Quản trị công ty, ESG và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp hàng hải niêm yết Việt Nam

Corporate Governance, ESG  and innovation performance of listed maritime firms in Vietnam

ThS. Nguyễn Thị Phương Mai
PGS. TS. Phùng Mạnh Trung
PGS. TS. Đỗ Thị Mai Thơm
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Email liên hệ: pmtrung@vimaru.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Nghiên cứu xem xét tác động của định hướng quản trị bền vững (SGO) và quản trị tuân thủ và minh bạch (CTG) đến thực thi ESG và hiệu quả đổi mới sáng tạo hàng hải (MIP), đồng thời kiểm định vai trò trung gian của ESG. Dữ liệu nghiên cứu trên 39 doanh nghiệp cảng biển và vận tải biển niêm yết tại Việt Nam được phân tích bằng PLS-SEM. Kết quả cho thấy, SGO và CTG tác động tích cực đến ESG nhưng không tác động trực tiếp có ý nghĩa đến MIP; ESG tác động tích cực đến MIP và trung gian toàn phần trong hai mối quan hệ này. Bài viết làm rõ cơ chế chuyển hóa năng lực quản trị thành đổi mới thông qua ESG và đề xuất doanh nghiệp tích hợp ESG vào chiến lược, vận hành và đầu tư đổi mới.

Từ khóa: Định hướng quản trị bền vững; quản trị tuân thủ và minh bạch; thực hành ESG; đổi mới sáng tạo hàng hải; doanh nghiệp hàng hải niêm yết; PLS-SEM.
Abstract: This study examines the effects of sustainability governance orientation (SGO) and compliance and transparency governance (CTG) on ESG practices and maritime innovation performance (MIP), while also testing the mediating role of ESG. Data collected from 39 listed port and shipping companies in Vietnam were analyzed using PLS-SEM. The results show that SGO and CTG have positive effects on ESG but no statistically significant direct effects on MIP. ESG has a positive effect on MIP and fully mediates both relationships. The findings clarify the mechanism through which governance capabilities are transformed into innovation through ESG practices and suggest that maritime firms should integrate ESG into their strategies, operations, and innovation investments.
Keywords: Sustainable governance orientation; compliance and transparency governance; ESG practices; maritime innovation performance; listed maritime firms; PLS-SEM.
1. Đặt vấn đề

Cảng biển và vận tải biển giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và thương mại quốc tế của Việt Nam. Trước yêu cầu phát triển bền vững và số hóa, doanh nghiệp hàng hải cần đổi mới dịch vụ, quy trình, công nghệ số và giải pháp xanh để nâng cao hiệu quả hoạt động dài hạn. ESG (Environmental, Social and Governance) là một động lực của quá trình này: ESG không chỉ phục vụ báo cáo trách nhiệm mà còn thúc đẩy số lượng và chất lượng đổi mới thông qua cải thiện công bố thông tin và quản trị.

Tuy nhiên, ESG phụ thuộc vào định hướng và cơ chế quản trị. Định hướng quản trị bền vững (SGO) gắn quyết định doanh nghiệp với mục tiêu dài hạn về môi trường, xã hội và lợi ích các bên liên quan. Quản trị tuân thủ và minh bạch (CTG) giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu về an toàn, môi trường, lao động và thương mại quốc tế, giảm rủi ro pháp lý và tạo nền tảng cho đổi mới. Đã có nhiều nghiên cứu trước đây xem xét quản trị công ty, ESG và hiệu quả tài chính hoặc nghiên cứu ESG riêng lẻ. Bằng chứng về mối quan hệ giữa năng lực quản trị, ESG và đổi mới trong ngành hàng hải tại nền kinh tế mới nổi còn hạn chế; đặc biệt, chưa rõ ESG có chuyển hóa năng lực quản trị thành kết quả đổi mới hay không.

