Bảo vệ chủ quyền tiền tệ quốc gia trong kỷ nguyên số

Protecting national monetary sovereignty in the digital age

ThS. Hoàng Hoa Sơn Trà
Đại học Văn Lang
Email: tra.hhs@vlu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Sự bùng nổ của các loại tài sản kỹ thuật số, đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân và xu hướng số hóa hệ thống thanh toán đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với chủ quyền tiền tệ của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bài viết hệ thống hóa các vấn đề về chủ quyền tiền tệ và rủi ro USD hóa kỹ thuật số dưới tác động cộng hưởng của sự thay đổi chính sách thúc đẩy các đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân của Hoa Kỳ và sự mong manh của hệ thống thị trường các đồng tiền mã hóa ổn định. Từ đó, ủng hộ giải pháp kiến tạo lá chắn tiền kỹ thuật số bán buôn nhằm hiện đại hóa hệ thống liên ngân hàng mà không gây rủi ro phi trung gian hóa tài chính và lộ trình thực hiện cơ chế thử nghiệm tiền kỹ thuật số cho TP. Hồ Chí Minh dựa trên các nền tảng lập pháp đột phá trong 2024 – 2025.

Từ khóa: Tiền kỹ thuật số bán buôn; USD hóa kỹ thuật số; chủ quyền tiền tệ; cơ chế thử nghiệm; Việt Nam; đồng tiền mã hóa ổn định

Abstract: The boom of digital assets, private stablecoins, and the digitalization trend of payment systems are posing unprecedented challenges to the monetary sovereignty of developing nations like Vietnam. This research systematizes issues of monetary sovereignty and the risk of digital dollarization under the combined impact of U.S. policy shifts that promote private stablecoins and the systemic fragility of the stablecoin market. Based on this analysis, the paper advocates creating a wholesale central bank digital currency (wCBDC) shield to modernize the interbank system without increasing financial disintermediation risks. Finally, it outlines an implementation roadmap for a digital currency sandbox in Ho Chi Minh City based on breakthrough legislative foundations during 2024 – 2025.

Keywords: a wholesale central bank digital currency (wCBDC); digital dollarization; monetary sovereignty; sandbox; Vietnam; stablecoins

1. Chủ quyền tiền tệ trong không gian số  

1.1. Sự tiến hóa số của tiền tệ

Lịch sử tiền tệ thế giới là một chuỗi liên tục các bước chuyển đổi về mặt công nghệ và thể chế, từ tiền hàng hóa đến tiền pháp định do nhà nước độc quyền kiểm soát. Tuy nhiên, sự xuất hiện của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và mật mã học phi tập trung đã thúc đẩy một bước chuyển dịch căn bản: khả năng tạo ra các phương tiện giao dịch giá trị ngang hàng (P2P) mà không cần thông qua bất kỳ định chế tài chính trung gian nào hoặc cơ quan quản lý nhà nước nào. Trạng thái phi biên giới và tự vận hành này tạo ra một thách thức chưa từng có đối với nguyên tắc chủ quyền tiền tệ Westphalia truyền thống – nguyên tắc xác lập mối liên kết chặt chẽ giữa độc quyền phát hành tiền tệ của ngân hàng trung ương và quyền lực hành pháp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia (Martino, 2024; Buchan & Üngör, 2026).

1.2. Khái niệm khu vực tiền tệ kỹ thuật số

Dưới tác động của số hóa, ranh giới địa lý của tiền tệ đang bị lung lay bởi sự hình thành các khu vực tiền tệ kỹ thuật số. Khác với các khu vực tiền tệ tối ưu truyền thống dựa trên sự gần gũi về địa lý và liên kết thương mại vật lý, một khu vực tiền tệ kỹ thuật số được thiết lập dựa trên quy mô mạng lưới của các nền tảng kỹ thuật số xuyên biên giới. Trong một khu vực tiền tệ kỹ thuật số, người dùng thực hiện giao dịch, hạch toán và lưu trữ giá trị bằng một đồng tiền số thống nhất (có thể là đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân hoặc một đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương nước ngoài phát hành) thông qua mạng Internet và các ứng dụng di động. Sự xuất hiện của khu vực tiền tệ kỹ thuật số cho phép các loại tiền tệ kỹ thuật số thâm nhập sâu vào cấu trúc kinh tế nội địa của một quốc gia khác, đe dọa trực tiếp đến độc quyền cung tiền và chủ quyền tài chính của nước sở tại (Brunnermeier, James, & Landau, 2019; Huang & Mayer, 2022; Martino, 2024; Buchan & Üngör, 2026).

