Innovating policy communication in the implementation process to meet the requirements of the digital era
TS. Đặng Thị Đào Trang
ThS. Nguyễn Thụy Ánh Ly
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại thành phố Đà Nẵng
Email: dangdaotrang@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới công tác truyền thông chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Bài viết làm rõ vai trò của truyền thông trong thực thi chính sách và tập trung phân tích thực trạng công tác truyền thông trong thực thi chính sách ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp đổi mới phương thức truyền thông chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phát triển hệ sinh thái truyền thông chính sách số, tăng cường tính tương tác giữa chủ thể và đối tượng truyền thông. Từ đó, góp phần tạo đồng thuận xã hội, tăng cường sự tham gia của người dân, giúp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Từ khóa: Truyền thông chính sách; phương thức truyền thông; chuyển đổi số; quản trị hiện đại.
Abstract: In the context of national digital transformation and the rapid advancement of science and technology, there is an urgent need to innovate policy communication in order to meet the increasingly diverse information needs of citizens and enhance the effectiveness of policy implementation. This paper clarifies the role of communication in the policy implementation process and analyzes the current state of policy communication practices in Vietnam. Based on this analysis, it proposes several solutions to innovate policy communication methods by adopting a citizen-centered approach, promoting the application of digital technologies, developing a digital policy communication ecosystem, and strengthening interaction between communication actors and target audiences. These measures are expected to foster social consensus, encourage greater public participation, and ultimately improve the effectiveness of policy implementation.
Keywords: Policy communication; communication methods; digital transformation; modern governance.
1. Đặt vấn đề
Từ thực tiễn đã chỉ ra, hoạt động truyền thông chính sách, đặc biệt là truyền thông trong giai đoạn thực thi chính sách chủ yếu được thực hiện theo mô hình truyền thống, tuyên truyền một chiều, trong đó cơ quan nhà nước đóng vai trò trung tâm cung cấp thông tin còn người dân là đối tượng tiếp nhận thụ động. Thông tin chính sách được truyền tải thông qua báo chí, phát thanh, truyền hình, hội nghị tuyên truyền hoặc các tài liệu phổ biến chính sách.
Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc của hệ sinh thái truyền thông. Với sự phổ biến của internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng số, người dân không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn tham gia sản xuất, chia sẻ và phản hồi thông tin theo thời gian thực. Thông tin chính sách ngày nay không còn lưu chuyển một chiều từ cơ quan nhà nước đến người dân mà diễn ra theo nhiều chiều, với sự tham gia của các chủ thể khác nhau.
Trong bối cảnh đó, nếu công tác truyền thông trong thực thi chính sách vẫn duy trì phương thức truyền thống, chậm đổi mới về nội dung, hình thức và công nghệ thì sẽ khó tiếp cận được công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhóm công dân số đang chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong xã hội.
2. Cơ sở lý luận về truyền thông trong thực thi chính sách
2.1. Khái niệm về truyền thông trong thực thi chính sách
Khi xem xét truyền thông chính sách như một hoạt động của truyền thông, tác giả Nguyễn Huy Phòng cho rằng: “Truyền thông chính sách là quá trình tương tác, trao đổi, chia sẻ thông tin về chính sách giữa các cơ quan truyền thông với đông đảo công chúng nhằm tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động của toàn xã hội” (Nguyễn Huy Phòng, 2017). Quan niệm này thực chất nhấn mạnh công tác tuyên truyền chính trị với chủ thể là Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội. Vì vậy, tuyên truyền chính trị ở Việt Nam bao gồm cả truyền thông chính sách. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Thắng nhấn mạnh: “truyền thông chính sách là quá trình giao tiếp và trao đổi thông tin liên quan đến các chính sách công, nhằm mục đích cung cấp thông tin, giải thích, và thảo luận về các vấn đề chính sách nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội góp phần hoàn thiện quá trình chính sách bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của người dân” (Nguyễn Đức Thắng, 2024).
Kế thừa các quan niệm trên, Lương Ngọc Vĩnh đưa ra khái niệm về truyền thông chính sách ở Việt Nam như sau: “Truyền thông chính sách là quá trình tương tác, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan truyền thông nhà nước với đông đảo quần chúng trong chu trình chính sách, bao gồm: nhận diện vấn đề chính sách; hoạch định chính sách; thực thi chính sách và đánh giá chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước và sự đồng thuận trong xã hội” (Lương Ngọc Vĩnh, 2021).
Như vậy, quan niệm của các tác giả đều thống nhất đặc trưng của truyền thông chính sách là sự trao đổi, tương tác, chia sẻ thông tin và sự tham gia của truyền thông vào tất cả các khâu của chu trình chính sách nhằm phát huy vai trò của người dân, tạo sự đồng thuận xã hội và thực hiện tốt mục tiêu của cơ quan ban hành chính sách. Trong khuôn khổ bài viết, truyền thông trong thực thi chính sách là quá trình tương tác, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các chủ thể truyền thông với đối tượng truyền thông thông qua các hình thức, kênh truyền thông khác nhau nhằm hướng tới thay đổi hành vi của đối tượng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chính sách trên thực tế.