Từ đó, bài viết đề xuất mô hình gồm hai yếu tố nền tảng là SGO và CTG  được giải thuyết có tác động đến thực thi ESG và đổi mới sáng tạo hàng hải; đồng thời, ESG đóng vai trò trung gian trong quá trình chuyển hóa quản trị thành đổi mới.
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Quản trị công ty là hệ thống cơ chế điều hành, kiểm soát và giám sát hoạt động doanh nghiệp. Theo lý thuyết đại diện, quản trị công ty giúp giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, nâng cao chất lượng quyết định và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong ngành hàng hải phức tạp, đặc thù và yêu cầu cao về phát triển bền vững, nghiên cứu tiếp cận hai yếu tố của quản trị công ty là định hướng quản trị bền vững (SGO) và quản trị tuân thủ và minh bạch (CTG) trong quá trình chuyển hóa quản trị công ty thành hiệu quả đổi mới sáng tạo.
Thứ nhất, tác động của định hướng quản trị bền vững (SGO) và quản trị tuân thủ và minh bạch (CTG) đến thực hành ESG.

SGO thể hiện qua mức độ doanh nghiệp định hướng việc ra quyết định theo mục tiêu phát triển dài hạn, cân bằng giữa lợi ích kinh tế với trách nhiệm môi trường và xã hội (van Lieshout, Nijhof, Naarding, & Blomme, 2021). Còn ESG phản ánh mức độ doanh nghiệp triển khai các hoạt động liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị trong thực tế, tức là quá trình doanh nghiệp cụ thể hóa các định hướng quản trị thành hành động (Eccles, Ioannou, & Serafeim, 2014); (Fatemi, Glaum, & Kaiser, 2018). Vì vậy, SGO tạo nền tảng để doanh nghiệp tích hợp việc thực thi ESG vào hoạt động vận hành, công bố và thực thi các cam kết phát triển bền vững một cách nghiêm túc hơn.

CTG thể hiện mức độ tuân thủ công ước quốc tế, duy trì kiểm soát nội bộ và minh bạch thông tin tài chính, phi tài chính. Đối với doanh nghiệp hàng hải, cơ chế này hỗ trợ đáp ứng yêu cầu về an toàn, môi trường, lao động và logistics; đồng thời, tăng trách nhiệm giải trình và độ tin cậy của thông tin ESG (Fatemi và c.s., 2018). Từ đó, nghiên cứu đề xuất:

H1a: SGO có tác động tích cực đến thực thi ESG.

H1b: CTG có tác động tích cực đến thực thi ESG.
Thứ hai, tác động của định hướng quản trị bền vững (SGO) và quản trị tuân thủ và minh bạch (CTG) đến hiệu quả đổi mới sáng tạo (MIP).

MIP được hiểu là năng lực đổi mới dịch vụ logistics, quy trình khai thác, nền tảng số và giải pháp tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải (J. S. L. Lam & T. Notteboom, 2014). SGO khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và tìm kiếm giải pháp mới để đáp ứng yêu cầu của thị trường, khách hàng và cơ quan quản lý.

CTG cũng tạo nền tảng cho đổi mới: quy trình tuân thủ rõ ràng và thông tin minh bạch hỗ trợ các sáng kiến mới, tái cấu trúc nguồn lực và thích ứng với thay đổi môi trường (Lee, Pak, & Roh, 2024).

H2a: SGO có tác động tích cực đến MIP.

H2b: CTG có tác động tích cực đến MIP.
Thứ ba, thực hành ESG và đổi mới sáng tạo hàng hải (MIP).

Trong ngành hàng hải, mục tiêu môi trường và xã hội có thể thúc đẩy cải tiến quy trình khai thác, công nghệ tiết kiệm nhiên liệu, dịch vụ xanh, quản trị dữ liệu số và tiêu chuẩn an toàn (Sarstedt, Hair, Cheah, Becker, & Ringle, 2019).

Việc thực thi ESG vì thế tạo áp lực học hỏi, rà soát vận hành và cải tiến liên tục, qua đó nâng cao MIP.

H3: Thực thi ESG có tác động tích cực đến MIP.
Thứ tư, vai trò trung gian của ESG.

ESG có thể là cơ chế trung gian giữa năng lực quản trị và MIP. SGO và CTG giúp doanh nghiệp hình thành định hướng, trách nhiệm giải trình và điều kiện thực thi ESG; đến lượt mình, ESG thúc đẩy đổi mới dịch vụ, quy trình, số và xanh. Do đó, ESG có thể chuyển hóa năng lực quản trị thành kết quả đổi mới (Lee và c.s., 2024).