1.3. Sự xói mòn độc quyền phát hành và độc quyền niềm tin

Về bản chất chính trị – kinh tế, tiền pháp định tồn tại được là nhờ vào độc quyền niềm tindo nhà nước kiến tạo và bảo trợ pháp lý. Lòng tin công chúng đặt vào tiền giấy truyền thống thực chất là lòng tin vào tính ổn định của hệ thống chính trị, năng lực điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ và cam kết bảo trợ tài khóa cuối cùng của ngân hàng trung ương (Martino, 2024; Buchan & Üngör, 2026).

Sự trỗi dậy của các tài sản mã hóa tư nhân đã mở ra một cuộc cạnh tranh trực tiếp về mặt thể chế niềm tin. Bằng cách sử dụng các thuật toán đồng thuận toán học và mã nguồn mở để bảo đảm tính toàn vẹn của sổ cái giao dịch, tiền mã hóa tư nhân chuyển dịch lòng tin của người dùng từ thể chế con người sang thể chế mật mã. Khi niềm tin của công chúng bị phân tán, độc quyền phát hành tiền tệ của ngân hàng trung ương bị suy giảm, dẫn đến việc mất dần khả năng truyền dẫn chính sách tiền tệ qua hệ thống ngân hàng thương mại (Martino, 2024; Buchan & Üngör, 2026).

2. Rủi ro của đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân

2.1. Giá trị các đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân

Để phòng ngừa sự biến động giá cực đoan của các tài sản mã hóa đời đầu như Bitcoin, thị trường đã tạo ra các đồng tiền mã hóa ổn định. Đồng tiền mã hóa ổn định được thiết kế để duy trì giá trị ổn định bằng cách neo vào một tài sản an toàn khác theo 4 cơ chế chính sau (Tạ Quang Đôn, 2022; Kosse et al., 2023): (1)Bảo chứng bằng tiền pháp định (fiat-backed): được hỗ trợ bởi các tài sản được định danh bằng tiền pháp định (như USD, EUR). Ví dụ: Tether (USDT), USD Coin (USDC). (2) Bảo chứng bằng tiền mã hóa (crypto-backed): được hỗ trợ bởi các loại tiền mã hóa khác, thường yêu cầu thế chấp quá mức để bù đắp rủi ro biến động. Ví dụ: Dai. (3) Bảo chứng bằng hàng hóa (commodity-backed): neo giá vào các loại hàng hóa như vàng. Ví dụ: PAX Gold, Tether Gold. (4) Không bảo chứng/Thuật toán (unbacked/algorithmic): duy trì giá trị thông qua các thuật toán điều chỉnh cung cầu mà không cần tài sản dự trữ thực tế.

Tuy nhiên, theo Kosse et al. (2023), không có đồng tiền mã hóa ổn định nào có khả năng duy trì tỷ giá neo ổn định tuyệt đối mọi lúc. Kết quả khảo sát 68 đồng tiền mã hóa ổn định phổ biến nhất trên toàn cầu trong giai đoạn 2013 – 2023 trong nghiên cứu trên cho thấy tất cả các đồng tiền này đều liên tục có các khoảng lệch neo sâu và kéo dài, bất kể chúng được bảo chứng theo hình thức nào. Ngay cả những đồng tiền mã hóa ổn định được coi là an toàn và có vốn hóa lớn nhất thị trường hiện nay là Tether (USDT) và USD Coin (USDC) cũng không tránh khỏi rủi ro hệ thống (xem Bảng 1).

