Những vấn đề đặt ra trong đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận

Issues in reforming the training and professional development of cadres in Vietnam’s propaganda, education and mass mobilization sector

ThS. Lê Hoàng Anh
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
TS. La Đức Đại
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: lehoang.tgdv@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Trên cơ sở đánh giá những tác động của bối cảnh mới, bài viết chỉ ra các yêu cầu trọng tâm đối với đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm: nâng cao bản lĩnh chính trị và nền tảng tư tưởng; phát triển năng lực số và khả năng thích ứng; nâng cao hiệu quả định hướng thông tin trên không gian mạng; thu hẹp sự chênh lệch về chất lượng đào tạo giữa các cấp, các vùng, miền; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và xây dựng hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam. Từ đó, đề xuất các định hướng và giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn với chuyển đổi số, phát triển năng lực thực tiễn và học tập suốt đời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực số và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khóa: Đào tạo; bồi dưỡng cán bộ; tuyên giáo; dân vận; chuyển đổi số; năng lực số; đổi mới đào tạo.

Abstract: This article analyzes the challenges facing the training and development of cadres in the Propaganda and Mass Mobilization sectors amidst significant global and domestic changes, along with the rapid development of science and technology, digital transformation, and artificial intelligence. Based on an assessment of the impacts of this new context, the article identifies key requirements for reforming training and development, including: enhancing political acumen and ideological foundation; developing digital capabilities and adaptability; improving the effectiveness of information dissemination in cyberspace; narrowing the gap in training quality between different levels, regions, and areas; and meeting the requirements of international integration and building Vietnamese cultural values ​​and human resources. Therefore, this article proposes directions and solutions for innovating training and professional development towards standardization and modernization, linked to digital transformation, developing practical skills and lifelong learning, contributing to building a team of cadres in the Propaganda and Mass mobilization sector with political acumen, professional qualifications, digital skills, and the ability to meet the requirements of national development in the new era.

Keywords: Cadre training and professional development; Propaganda and Mass mobilization; digital transformation; digital skills; training innovation.

1. Bối cảnh mới tác động đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận

Thứ nhất, bối cảnh thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cục diện thế giới đang chuyển dịch theo xu hướng đa cực, đa trung tâm, đi kèm với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; các xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền và các thách thức an ninh phi truyền thống tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vẫn là xu thế chủ đạo, song đang đối mặt với nhiều rào cản mới như chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy và các hình thức cạnh tranh không lành mạnh (Đặng Đình Quý, 2025). Những biến động này tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhất là các vấn đề liên quan đến tăng trưởng kinh tế, việc làm, an sinh xã hội và ổn định đời sống của người dân. Đồng thời, những biến động về địa – chính trị và kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng đến tâm lý xã hội, niềm tin và định hướng giá trị của con người.

Thứ hai, sự phát triển đột phá của khoa học – công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, đang làm biến đổi căn bản phương thức tồn tại, tương tác và phát triển của con người trong không gian số (Tô Lâm, 2026). Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với các công nghệ mới, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ sinh học… đã và đang làm thay đổi sâu sắc lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất – kinh doanh và cấu trúc thị trường lao động. Không gian số ngày càng trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống xã hội, hình thành nền kinh tế số, xã hội số và công dân số. Các phương thức học tập, làm việc, giao tiếp và tiếp cận dịch vụ có sự thay đổi căn bản, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, những biến đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức như nguy cơ mất việc làm do tự động hóa, khoảng cách số giữa các nhóm xã hội, cũng như những tác động tiêu cực của thông tin sai lệch trên không gian mạng đối với nhận thức và hành vi xã hội.

Thứ ba, những biến chuyển trong quá trình phát triển trong nước đang tạo ra những thời cơ, thách thức và điều kiện mới cho phát triển đất nước. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện; các chỉ số phát triển con người từng bước được nâng cao (Vũ Văn Phúc, 2026). Đất nước sau 1 năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp mở ra không gian phát triển mới; gần dân, sát dân hơnĐây là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những yêu cầu cao hơn về chất lượng nguồn nhân lực và phát triển toàn diện con người. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng bộc lộ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc, như chất lượng tăng trưởng chưa bền vững; năng suất lao động chưa cao; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền còn tồn tại; quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh. Bên cạnh đó, những thách thức như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề xã hội mới phát sinh tiếp tục tác động đến điều kiện sống, cơ hội phát triển và chất lượng phát triển con người.