H4a: Thực thi ESG đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa SGO và MIP.

H4b: Thực thi ESG đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CTG và MIP.
3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
(1) Mô hình nghiên cứu.
Mô hình gồm SGO và CTG là hai biến độc lập bậc một, ESG là biến trung gian bậc một và MIP là cấu trúc bậc cao dạng phản ánh, được phản ánh bởi đổi mới dịch vụ (SVI), quy trình (PRI), số (DGI) và xanh (GRI).

Mô hình kiểm định các tác động trực tiếp SGO và CTG đến ESG và MIP, tác động ESG đến MIP, cùng hai tác động gián tiếp qua ESG.

Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

(Nguồn: Tác giả đề xuất)

(2) Dữ liệu và mẫu nghiên cứu.

Nghiên cứu khảo sát nhà quản lý tại 39 doanh nghiệp cảng biển và vận tải biển niêm yết trên HOSE, HNX và UPCoM. Dữ liệu được thu thập từ tháng 6/2025 – 12/2025 bằng lấy mẫu có chủ đích kết hợp thuận tiện.

Người trả lời là thành viên Hội đồng quản trị, ban giám đốc, trưởng/phó phòng hoặc nhà quản lý liên quan đến chiến lược, vận hành, công nghệ, ESG và logistics. Sau sàng lọc, mẫu hợp lệ gồm 274 quan sát.

Bảng hỏi sử dụng thang Likert 5 mức. Để hạn chế sai lệch phương pháp chung, khảo sát được thực hiện ẩn danh, các nhóm câu hỏi được sắp xếp tách biệt và người tham gia được thông báo không có đáp án đúng hoặc sai.
(3) Thang đo nghiên cứu.

Các thang đo được kế thừa từ nghiên cứu trước và điều chỉnh cho bối cảnh doanh nghiệp hàng hải Việt Nam (Bảng 1).

Bảng 1. Các khái niệm nghiên cứu và thang đo

Khái niệmKý hiệuNội dungBản chất đo lườngThành phần/chỉ báo chínhNguồn tham khảo
Định hướng quản trị bền vữngSGOCam kết của HĐQT đối với phát triển bền vững, giảm phát thải và trách nhiệm xã hội.Bậc một phản ánhSGO1-SGO5(Acciaro và c.s., 2014), (Yuen & Lim, 2016)
Quản trị tuân thủ và minh bạchCTGMức độ tuân thủ các công ước quốc tế áp dụng cho cả hai ngành cảng biển và vận tải biển.Bậc một phản ánhCTG1-CTG5(Lai, Lun, Wong, & Cheng, 2011), (Acciaro, 2015)
 Thực hành ESGESGThể hiện mức độ doanh nghiệp theo dõi, triển khai, công bố và tích hợp các hoạt động môi trường, xã hội và quản trị vào hoạt động thường ngày.Bậc một phản ánhESG1–ESG5(Friede, Busch, & Bassen, 2015), (Lam & Notteboom, 2014)
Đổi mới sáng tạo hàng hảiMIPHiệu quả đổi mới trong dịch vụ, quy trình khai thác cảng, đội tàu và giải pháp giảm tác động môi trường.Bậc cao phản ánhSVI, PRI, DGI, GRI(Acciaro và c.s., 2018), (Yang, 2018), (den Hertog, van der Aa, & de Jong, 2010), (Nambisan, Lyytinen, Majchrzak, & Song, 2017)
Đổi mới dịch vụSVITạo ra dịch vụ mới hoặc cải tiến các dịch vụ hiện có, góp phần gia tăng hiệu quả kinh doanhBậc một phản ánhSVI1-SVI5(den Hertog và c.s., 2010)
Đổi mới quy trìnhPRICải tiến quy trình xếp dỡ – điều phối – thủ tục cảng và quy trình khai thác – tuyến – đội tàu (vận tải biển)Bậc một phản ánhPRI1-PRI5(Acciaro và c.s., 2018)
Đổi mới sốDGIDịch vụ số mới, giải pháp số, mô hình kinh doanh số mới hoặc giá trị mới cho khách hàng trên nền tảng công nghệ sốBậc một phản ánhDGI1-DGI5(Nambisan và c.s., 2017)
Đổi mới xanhGRICác giải pháp công nghệ và áp dụng các quy trình nhằm giảm tác động của môi trường, sử dụng năng lượng hiệu quả hơnBậc một phản ánhGRI1-GRI5(Yang, 2018)
(Nguồn: Tác giả đề xuất)

(4) Phương pháp phân tích dữ liệu.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) với phần mềm SmartPLS 4. PLS-SEM phù hợp do mô hình có biến phụ thuộc bậc cao dạng phản ánh (MIP) và hướng đến giải thích phương sai của ESG và MIP (Sarstedt và c.s., 2019).