Tether (USDT). Stablecoin lớn nhất thế giới này liên tục biến động giá trị từ năm 2020 đến nay. Độ lệch giá cuối ngày tối đa của Tether từng ghi nhận ở mức –1,8% và trong một số thời điểm biến động mạnh trong ngày, mức lệch giá từng chạm mốc –13% so với giá neo.

USD Coin (USDC). Được vận hành bởi tổ chức Circle và quảng bá là tuân thủ pháp lý cao, USDC cũng đã trải qua các cú sốc mất neo nghiêm trọng. Biên độ lệch giá cuối ngày lớn nhất của USDC từng ghi nhận là –3,4%. Đặc biệt, sự sụp đổ của Ngân hàng Thung lũng Silicon (Mỹ) vào đầu năm 2023 – nơi Circle ký gửi một phần tài sản bảo chứng đã kích hoạt một làn sóng rút vốn hoảng loạn, khiến giá trị USDC sụt giảm mạnh trên các sàn giao dịch phi tập trung trước khi có sự can thiệp của các cơ quan quản lý tại Hoa Kỳ.

2.2. Bản chất ngân hàng không được phòng vệ và rủi ro rút vốn hàng loạt

Về mặt cấu trúc tài chính, các đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân vận hành không có được bảo hiểm tiền gửi của nhà nước và thiếu hụt cơ chế người cho vay cuối cùng. Tài sản bảo chứng của các đồng tiền mã hóa ổn định này thường được đầu tư vào các công cụ tài chính ngắn hạn để kiếm lợi nhuận. Khi thị trường xảy ra khủng hoảng hoặc có sự nghi ngờ về tính trung thực của báo cáo dự trữ, người dùng sẽ đồng loạt thực hiện quyền chuyển đổi các đồng tiền mã hóa ổn định sang tiền pháp định. Do tài sản bảo chứng có độ thanh khoản kém hơn tiền mặt, tổ chức phát hành buộc phải bán tháo tài sản trong tình trạng thua lỗ. Sự thiếu hụt thanh khoản này ngay lập tức kích hoạt hiện tượng rút vốn kỹ thuật số hàng loạt, dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống giống như trường hợp của đồng thuật toán TerraUSD (UST) năm 2022 (Kosse et al., 2023; Martino, 2024). Do đó, đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân hoàn toàn không phải là một công cụ lưu trữ giá trị an toàn hay phương tiện thanh toán đáng tin cậy trong hệ thống vĩ mô quốc gia.

Bảng 1: Tài sản dự trữ cho các đồng tiền mã hóa ổn định

Đồng tiền mã hóa ổn địnhCơ chế bảo chứngĐại diện tiêu biểuĐặc điểm dự trữChính sách quy đổi
Bảo chứng bằng tiền pháp địnhTiền mặt, trái phiếu chính phủUSDT, USDC, PYUSDUSDT tăng dự trữ nợ công từ 44% lên 65%, BUSD & PYUSD có tỷ lệ Repo nghịch đảo cực cao (96-99%).Tether yêu cầu tối thiểu $100.000 và phí 0,1%
Bảo chứng bằng tiền mã hóaTài sản mã hóa (ETH, BTC)DAIBảo chứng quá đà, minh bạch nhưng biến động theo thị trường crypto.Tự động thông qua hợp đồng thông minh.
Bảo chứng bằng hàng hóaHàng hóa (Vàng)PAXG, XAUTPhụ thuộc vào tính thanh khoản của tài sản vật lý và thời gian xử lý ký gửi.Phụ thuộc vào giám định tài sản vật lý.
Không bảo chứng/Thuật toánThuật toán cung-cầuUSTC (Terra)Không có tài sản bảo chứng thực tế, dựa trên niềm tin vào thuật toán.Đã sụp đổ hoàn toàn vào tháng 5/2022.
Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Kosse et al. (2023)

