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, trong đó có hầu hết các quốc gia và các nền kinh tế lớn trên thế giới. Các FTA đã tạo động lực, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, trong đó có một nhóm cây trồng có giá trị kinh tế cao (như: sầu riêng, bưởi, xoài, chanh leo, thanh long, rau quả, hoa, cây dược liệu,…), qua đó tạo động lực để các nông hộ chuyển một phần hoặc toàn bộ đất trồng lúa sang các loại cây trồng khác. Tuy nhiên, việc tham gia các FTA không đồng nghĩa với việc các sản phẩm nông nghiệp sẽ dễ dàng và tự động được xuất khẩu, bởi đi kèm với các FTA là các yêu cầu về chất lượng ngày càng cao. Thị trường xuất khẩu thường đặt ra các yêu cầu về: truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, chứng nhận môi trường, phát thải carbon, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tiêu chuẩn kỹ thuật… Do vậy, khi sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo hướng hiện đại, cơ hội tận dụng FTA càng lớn. Trong khi đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ nông hộ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo mô hình sản xuất đơn lẻ, thiếu liên kết và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Thứ bảy, nông sản là nhóm hàng hóa có biến động giá khá mạnh và khó dự báo hơn so với nhiều loại hàng hóa công nghiệp do những đặc điểm riêng của sản xuất nông nghiệp và thị trường. Giá nông sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thường chịu tác động đồng thời của các yếu tố tự nhiên (nhiệt độ, hạn hán và thiếu nước ngọt, xâm nhập mặn diễn ra sớm hơn và sâu hơn, nước biển dâng, sâu bệnh,…), tính thời vụ (nhiều loại nông sản thu hoạch tập trung trong một khoảng thời gian khá ngắn), khả năng điều chỉnh cung chậm (do cần một quá trình sản xuất nên không thể tăng cung sản lượng ngay), nhu cầu tiêu dùng ít co giãn và sự phụ thuộc ngày càng lớn vào thị trường quốc tế (lúa gạo, trái cây và thủy sản vùng đồng bằng sông Cửu Long là những mặt hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn). Những đặc điểm này vừa làm cho tín hiệu giá trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, vừa làm gia tăng rủi ro đối với người sử dụng đất khi quyết định chuyển đổi chỉ dựa trên các đợt tăng giá trong ngắn hạn.

4. Kết luận và một số gợi ý chính sách

Quá trình chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích nông nghiệp khác ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra trong bối cảnh đan xen giữa nhiều cơ hội và thách thức. Vùng có lợi thế đáng kể về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm chuyển đổi, hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất và sự quan tâm đầu tư của Nhà nước. Đồng thời, xu hướng giảm nhu cầu tiêu dùng lúa gạo, cùng với yêu cầu phát triển nông nghiệp xanh, mở ra cơ hội tái cơ cấu sản xuất theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị gia tăng và sử dụng tài nguyên đất hiệu quả hơn. Tuy nhiên, các rào cản đối với chuyển đổi (như: hạn chế về vốn, kỹ thuật, lao động, nguồn nước, quy mô đất sản xuất nhỏ lẻ và mức độ liên kết thấp,…) cho thấy việc chuyển đổi không chỉ là vấn đề thay đổi đối tượng sản xuất mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện về tổ chức sản xuất, năng lực của nông hộ và liên kết thị trường. Do đó, các chính sách trong thời gian tới cần hướng đến việc nâng cao năng lực thích ứng của người sản xuất, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, hỗ trợ đổi mới công nghệ và hoàn thiện các công cụ quản trị rủi ro nhằm bảo đảm hiệu quả và tính bền vững của quá trình chuyển đổi.

Thứ nhất, nâng cao năng lực thích ứng của các nông hộ cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ giống, vật tư sang đào tạo kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý dịch bệnh, sử dụng công nghệ số, ghi chép nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư vào các chương trình nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao khoa học, công nghệ và xây dựng các mô hình trình diễn trong nông nghiệp, phù hợp với điều kiện của từng tiểu vùng sinh thái. Đồng thời, đổi mới và tăng cường dịch vụ khuyến nông theo hướng tư vấn thường xuyên, gắn với từng mô hình chuyển đổi thay vì tập huấn ngắn hạn.