Đầu tiên, đánh giá mô hình đo lường đối với các cấu trúc phản ánh và các chiều bậc thấp thông qua hệ số tải ngoài, Cronbach’s Alpha, CR và AVE. Tiếp theo nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hai giai đoạn tách biệt để xử lý cấu trúc bậc cao MIP thông qua điểm số tiềm ẩn của các biến bậc thấp. Cuối cùng, nghiên cứu đánh giá mô hình cấu trúc thông qua hệ số đường dẫn, mức ý nghĩa thống kê và kiểm định tác động gián tiếp bằng bootstrapping với 5.000 mẫu lặp (Sarstedt và c.s., 2019).
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu.

Mẫu cuối cùng gồm 274 người trả lời thuộc 39 doanh nghiệp. Cơ cấu chi tiết mẫu theo loại hình doanh nghiệp và sàn niêm yết được trình bày tại Bảng 2.

Bảng 2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Đặc điểmNhómTần suấtTỷ lệ (%)
Loại hình doanh nghiệpCảng biển2256,4
 Vận tải biển1743,6
Tổng 39100,0
Sàn niêm yếtHOSE1435,9
 HNX820,5
 UPCoM1743,6
Tổng 39100,0
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

(2) Đánh giá mô hình đo lường.

Ở giai đoạn 1, đánh giá mô hình đo lường đối với các cấu trúc bậc thấp (SGO, CTG, ESG) cùng bốn thành phần phản ánh của MIP (SVI, PRI, DGI, GRI), mỗi thang đo gồm 5 biến quan sát. Kết quả đánh giá thể hiện ở Bảng 3. Hệ số tải ngoài của toàn bộ chỉ báo đều vượt ngưỡng 0,70; Cronbach’s alpha và độ tin cậy tổng hợp (CR) đều lớn hơn 0,70 và không vượt 0,95; phương sai trích trung bình (AVE) đều lớn hơn 0,50. Như vậy, các cấu trúc bậc thấp đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ, đủ điều kiện để đánh giá giá trị phân biệt và ước lượng mô hình cấu trúc.

Bảng 3. Kết quả đánh giá mô hình đo lường (giai đoạn 1 – Các cấu trúc bậc thấp)

Cấu trúcSố biến quan sátOuter loadingCronbach’s alphaCRAVE
SGO50,795-0,8520,8820,9130,679
CTG50,817-0,8560,8960,9230,707
ESG50,806-0,8530,8900,9190,695
SVI50,836-0,9000,9110,9340,738
PRI50,793-0,8660,8950,9220,702
DGI50,809-0,8670,8890,9180,690
GRI50,826-0,8770,9040,9280,722
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SmartPLS)

Các giá trị HTMT đều thấp hơn ngưỡng 0,85 – 0,90, cho thấy các cấu trúc đạt giá trị phân biệt (Bảng 4).

Bảng 4. Kết quả đánh giá sự phân biệt giữa các biến bậc thấp

SGOCTGESGSVIPRIDGIGRI
SGO
CTG0.641
ESG0.3860.403
SVI0.1000.1800.328
PRI0.0670.1150.3180.725
DGI0.1500.1620.2780.6790.619
GRI0.0730.0920.2740.6210.6550.574
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SmartPLS)

Sang giai đoạn 2, đánh giá thang đo các cấu trúc bậc cao. Kết quả được thể hiện trong Bảng 5. Hệ số tải của bốn thành phần phản ánh (đổi mới dịch vụ, quy trình, số và xanh) đều lớn hơn 0,70, cho thấy phản ánh tốt cho khái niệm đổi mới sáng tạo hàng hải; trong đó đổi mới dịch vụ có hệ số tải cao nhất.