3. Áp lực USD hóa kỹ thuật số và rủi ro đối với Việt Nam

3.1. Sự chuyển dịch lập pháp của Hoa Kỳ và tác động vĩ mô

Nghiên cứu của De Conti & Guttmann (2025) và Buchan & Üngör (2026) chỉ ra rằng, áp lực USD hóa kỹ thuật số đối với các nền kinh tế đang phát triển đã bước sang một giai đoạn mới đầy thử thách sau sự chuyển dịch lập pháp mang tính chiến lược của Hoa Kỳ vào tháng 7/2025. Thông qua việc ban hành Đạo luật GENIUS (Guiding and Establishing National Innovation for U.S. Stablecoins Act), Quốc hội Mỹ đã chính thức thiết lập khung pháp lý liên bang cho phép các doanh nghiệp tư nhân phát hành USD kỹ thuật số, đồng thời không cho phép Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) phát hành tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương bán lẻ trực tiếp đến người dân. Quyết định này thực chất là một chiến lược địa chính trị tài chính nhằm biến các đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân (như USDT, USDC) thành “cánh tay nối dài” để củng cố đặc quyền của đồng USD trong không gian số. Thay vì phát hành một đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương vốn vấp phải nhiều tranh cãi về quyền riêng tư, chính phủ Hoa Kỳ sử dụng sức mạnh đổi mới sáng tạo và mạng lưới tiếp thị của các tập đoàn công nghệ lớn để phổ biến đồng USD kỹ thuật số ra toàn cầu. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, sự hiện diện tự do của các đồng tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương thanh toán neo giá USD qua mạng Internet tạo ra nguy cơ xâm nhập sâu, dần thay thế nội tệ trong các giao dịch trực tuyến và tích lũy tài sản của người dân.

3.2. Khoảng trống thể chế và pháp lý tại Việt Nam

Kết quả khảo sát chuyên gia chỉ ra rằng, khung pháp lý là điều kiện tiền đề có mức độ sẵn sàng thấp nhất tại Việt Nam (đạt 6,16/10 điểm) (Trần Quang Hưng, 2026). Sự thiếu hụt này thể hiện rõ qua hai nút thắt pháp lý lớn: (1) Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 – Điều 17 chỉ quy định thẩm quyền độc quyền của Ngân hàng Nhà nước trong việc phát hành tiền giấy và tiền kim loại. Pháp luật hoàn toàn trống rỗng trong việc quy định thẩm quyền phát hành tiền pháp định dưới dạng số. Điều này tạo ra rào cản thể chế cực lớn khi Ngân hàng Nhà nước muốn triển khai đồng tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương một cách chính thức. (2) Bộ luật Dân sự năm 2015 – Điều 105 chưa định nghĩa rõ ràng về địa vị pháp lý của tài sản kỹ thuật số (Bùi Thanh Sơn, 2023; Trần Quang Hưng, 2026). Trong khi Ngân hàng Nhà nước ban hành lệnh cấm sử dụng tiền mã hóa làm phương tiện thanh toán, việc thiếu định nghĩa pháp lý khiến các cơ quan tư pháp lúng túng trong việc xử lý tranh chấp tài sản số, tạo kẽ hở để các giao dịch ngầm phát triển ngoài tầm kiểm soát.

3.3. Giao dịch ngầm qua đồng tiền mã hóa ổn định và nguy cơ mất kiểm soát cung tiền

Sự mập mờ về thể chế, kết hợp với thói quen ưa thích công nghệ của người dân, đã biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ giao dịch đồng tiền mã hóa ổn định phi chính thức lớn nhất trong khu vực. Người dân sử dụng các đồng tiền mã hóa ổn định neo giá USD (đặc biệt là USDT) để thực hiện các giao dịch xuyên biên giới, lưu trữ tài sản nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá và tham gia vào các hoạt động đầu cơ ẩn danh (Bùi Thanh Sơn, 2023; Trần Quang Hưng, 2026).