Thứ tư, hệ thống chủ trương, chính sách về phát triển đất nước ngày càng được hoàn thiện, tạo nền tảng thể chế quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững. Quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển toàn diện con người, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện. Nhờ đó, lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả tích cực; các chỉ số phát triển con người không ngừng được cải thiện. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 0,766, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người cao (Báo Nhân Dân, 13/5/2025); tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2% (Báo Nhân Dân, 05/02/2026); tuổi thọ trung bình của người dân tiếp tục được nâng lên (Thuỳ Linh, 2026). Những kết quả này phản ánh những tiến bộ quan trọng trong bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển con người ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện mới, yêu cầu về chất lượng, tính bao trùm và tính bền vững của phát triển ngày càng cao, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách.

Thứ năm, những biến đổi về văn hóa – xã hội và hệ giá trị tác động trực tiếp đến sự hình thành, phát triển đất nước. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa diễn ra nhanh chóng, tạo điều kiện tiếp nhận các giá trị tiến bộ của nhân loại, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Mặt trái của kinh tế thị trường và tác động của không gian mạng làm xuất hiện những biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, lối sống, như xu hướng thực dụng, đề cao giá trị vật chất, coi nhẹ các chuẩn mực đạo đức truyền thống. Những biến đổi này tác động trực tiếp đến môi trường văn hóa – xã hội và quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người.

Như vậy, bối cảnh phát triển mới đang tạo ra những tác động đa chiều, đan xen giữa cơ hội và thách thức, đòi hỏi phải nhận diện đầy đủ để có cơ sở phân tích các vấn đề và đề xuất định hướng, giải pháp đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận

2. Những vấn đề đặt ra đối với đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận

Từ những nhân tố mới đang định hình quá trình phát triển, có thể thấy việc đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới đứng trước một số vấn đề lớn, có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa lâu dài, cần được nhận diện đầy đủ và giải quyết đồng bộ.

Một là, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và định hướng giá trị trong điều kiện biến động phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo của môi trường quốc tế và trong nước. Những chuyển dịch nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới, cùng với sự gia tăng của các luồng thông tin đa chiều, đang đặt ra yêu cầu ngày càng cấp thiết đối với việc giữ vững nền tảng tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, mà trước hết là đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận, vào mục tiêu, con đường phát triển của đất nước. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cùng với các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí… tiếp tục tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội. Vấn đề đặt ra là phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đồng thời kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch nhằm giữ vững sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận xã hội.

Hai là, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận, nhất là năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, chuyển đổi số, đang làm biến đổi sâu sắc cấu trúc việc làm và yêu cầu đối với nguồn nhân lực, nhất là nhân lực ngành Tuyên giáo và Dân vận. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng số, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận. Tuy nhiên, chất lượng của một số cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận vẫn còn những hạn chế; kỹ năng số, kỹ năng mềm và năng lực đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số, xã hội số, công dân số. Sự gắn kết giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận với yêu cầu đổi mới công tác Tuyên giáo và Dân vận còn chưa chặt chẽ; khoảng cách số giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội vẫn còn tồn tại, tiềm ẩn nguy cơ gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội phát triển. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là phải đẩy mạnh đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận, nhất là cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận cấp xã đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; đồng thời thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm cơ hội phát triển công tác Tuyên giáo và Dân vận trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI)…phát triển mạnh mẽ