Bảng 5. Đánh giá thang đo các cấu trúc bậc cao


Thành phần bậc một
Hệ số tải vào MIPKết luận
SVI – Đổi mới dịch vụ0,869Đạt
PRI – Đổi mới quy trình0,853Đạt
DGI – Đổi mới số0,800Đạt
GRI – Đổi mới xanh0,790Đạt
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SmartPLS)

(3) Đánh giá mô hình cấu trúc.

Các giá trị VIF không cho thấy, đa cộng tuyến nghiêm trọng. Mô hình cấu trúc sau đó được kiểm định bằng bootstrapping 5.000 mẫu; kết quả các tác động trực tiếp được trình bày tại Bảng 6.

Bảng 6. Kết quả kiểm định giả thuyết trực tiếp

Giả thuyếtQuan hệHệ số βt-valuep-valueKết luận
H1aSGO → ESG0,2153,656< 0,001Chấp nhận
H1bCTG → ESG0,2424,083< 0,001Chấp nhận
H2aSGO → MIP-0,0560,7980,425Không chấp nhận
H2bCTG → MIP0,0640,8720,383Không chấp nhận
H3ESG → MIP0,3305,618< 0,001Chấp nhận
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SmartPLS)

Kết quả kiểm định giả thuyết trực tiếp (Bảng 6) cho thấy, SGO và CTG tác động tích cực đến ESG nhưng không tác động trực tiếp đến MIP; nghĩa là năng lực quản trị làm gia tăng thực thi ESG nhưng chưa trực tiếp tạo ra đổi mới. Ngược lại, ESG tác động cùng chiều và mạnh nhất đến hiệu quả đổi mới sáng tạo hàng hải (β = 0,330), là động lực rõ rệt nhất thúc đẩy đổi mới.
(4) Kiểm định vai trò trung gian của ESG.

Vai trò trung gian của ESG được kiểm định bằng bootstrapping; kết quả trình bày tại Bảng 7.

Bảng 7. Kiểm định tác động trung gian

Giả thuyếtQuan hệHệ số βt-valuep-valueKết luận
H4aSGO → ESG → MIP0,0713,0900,002Trung gian toàn phần
H4bCTG → ESG → MIP0,0803,1230,002Trung gian toàn phần
(Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SmartPLS)

Cả hai đường dẫn gián tiếp qua ESG đến MIP đều có ý nghĩa thống kê (p = 0,002; Bảng 7). Mặc dù SGO và CTG không tác động trực tiếp đến MIP, nhưng qua trung gian ESG chúng lại tác động tích cực đến hiệu quả đổi mới sáng tạo hàng hải. Điều này hàm ý ESG là cơ chế trung gian cần thiết để chuyển hóa năng lực quản trị thành đổi mới tại các doanh nghiệp hàng hải niêm yết Việt Nam.
5. Hàm ý quản trị

Từ phân tích cho thấy, SGO và CTG đều thúc đẩy thực thi ESG: việc tích hợp mục tiêu dài hạn, trách nhiệm môi trường – xã hội cùng với kiểm soát, minh bạch và tuân thủ chuẩn mực giúp doanh nghiệp chuyển cam kết bền vững thành hành động ESG cụ thể. Tuy nhiên, SGO và CTG không tác động trực tiếp có ý nghĩa đến MIP. Điều này cho thấy, định hướng và cơ chế quản trị mới tạo điều kiện ban đầu; nếu chưa được chuyển thành quy trình, phân bổ nguồn lực và hành động cụ thể, chúng chưa đủ tạo ra kết quả đổi mới.

ESG lại tác động tích cực và mạnh nhất đến MIP trong các quan hệ có ý nghĩa. Việc thực thi ESG buộc doanh nghiệp rà soát vận hành, cải tiến dịch vụ, ứng dụng công nghệ số và tìm kiếm giải pháp xanh; nhờ đó, ESG trở thành động lực đổi mới theo hướng bền vững.

Hai đường dẫn SGO → ESG → MIP và CTG → ESG → MIP đều có ý nghĩa, xác nhận vai trò trung gian toàn phần của ESG. Phát hiện này làm rõ cơ chế chuyển hóa: năng lực quản trị tạo nền tảng cho ESG, còn hành động ESG tạo ra kết quả đổi mới.