Khi một phần đáng kể lượng cung tiền trong nền kinh tế dịch chuyển sang hệ sinh thái đồng tiền mã hóa ổn định, tư nhân, phi tập trung, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ dần mất khả năng đo lường chính xác các chỉ số cung tiền vĩ mô (M1, M2). Hiệu lực của chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất và dự trữ bắt buộc bị suy giảm do dòng vốn có thể tự do di chuyển ra vào quốc gia qua các ví số phi biên giới mà không chịu sự giám sát của hệ thống quản lý ngoại hối (De Conti & Guttmann, 2025; Buchan & Üngör, 2026).

4. Kiến tạo lá chắn phòng thủ vĩ mô: tiền kỹ thuật số bán buôn (wCBDC) và mô hình kép tiền kỹ thuật số (DUAL-CBDC)

4.1. Tiền kỹ thuật số bán buôn – tuyến phòng thủ tối ưu

Để bảo vệ chủ quyền tiền tệ trước làn sóng USD hóa kỹ thuật số, giải pháp chủ động nhất là quốc gia phải tự hình thành một hạ tầng thanh toán số chính thống. Tuy nhiên, việc phát hành ngay một đồng tiền kỹ thuật số bán lẻ đại chúng (rCBDC) trực tiếp đến người dân sẽ tạo ra nguy cơ phi trung gian hóa tài chính cực kỳ nghiêm trọng. Trong các giai đoạn thị trường có biến động, người dân sẽ ồ ạt rút tiền gửi từ các ngân hàng thương mại để chuyển thành tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương, làm tê liệt nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại, đẩy lãi suất cho vay lên cao và gây suy thoái kinh tế (Agur, Ari & Dell’Ariccia, 2019; Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh & cộng sự, 2022). Do đó, các nghiên cứu thực chứng khuyến nghị Việt Nam nên lựa chọn tiền kỹ thuật số bán buôn làm tuyến phòng thủ đầu tiên (Trần Quang Hưng, 2026).

Một là, hiện đại hóa hệ thống thanh toán liên ngân hàng: tiền kỹ thuật số bán buôn được phát hành có giới hạn cho các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính lớn để thực hiện thanh toán bù trừ, giao dịch liên ngân hàng và thanh toán với Kho bạc Nhà nước.

Hai là, triệt tiêu rủi ro rút vốn ồ ạt: tiền kỹ thuật số bán buôn giữ nguyên cấu trúc hai lớp truyền thống của hệ thống tài chính, không cho phép người dân mở tài khoản trực tiếp tại Ngân hàng Nhà nước, từ đó bảo vệ nguồn vốn tiền gửi của các ngân hàng thương mại.

Ba là, vô hiệu hóa đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân bán buôn: tiền kỹ thuật số bán buôn cung cấp một phương tiện thanh toán số an toàn tuyệt đối, chi phí bằng không với tốc độ tức thời, triệt tiêu hoàn toàn động lực sử dụng các đồng tiền mã hóa ổn định tư nhân đầy rủi ro của các định chế tài chính lớn.

4.2. Định hình cấu trúc tiền kỹ thuật số kép (Dual-CBDC) và cấu trúc phân phối gián tiếp (Indirect rCBDC)

Về dài hạn để phòng thủ toàn diện ở cả cấp độ liên ngân hàng và giao dịch dân cư, Việt Nam cần hướng tới hệ thống tiền kỹ thuật số kép tích hợp đồng thời hai cấu phần (Trần Quang Hưng, 2026; Buchan & Üngör, 2026): (1) Hạ tầng tiền kỹ thuật số bán buôn: làm nền tảng thanh toán gộp thời gian thực thế hệ mới giữa các ngân hàng. (2) Hạ tầng tiền kỹ thuật số bán lẻ: phục vụ các giao dịch nhỏ lẻ hàng ngày của người dân.