Thứ hai, việc chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích nông nghiệp khác phải đi cùng với chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng gắn với tích tụ, tập trung đất đai và hiện đại hóa sản xuất, nhằm khắc phục tình trạng quy mô đất nhỏ lẻ và sản xuất phân tán. Theo WB (2016), diện tích đất bình quân của một hộ trồng lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long còn khiêm tốn, chỉ khoảng 1,2 ha. Do đó, chính sách cần thiết kế theo hướng chỉ ưu tiên hỗ trợ mạnh cho vùng sản xuất tập trung và có liên kết (như: đưa ra các gói hỗ trợ khi áp dụng cơ giới hóa; hỗ trợ chứng nhận VietGAP, hữu cơ, mã số vùng trồng đối với nhóm hộ hay hợp tác xã; ưu tiên vay vốn lãi suất thấp cho hộ tham gia liên kết sản xuất; ưu tiên hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp cho vùng nguyên liệu tập trung;…). Ở những khu vực đã hình thành vùng sản xuất tập trung, nhà nước ưu tiên đầu tư thêm các hạ tầng bổ trợ như: cải tạo giao thông nội đồng đủ cho máy móc lớn hoạt động; đầu tư kho lạnh, trạm sấy, trung tâm logistics; xây dựng hệ thống điện, tưới tiêu đồng bộ…

Thứ ba, chuyển đổi chỉ bền vững khi đi kèm với tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến và xây dựng thương hiệu nông sản, thủy sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chính sách chuyển đổi cần chú trọng đến việc tạo cơ chế để nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp được cung cấp thông tin thị trường đầy đủ, cập nhật và thường xuyên; đảm bảo nâng cao chất lượng công tác dự báo nhu cầu tiêu thụ nông sản;… Bên cạnh đó, nhà nước cần ban hành một số cơ chế, chính sách như: hỗ trợ tín dụng cho những chuỗi thực hiện đúng cam kết trong ít nhất vài vụ liên tiếp; hỗ trợ rủi ro khi có thiên tai, bệnh dịch và biến động giảm giá quá mạnh so với hợp đồng;… đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hợp đồng liên kết giữa nông dân/hợp tác xã với doanh nghiệp, có cơ chế xử phạt nghiêm các bên vi phạm cam kết để đảm bảo hợp đồng liên kết chuỗi triển khai bền vững. Ngoài ra, hợp tác xã cũng cần sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản trị, tài chính và thương mại để trở thành tổ chức đại diện thực chất cho các hộ nông dân là thành viên.

Thứ tư, hiện nay các yếu tố rủi ro từ biến đổi khí hậu, nguồn nước và biến động giá là những yếu tố mà các nông hộ khó kiểm soát. Vì vậy, chính sách cần tập trung phát triển bảo hiểm nông nghiệp, hệ thống cảnh báo hạn hán, xâm nhập mặn, dự báo thị trường nông sản, đồng thời mở rộng các chương trình tín dụng ưu đãi đối với các mô hình có thời gian hoàn vốn dài nhằm giảm áp lực tài chính trong giai đoạn chuyển đổi. Bên cạnh đó, để giảm thiểu rủi ro biến động giá, việc nâng cao năng lực bảo quản, chế biến và logistics chính là chìa khóa quan trọng; tuy nhiên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện vẫn còn yếu về năng lực này.