Với kết quả nghiên cứu, hàm ý cho các doanh nghiệp cần xem ESG là cơ chế quản trị gắn với đổi mới, chứ không chỉ là yêu cầu báo cáo. ESG cần được tích hợp vào quyết định đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình, phát triển dịch vụ và giảm tác động môi trường.

Ở cấp chiến lược, doanh nghiệp cần cụ thể hóa mục tiêu bền vững, phân bổ nguồn lực, chuẩn hóa quy trình theo dõi và tăng trách nhiệm giải trình. Minh bạch thông tin và kiểm soát nhất quán sẽ nâng cao chất lượng thực thi ESG, qua đó tạo điều kiện cho đổi mới.  Trước hết, hội đồng quản trị và ban điều hành cần xác lập bộ chỉ tiêu ESG gắn với kế hoạch kinh doanh, giao rõ trách nhiệm cho từng đơn vị và định kỳ đánh giá tiến độ thực hiện. Doanh nghiệp cũng cần ưu tiên ngân sách cho các dự án có đồng thời giá trị kinh tế và tác động môi trường – xã hội tích cực, thay vì triển khai ESG như những hoạt động rời rạc. Dữ liệu ESG cần được thu thập theo quy trình thống nhất, có cơ chế kiểm chứng và được sử dụng trong các quyết định đầu tư, quản trị rủi ro và lựa chọn đối tác. Đồng thời, việc gắn kết quả ESG với chỉ tiêu đánh giá của nhà quản lý sẽ tạo động lực thực thi và bảo đảm các cam kết bền vững được chuyển hóa thành sáng kiến đổi mới cụ thể.

Ở cấp thực thi, ESG cần gắn với bốn nhóm kết quả: (1) Dịch vụ thân thiện hơn; quy trình giảm lãng phí; (2) Hệ thống số phục vụ đo lường và công bố; (3) Giải pháp xanh giảm phát thải và (4) Tiết kiệm năng lượng. Việc triển khai đồng bộ bốn nhóm kết quả này giúp kết nối mục tiêu ESG với hiệu quả đổi mới trong hoạt động hàng hải.

Doanh nghiệp nên chuyển bốn nhóm kết quả này thành danh mục sáng kiến có mục tiêu, đơn vị phụ trách, nguồn lực và thời hạn hoàn thành cụ thể. Các chỉ tiêu như mức tiêu hao nhiên liệu, lượng phát thải, thời gian xử lý dịch vụ, tỷ lệ số hóa quy trình và mức độ hài lòng của khách hàng cần được theo dõi định kỳ để lượng hóa hiệu quả. Kết quả đo lường là cơ sở lựa chọn sáng kiến có khả năng nhân rộng, đồng thời điều chỉnh hoặc dừng những giải pháp chưa tạo ra giá trị. Qua đó, ESG trở thành một chu trình cải tiến liên tục, giúp doanh nghiệp vừa nâng cao hiệu quả vận hành, vừa tăng năng lực cạnh tranh và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
6. Kết luận

Bài viết nghiên cứu cho thấy, SGO và CTG không trực tiếp tạo ra MIP nhưng thúc đẩy ESG; ESG vừa tác động trực tiếp đến MIP vừa trung gian toàn phần trong hai mối quan hệ. Đóng góp chính là làm rõ cơ chế chuyển hóa năng lực quản trị thành đổi mới trong doanh nghiệp hàng hải niêm yết Việt Nam. Theo đó, ESG cần được nhìn nhận như một năng lực thực thi hỗ trợ đổi mới dịch vụ, quy trình, số và xanh.

Trong phân tích của bài viết còn một số hạn chế như chưa so sánh giữa doanh nghiệp cảng biển với vận tải biển. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể bổ sung phân tích đa nhóm hoặc bổ sung các yếu tố như chuyển đổi số và năng lực học hỏi tổ chức.