Để vận hành hạ tầng tiền kỹ thuật số bán lẻ một cách an toàn, Ngân hàng Nhà nước bắt buộc phải lựa chọn cấu trúc phân phối gián tiếp. Theo mô hình này, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là trung tâm của hệ thống – chịu trách nhiệm phát hành đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam và quản lý sổ cái kỹ thuật số lõi. Ngân hàng Nhà nước sẽ phân phối đồng tiền kỹ thuật số bán buôn cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức Fintech được cấp phép. Các tổ chức trung gian này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng ứng dụng ví đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam, trực tiếp tương tác với người tiêu dùng, thực hiện quy trình định danh khách hàng, phòng chống rửa tiền và xử lý các giao dịch bán lẻ thường nhật (Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh & cộng sự, 2022; Trần Quang Hưng, 2026).

Mô hình này giúp tận dụng tối đa hạ tầng công nghệ thông tin sẵn có, năng lực tiếp thị và mạng lưới dịch vụ khách hàng rộng khắp của khu vực tư nhân, qua đó giúp giảm thiểu chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ cho Ngân hàng Nhà nước.

4.3. Sự dung hợp giữa công nghệ sổ cái phân tán và thể chế kiểm soát

Để bảo đảm tính khả thi công nghệ tại Việt Nam (tiêu chí năng lực công nghệ hiện chỉ đạt 6,46/10 điểm trong đánh giá sẵn sàng, khả năng xử lý ngoại tuyến thấp nhất là 5,99/10), kiến trúc kỹ thuật của đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam cần có sự kết hợp linh hoạt (Trần Quang Hưng, 2026).

Thứ nhất, sử dụng mạng chuỗi khối liên minh. Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng lớn đóng vai trò là các nút xác thực đồng thuận trong mạng lưới. Điều này vừa bảo đảm tính bảo mật và khả năng lập trình dòng tiền của công nghệ sổ cái phân tán, vừa giúp Ngân hàng Nhà nước duy trì quyền kiểm soát tối cao đối với hệ thống, đồng thời ngăn chặn các cuộc tấn công an ninh mạng (De Conti & Guttmann, 2025).

Thứ hai, khả năng xử lý ngoại tuyến. Để đáp ứng yêu cầu thanh toán tại các vùng sâu vùng xa, hệ thống phải tích hợp giải pháp thanh toán ngoại tuyến dựa trên phần cứng an toàn (như chip tích hợp trên sim điện thoại hoặc thiết bị thông minh), cho phép người dân giao dịch chạm ngay cả khi không có kết nối internet (Nguyễn Danh Nam & Uông Thị Ngọc Lan, 2021; Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh & cộng sự, 2022)

5. Lộ trình cơ chế thử nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh và lộ trình phát hành tiền kỹ thuật số

5.1. Cơ chế thử nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh – Cửa ngõ chính sách đột phá từ lập pháp 2024-2025

Theo Lê Đoàn Thu Trinh (2025), để thu hẹp khoảng cách lớn giữa nhận thức chính sách và việc kiểm chứng thực tế các rủi ro công nghệ trước khi phát hành diện rộng, việc xây dựng một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, quy mô hẹp là giải pháp tối ưu. Việt Nam cần tận dụng triệt để các bước chuyển dịch lập pháp mang tính đột phá trong giai đoạn 2024–2025 để hiện thực hóa điều này, cụ thể: (1) Luật Công nghiệp Công nghệ số năm 2024 đã chính thức luật hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ mới và ứng dụng chuỗi khối trong lĩnh vực tài chính. (2) Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 09/9/2025 của Chính phủ cho phép thí điểm một số dịch vụ tài sản mã hóa dưới sự giám sát chặt chẽ liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. (3) Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 26/7/2025 của Quốc hội phê duyệt đề án phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế thế hệ mới tại TP. Hồ Chí Minh, xác định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản số và tiền kỹ thuật số là cấu phần hạ tầng chính sách cốt lõi nhằm thu hút dòng vốn quốc tế.

Cần có cơ chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh để vận hành cơ chế thử nghiệm này. Trong không gian cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, các doanh nghiệp Fintech và ngân hàng thương mại sẽ được phép kết nối qua ngân hàng mở (Open API) để thử nghiệm lưu ký tài sản số, vận hành các đồng mã hóa ổn định nội địa neo giá vào đồng Việt Nam và thí điểm hệ thống tiền kỹ thuật số bán buôn nội bộ. Dữ liệu thực chứng thu được từ cơ chế thử nghiệm sẽ là cơ sở khoa học để Ngân hàng Nhà nước tinh chỉnh thiết kế hệ thống và hoàn thiện các quy định bảo vệ người tiêu dùng.