Ba là, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phải gắn với nâng cao hiệu quả quản trị xã hội và định hướng thông tin trong không gian mạng. Không gian mạng ngày càng trở thành môi trường quan trọng tác động đến nhận thức và hành vi xã hội. Tuy nhiên, tình trạng thông tin sai lệch, thông tin xấu, độc lan truyền trên mạng xã hội diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng và tâm lý xã hội, nhất là đối với thanh niên. Trong khi đó, công tác quản lý, định hướng thông tin trong một số trường hợp còn chưa kịp thời; vai trò của báo chí chính thống có lúc, có nơi chưa được phát huy đầy đủ. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với không gian mạng, đồng thời phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong định hướng dư luận xã hội, góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh. Điều đó đòi hỏi cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận cần được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công nghệ số, sử dụng trí tuệ nhân tạo…

Bốn là, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong điều kiện còn nhiều chênh lệch và bất cập. Mặc dù các chỉ số phát triển con người đã được cải thiện, song chất lượng đội ngũ cán bộ ngành tuyên giáo và dân vận phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, miền và các cấp, nhất là cấp xã ở vùng sâu, vùng xa; khoảng cách trình độ, cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản còn chênh lệch. Hệ thống giáo dục – đào tạo còn những hạn chế; chất lượng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chưa được bảo đảm vững chắc trong xử lý công việc ở mọi tình huống. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới.

Năm là, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và biến đổi xã hội sâu sắc.Những biến đổi về văn hóa – xã hội và tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện đang làm thay đổi hệ giá trị và chuẩn mực xã hội. Trong khi đó, việc xác định và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới còn chưa đồng bộ. Một số biểu hiện lệch chuẩn về đạo đức, lối sống chậm được khắc phục, ảnh hưởng đến môi trường phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị con người Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển mới, đồng thời, tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh để con người phát triển toàn diện. Điều đó đòi hỏi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phải đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và biến đổi xã hội sâu sắc

Những vấn đề trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ, hệ thống và có thứ tự ưu tiên chiến lược trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trước tình hình mới.

3. Định hướng và giải pháp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới

Trên cơ sở nhận diện những nhân tố mới của bối cảnh phát triển và các vấn đề đặt ra, việc xác định đúng định hướng và triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới có ý nghĩa mang tính quyết định đối với quỹ đạo phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (tháng 01/2026) nhấn mạnh: “Duy trì nền nếp và nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới” nhằm làm cho đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận vững vàng về bản lĩnh chính trị, kiên định về lập trường tư tưởng và giỏi về chuyên môn nghiệp vụ… Quán triệt tinh thần đó, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận cần được đặt trong chỉnh thể đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và trong phát triển tổng thể của đất nước, gắn bó hữu cơ với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời phải được tiếp cận như một quá trình mở rộng năng lực và cơ hội phát triển của mỗi cán bộ. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm quyền tiếp cận tri thức, nâng cao năng lực và tạo lập môi trường thuận lợi để cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phát triển toàn diện, phát huy tối đa tiềm năng và giá trị.

Trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tính bao trùm và tính bền vững của phát triển, cần tiếp tục đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới.

Thứ nhất, đầu tư, nghiên cứu, xây dựng khung chương trình, nội dung, phương thức… đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phù hợp với tình hình mớinhư: một là, trình độ, sự hiểu biết, nhận thức…của đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận ngày càng được nâng lên; hai là, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số… đang diễn ra mạnh mẽ; ba là, Trung ương chuẩn bị ban hành Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số; bốn là, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động từng bước có hiệu quả; năm là, thông tin trên mạng xã hội rất nhiều chiều, đa dạng, có cả thông tin tích cực, có cả thông tin xấu, độc; sáu là, các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt trên mặt trận tư tưởng.

Thứ hai, tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận về lý luận chính trị, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong mọi hoạt động của tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin xã hội và định hướng giá trị, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới của Đảng trở thành dòng tư tưởng chủ đạo trong đời sống xã hội; bảo đảm vai trò nền tảng của hệ tư tưởng trong đời sống chính trị – xã hội. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chính trị, tư tưởng theo hướng đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu; nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và niềm tin của cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận đối với mục tiêu, con đường phát triển của đất nước.

Đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chốngtham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với kiểm soát quyền lực, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao trách nhiệm giải trình; qua đó củng cố niềm tin xã hội và tăng cường đồng thuận xã hội.

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng nội dung, phương pháp, cách thức chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện không gian mạng phát triển mạnh mẽ; đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng cách thức định hướng, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và văn hóa, văn nghệ… trong định hướng giá trị và xây dựng hệ chuẩn mực xã hội tích cực. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có định hướng, góp phần định hình dư luận xã hội; đồng thời, đổi mới nội dung, phương thức truyền thông theo hướng hiện đại, đa nền tảng, nâng cao sức lan tỏa và tính thuyết phục.

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành tuyên giáo và dân vận chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sử dụng thành thạo công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT)… theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển của nền kinh tế số, xã hội số, công dân số. Chuyển mạnh từ tiếp cận trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận, trong đó đặc biệt chú trọng năng lực số, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng, có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp vững vàng và khả năng làm việc trong môi trường số và hội nhập quốc tế.

Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, nhất là các hoạt động phát tán thông tin sai lệch, thông tin xấu, độc. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý và giám sát không gian mạng, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Nâng cao năng lực số, năng lực tiếp cận, chọn lọc và xử lý thông tin của người dân, đặc biệt là thanh niên; hình thành văn hóa số và ý thức trách nhiệm khi tham gia không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, an toàn.

Thứ năm, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phát triển kỹ năng số, kỹ năng mềm phù hợp với yêu cầu của xã hội số và năng lực học tập suốt đời; nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động nhanh của tình hình thế giới, trong nước và tiến bộ công nghệ; bảo đảm đào tạo, bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận. Tạo điều kiện để mỗi cán bộ được học tập suốt đời, phát triển năng lực và thích ứng linh hoạt với những biến đổi của môi trường kinh tế – xã hội, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận có chất lượng cao.

Thứ sáu, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhất là có chương trình, nội dung, phương thức… phù hợp cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận cấp xã.

Thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận phải thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền thông qua phát triển hạ tầng số, phổ cập kỹ năng số cơ bản và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng; qua đó bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển và hạn chế nguy cơ gia tăng bất bình đẳng trong xã hội số.

Trong bối cảnh phát triển mới với những biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận không chỉ là mục tiêu mà còn là điều kiện quyết định đối với phát triển bền vững. Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các định hướng và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa chiến lược, góp phần phát huy mạnh mẽ vai trò đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tuyên giáo và Dân vận trong tình hình mới.

Tài liệu tham khảo:
Báo Nhân Dân điện tử (13/5/2025). Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. https://nhandan.vn/infographic-viet-nam-thuoc-nhom-cac-quoc-gia-co-muc-phat-trien-con-nguoi-cao-post879411.html
Báo Nhân Dân (05/02/2026). Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,2%. https://nhandan.vn/ty-le-tham-gia-bao-hiem-y-te-dat-952-post941203.html
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.131.
Đặng Đình Quý (2025). Xu hướng, xu thế lớn trong quan hệ quốc tế đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn/ web/guest/tin-binh-luan/-/asset_publisher/DLIYi5AJyFzY/content/xu-huong-xu-the-lon-trong-quan-he-quoc-te-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-2045#
Thùy Linh (2026). Bộ Y tế: Phấn đấu đến 2030, tuổi thọ trung bình nâng lên khoảng 75,5 tuổi. Lao động điện tử. https://laodong.vn/y-te/bo-y-te-phan-dau-den-2030-tuoi-tho-trung-binh-nang-len-khoang-755-tuoi-1632602.ldo
Tô Lâm (2025). Năm 2026 “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả” về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/-/2018/1197502/view_content
Vũ Văn Phúc (2026). Thế và lực của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tong-ket-40-nam-doi-moi-dat-nuoc/-/2018/1207203/the-va-luc-cua-dat-nuoc-trong-tien-trinh-hoi-nhap-quoc-te-qua-40-nam-tien-hanh-cong-cuoc-doi-moi.aspx