Tài liệu tham khảo:
A. Fatemi, M. Glaum, và S. Kaiser (2018). ESG performance and firm value: The moderating role of disclosure. Global Finance Journal, vol 38, tr 45–64, tháng 11 2018, doi: 10.1016/J.GFJ.2017.03.001.
C.-S. Yang (2018). An analysis of institutional pressures, green supply chain management, and green performance in the container shipping context. Transp. Res. D Transp. Environ., vol 61, tr 246–260, tháng 6/2018, doi: 10.1016/j.trd.2017.07.005.
G. Friede, T. Busch, và A. Bassen (2015). ESG and financial performance: aggregated evidence from more than 2000 empirical studies. Journal of Sustainable Finance & Investment, vol 5, số p.h 4, tr 210–233, tháng 10/2015, doi: 10.1080/20430795.2015.1118917.
J. S. L. Lam và T. Notteboom (2014). The Greening of Ports: A Comparison of Port Management Tools Used by Leading Ports in Asia and Europe. Transp. Rev., vol 34, số p.h 2, tr 169–189, tháng 3/2014, doi: 10.1080/01441647.2014.891162.
J. W. F. C. van Lieshout, A. H. J. Nijhof, G. J. W. Naarding, và R. J. Blomme (2021). Connecting strategic orientation, innovation strategy, and corporate sustainability: A model for sustainable development through stakeholder engagement. Bus. Strategy Environ., vol 30, số p.h 8, tr 4068–4080, tháng 12/2021, doi: 10.1002/bse.2857.
K. F. Yuen và J. M. Lim (2016). Barriers to the Implementation of Strategic Corporate Social Responsibility in Shipping. The Asian Journal of Shipping and Logistics, vol 32, số p.h 1, tr 49-57, tháng 3/2016, doi: 10.1016/j.ajsl.2016.03.006.
K.-H. Lai, V. Y. H. Lun, C. W. Y. Wong, và T. C. E. Cheng (2011). “Green shipping practices in the shipping industry: Conceptualization, adoption, and implications”, Resour. Conserv. Recycl., vol 55, số p.h 6, tr 631–638, tháng 4 2011, doi: 10.1016/j.resconrec.2010.12.004.
M. Acciaro và c.s., (2014). Environmental sustainability in seaports: a framework for successful innovation. Maritime Policy & Management, vol 41, số p.h 5, tr 480–500, tháng 7 2014, doi: 10.1080/03088839.2014.932926.
M. Acciaro (2015). Corporate responsibility and value creation in the port sector. International Journal of Logistics Research and Applications, vol 18, số p.h 3, tr 291–311, tháng 5 2015, doi: 10.1080/13675567.2015.1027150.
M. Acciaro và c.s. (2018). Are the innovation processes in seaport terminal operations successful? Maritime Policy & Management, vol 45, số p.h 6, tr 787–802, tháng 8/2018, doi: 10.1080/03088839.2018.1466062.
M. Lee, A. Pak, và T. Roh (2024). The interplay of institutional pressures, digitalization capability, environmental, social, and governance strategy, and triple bottom line performance: A moderated mediation model. Bus. Strategy Environ., vol 33, số p.h 6, tr 5247–5268, tháng 9 2024, doi: 10.1002/bse.3755.
M. Sarstedt, J. F. Hair, J.-H. Cheah, J.-M. Becker, và C. M. Ringle (2019). “How to Specify, Estimate, and Validate Higher-Order Constructs in PLS-SEM”, Australasian Marketing Journal, vol 27, số p.h 3, tr 197–211, tháng 8/2019, doi: 10.1016/j.ausmj.2019.05.00
P. den Hertog, W. van der Aa, và M. W. de Jong (2010). Capabilities for managing service innovation: towards a conceptual framework. Journal of Service Management, vol 21, số p.h 4, tr 490-514, tháng 8/2010, doi: 10.1108/09564231011066123.
S. Nambisan, K. Lyytinen, A. Majchrzak, và M. Song (2017). Digital Innovation Management: Reinventing Innovation Management Research in a Digital World. MIS Quarterly, vol 41, số p.h 1, tr. 223-238, tháng 3/2017, doi: 10.25300/MISQ/2017/41:1.03.
R. G. Eccles, I. Ioannou, và G. Serafeim (2014). The Impact of Corporate Sustainability on Organizational Processes and Performance. Manage. Sci., vol 60, số p.h 11, tr 2835-2857, tháng 11/2014, doi: 10.1287/mnsc.2014.1984.