5.2. Lộ trình phát hành đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam

Dựa trên kết quả nghiên cứu, lộ trình phát hành đồng kỹ thuật số tại Việt Nam được đề xuất theo mô hình 3 giai đoạn từ kiểm chứng tiền kỹ thuật bán buôn sang thí điểm bán lẻ diện hẹp, trước khi tiến tới phổ cập toàn quốc. Tiến trình phân kỳ thận trọng này hoàn toàn kế thừa và đồng bộ với các thông lệ quốc tế tốt nhất được khuyến nghị bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới, theo đó bắt buộc phải trải qua các bước kiểm chứng khái niệm và chương trình thí điểm thực tế để thu thập dữ liệu thực chứng trước khi triển khai chính thức. Lộ trình này cũng phản ánh sát sao kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia đi trước, điển hình như mô hình thử nghiệm nhiều giai đoạn có kiểm soát của Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore (MAS) thông qua Dự án Ubin và chiến lược kiểm chứng phân tầng (2 giai đoạn trước khi triển khai thí điểm thực tế) của Ngân hàng Nhật Bản (BoJ) (Agur, Ari & Dell’Ariccia, 2019; Nguyễn Danh Nam & Uông Thị Ngọc Lan, 2021).

Giai đoạn 1 (2025 – 2026) – Khởi động tiền kỹ thuật số bán buôn. Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp thí điểm tiền kỹ thuật số bán buôn nội bộ với 5-7 ngân hàng thương mại có quy mô lớn nhất trong hệ thống và 2-3 tổ chức trung gian thanh toán uy tín. Giai đoạn này chỉ tập trung vào các giao dịch liên ngân hàng và Kho bạc Nhà nước để kiểm tra độ bền vững công nghệ, khả năng bảo mật và tốc độ đồng thuận mạng lưới 

Giai đoạn 2 (2026 – 2027) – Mở rộng tiền kỹ thuật số bán buôn và thí điểm tiền kỹ thuật số bán lẻ quy mô hẹp. Mở rộng hệ thống tiền kỹ thuật số bán buôn cho toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng. Đồng thời, bắt đầu thí điểm tiền kỹ thuật số bán lẻ (đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam cho người dân) với quy mô hẹp tại 2-3 thành phố lớn có hạ tầng công nghệ phát triển (ưu tiên TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng), với quy mô khống chế từ 200.000 đến 300.000 người dùng thử nghiệm.

Giai đoạn 3 (từ sau 2027) – Đánh giá toàn diện và chính thức ban hành rộng rãi. Hoàn thiện việc sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nướcBộ luật Dân sự dựa trên dữ liệu thực tế thu được từ Sandbox và giai đoạn thí điểm; chính thức ban hành đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam rộng rãi đến công chúng, xác lập vị thế tiền pháp định số của quốc gia.

6. Kết luận và kiến nghị

6.1. Kết luận

Bảo vệ chủ quyền tiền tệ quốc gia trong kỷ nguyên số là một nhiệm vụ sống còn đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Sự xuất hiện của rủi ro USD hóa kỹ thuật số thông qua các tiền mã hóa ổn định tư nhân được bảo trợ pháp lý bởi đồng USD (như USDT, USDC) đặt hệ thống tài chính Việt Nam trước nguy cơ bị mất kiểm soát cung tiền vĩ mô và suy giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ. Bằng việc định hình một lộ trình kiến tạo hạ tầng phòng thủ chủ động bằng công nghệ, phát hành tiền kỹ thuật số bán buôn kết hợp mô hình phân phối gián tiếp hai lớp là bước đi tối ưu nhất giúp Việt Nam bảo vệ độc quyền phát hành tiền tệ mà không gây ra rủi ro rút tiền gửi ồ ạt khỏi hệ thống ngân hàng thương mại.