Thứ năm, việc chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích nông nghiệp khác phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia nhưng không đồng nghĩa với việc duy trì diện tích lúa một cách cứng nhắc. An ninh lương thực là bảo đảm khả năng cung ứng lương thực ổn định trong dài hạn, theo đó, chú trọng vào năng lực sản xuất lúa quốc gia (tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch giảm hơn…) và duy trì diện tích lúa hợp lý. Chính sách cần chuyển từ cơ chế bảo vệ đồng đều toàn bộ đất lúa sang cơ chế bảo vệ có trọng tâm đối với các vùng lúa chiến lược. Để bảo vệ vùng lúa chiến lược, cần rà soát mức hỗ trợ phù hợp với chi phí và rủi ro thực tế; đồng thời chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang cơ chế hỗ trợ dựa trên kết quả, theo đó, không chỉ hỗ trợ chi phí sản xuất mà cần xây dựng cơ chế khuyến khích gắn với các kết quả cụ thể (hỗ trợ gắn với giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên, truy xuất nguồn gốc, tận dụng phụ phẩm, phát triển liên kết chuỗi và gia tăng giá trị sản phẩm).

Như vậy, để hài hòa giữa mục tiêu quốc gia (là an ninh lương thực, ổn định xã hội) và chi phí cơ hội của việc bảo vệ đất trồng lúa (địa phương mất cơ hội phát triển công nghiệp và đô thị; và người dân có thể có mức thu nhập thấp nếu giữ thế độc canh lúa), cần thiết lập cơ chế chia sẻ chi phí và lợi ích đối với việc bảo vệ đất lúa, trong đó nghiên cứu lồng ghép kết quả duy trì quỹ đất lúa, nâng cao chất lượng đất và phát triển sản xuất lúa bền vững vào cơ chế phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả phát triển của địa phương.

Tài liệu tham khảo:
* Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Điều tra khảo sát việc thực hiện chuyển đổi đất lúa sang đất nông nghiệp khác tại một số địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long”, do Viện Địa lý Nhân văn và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện.
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương (2026). Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Nxb Kinh tế – Tài chính.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2025). Báo cáo: Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (cập nhật). https://dcc.mae.gov.vn/bao-cao-ke-hoach-quoc-gia-thich-ung-voi-bien-oi-khi-hau-giai-oan-20212030-tam-nhin-en-nam-2050-cap-nhat-3738.htm.
Bouman, B. A. M., Humphreys, E., Tuong, T. P., & Barker, R. (2007). Rice and Water. In D. L. Sparks (Ed.), Advances in Agronomy (Vol. 92, pp. 187–237). Academic Press.
Cao Văn Hơn (2022). Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho các yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Cần Thơ.
Harjanti, L. T., & Hara, Y. (2020). The Determinants of Paddy Fields Conversion in Java and Sumatra. Journal of Economics & Public Policy, 3, 39–52.
Koshida, C., & Katayama, N. (2018). Meta-analysis of the effects of rice-field abandonment on biodiversity in Japan. Conservation Biology, 32, 1392–1402.
Ngọc Dung (2015). Giúp cây lúa thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. https://dantocmiennui.baotintuc.vn/giup-cay-lua-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-vung-dong-bang-song-cuu-long-post25595.html. Ngày truy cập 06/7/2026.
Phạm Ngọc Nhàn (2021). Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình canh tác trên đất lúa tại tỉnh Hậu Giang. Luận án tiến sĩ. Trường Đại học Cần Thơ.
Thanh Thanh (2019). Đào tạo nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long: Để không “lỗi nhịp” với thị trường. https://baophapluat.vn/dao-tao-nghe-vung-dong-bang-song-cuu-long-de-khong-loi-nhip-voi-thi-truong-post313945.html.
Uyên Phương (2025). Di cư lao động trẻ từ Đồng bằng sông Cửu Long là một bài toán khó. https://vneconomy.vn/di-cu-lao-dong-tre-tu-dong-bang-song-cuu-long-mot-bai-toan-kho.html.
WB (2022). Vietnam Country Climate and Development Report. https://www.ifc.org/content/dam/ifc/doc/mgrt/ccdr-overview-vietnamese.pdf.
WB (2016). Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016 – Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào. Nxb Hồng Đức.
Yuan, W., Liu, S., Liu, W., Zhao, S., Dong, W., Tao, F., et al. (2018). Opportunistic market-driven regional shifts of crop ping practices reduce food production capacity of China. Earth’s Future, 6, 634–642.