6.2. Kiến nghị chính sách cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Một là, đẩy nhanh cải cách lập pháp. Chủ động đề xuất Quốc hội sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 nhằm mở rộng quyền phát hành tiền kỹ thuật số pháp định của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời phối hợp với Bộ Tư pháp hoàn thiện định nghĩa tài sản ảo trong Bộ luật Dân sự để đưa các giao dịch ngầm vào khuôn khổ quản lý.

Hai là, triển khai chuyên trách cơ chế thử nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh. Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh tận dụng tối đa cơ chế của Nghị quyết số 222/2025/QH15 để vận hành cơ chế thử nghiệm tài sản số và tiền kỹ thuật số tại Thành phố Hồ Chí Minh, biến đây thành phòng thí nghiệm chính sách thực chứng thu thập dữ liệu vĩ mô trước khi phát hành đồng kỹ thuật số Việt Nam chính thức.

Ba là, hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân. Cam kết áp dụng mô hình phân phối gián tiếp hai lớp cho tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương bán lẻ. Tận dụng tối đa năng lực công nghệ, tiếp thị và lòng tin sẵn có của hệ thống ngân hàng thương mại và Fintech để tối ưu hóa các nhân tố ảnh hưởng xã hội, tạo hiệu ứng mạng lan tỏa tự nhiên trong cộng đồng khi phát hành rộng rãi tiền kỹ thuật số Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Agur, I., Ari, A., & Dell’Ariccia, G. (2019). Designing central bank digital currencies (IMF Working Paper No. 19/252). International Monetary Fund. https://www.imf.org/en/Publications/WP/Issues/2019/11/18/Designing-Central-Bank-Digital-Currencies-48763
Brunnermeier, M. K., James, H., & Landau, J.-P. (2019). The digitalization of money (NBER Working Paper No. 26300). National Bureau of Economic Research. https://doi.org/10.3386/w26300
Buchan, J., & Üngör, M. (2026). Monetary sovereignty in the digital age: The role of central bank digital currencies. International Journal of Political Economy, 55(1), 88–108. https://doi.org/10.1080/08911916.2026.2624900
Bùi Thanh Sơn. (2023). Tiền mã hóa tại một số nước và khuyến nghị cho Việt Nam. Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 13–15.
De Conti, B., & Guttmann, R. (2025). Digital money: Fragmentation of the monetary regime. Review of Political Economy, 37(5), 1818–1839. https://doi.org/10.1080/09538259.2025.2573356
Trần Quang Hưng (2026). Các điều kiện thúc đẩy sự ra đời của tiền kỹ thuật số tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.  Luận án Tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Huang, Y., & Mayer, M. (2022). Digital currencies, monetary sovereignty, and U.S. China power competition. Policy & Internet, 14(2), 324–345. https://doi.org/10.1002/poi3.290
Kosse, A., Glowka, M., Mattei, I., & Rice, T. (2023). Will the real stablecoin please stand up? (BIS Papers No. 141). Bank for International Settlements. https://www.bis.org/publ/bppdf/bispap141.pdf
Lê Đoàn Thu Trinh. (2025). Sandbox tiền kỹ thuật số: Động lực phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội, Số đặc biệt 5A, 359–368. https://doi.org/10.59266/houjs.2025.956
Martino, E. D. (2024). Monetary sovereignty in the digital era: The law & macroeconomics of digital private money. Computer Law & Security Review, 52, Article 105909. https://doi.org/10.1016/j.clsr.2023.105909
Nguyễn Danh Nam, & Uông Thị Ngọc Lan. (2021). Xu hướng phát triển tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, (17).
Nguyễn Đông Phong, Võ Xuân Vinh và cộng sự. (2021). Tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương: Thực trạng và xu thế phát triển – Hàm ý cho Việt Nam. Viện Nghiên cứu Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Tạ Quang Đôn (2022). Xu hướng quản lý BigTech trên thế giới và khuyến nghị đối với Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, (2+3), 97–103.