2.2. Vai trò của truyền thông trong thực thi chính sách
Truyền thông có vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn của chu trình chính sách. Trong giai đoạn tổ chức thực thi chính sách, truyền thông có trách nhiệm thông tin, giải thích chính sách đến các đối tượng liên quan. Chính vì thế, truyền thông không còn là một hoạt động hỗ trợ mà trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình thực thi chính sách, góp phần quyết định mức độ thành công của việc thực hiện chính sách. Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng nền hành chính phục vụ, quản trị công hiện đại, vai trò của truyền thông trong thực thi chính sách thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, truyền thông trong thực thi chính sách là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với người dân và các bên liên quan. Thông tin từ chủ thể ban hành chính sách đến đối tượng thực thi chính sách thường không trực tiếp mà thông qua trung gian là hoạt động truyền thông. Lúc này, truyền thông đóng vai trò chuyển tải chính xác nội dung chính sách đến người dân, giúp họ hiểu được mục tiêu, quyền lợi, nghĩa vụ và cách thức thực hiện. Ở chiều ngược lại, truyền thông tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận ý kiến phản hồi, đóng góp từ phía người dân, doanh nghiệp và các bên liên quan khác. Quá trình trao đổi thông tin hai chiều này giúp rút ngắn khoảng cách giữa chủ thể ban hành chính sách và đối tượng thực thi, góp phần xây dựng mối quan hệ đối tác giữa chính quyền và người dân đồng thời tăng cường niềm tin của xã hội đối với cơ quan nhà nước.
Thêm vào đó, trong quá trình thực hiện chính sách, sẽ có nhiều vấn đề nảy sinh và nhiệm vụ của truyền thông là phải nắm bắt tâm tư của người dân và các đối tượng thụ hưởng chính sách hay các nhóm đối tượng bị tác động bởi chính sách để phản hồi thông tin đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, duy trì chính sách phù hợp. Điều này cũng có nghĩa là, truyền thông phản ánh bức tranh thực tiễn và thái độ của công chúng. Nhờ đó, các cơ quan chức năng có thể lắng nghe, tiếp thu, điều chỉnh các bất cập trong quá trình thực thi và hoàn thiện chính sách. Thông qua phản hồi từ các kênh truyền thông, cơ quan quản lý có thể kịp thời phát hiện những khó khăn, bất cập hoặc những tác động ngoài dự kiến của chính sách. Dựa trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều chỉnh cách thức triển khai thực hiện, bổ sung giải pháp hoặc kiến nghị sửa đổi chính sách khi cần thiết, qua đó, nâng cao tính khả thi và hiệu quả của chính sách.
Thứ hai, truyền thông góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình thực thi chính sách. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chính sách không phát huy hiệu quả trên thực tế, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ việc người dân chưa hiểu đúng hoặc hiểu chưa đầy đủ về nội dung, ý nghĩa của chính sách. Thông qua hoạt động truyền thông, cơ quan nhà nước giúp người dân hiểu rõ sự cần thiết, tác động của chính sách đối với cá nhân và cộng đồng, từ đó hình thành thái độ tích cực và sẵn sàng tham gia thực hiện chính sách. Trong trường hợp này, truyền thông đóng vai trò điều tiết dư luận xã hội nhằm đạt đến sự đồng thuận xã hội trong thực thi chính sách. Chính sách được ban hành hướng đến bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, nhưng chính sách ở một khía cạnh nào đó, sẽ đụng chạm đến lợi ích của một nhóm người nhất định trong xã hội. Lúc này, truyền thông phải làm nhiệm vụ tuyên truyền, tương tác và phản biện giúp mọi người hiểu mục đích tốt đẹp mà chính sách mang lại, từ đó, đối tượng chịu sự tác động nhận thức và chấp nhận hy sinh lợi ích trước mắt để hướng tới lợi ích chung lâu dài trong tương lai. Như vậy, truyền thông trong thực thi chính sách sẽ giúp tạo ra dư luận xã hội tích cực, thúc đẩy sự đồng thuận xã hội trong thực thi chính sách.
Thứ ba, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc minh bạch hóa thông tin và ngăn chặn khủng hoảng truyền thông trong thực thi chính sách. Trong thời đại bùng nổ thông tin, mọi thông tin liên quan đến chính sách được lan truyền rất nhanh trên báo chí, đặc biệt là mạng xã hội. Nếu cơ quan nhà nước không chủ động cung cấp thông tin kịp thời và đầy đủ thì khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi các thông tin sai lệch, thậm chí là tin đồn dẫn đến những phản ứng tiêu cực, làm giảm niềm tin của người dân đối với Nhà nước. Nghiên cứu quốc tế gần đây chỉ ra rằng, thông tin sai lệch có thể tác động tiêu cực đến mức độ tuân thủ chính sách, làm giảm uy tín của các cơ quan công quyền và làm gia tăng xung đột xã hội (Silva & Vaz, 2024). Trong trường hợp này, truyền thông là “kênh phiên dịch chính sách”, cung cấp thông tin chính xác, đa chiều và dễ hiểu đến công chúng. Việc minh bạch giúp ngăn chặn tình trạng hiểu sai, tin giả hoặc khủng hoảng truyền thông do các luồng thông tin không chính thống gây ra. Một cơ chế truyền thông chủ động và minh bạch chắc chắn sẽ góp phần ổn định dư luận xã hội; đồng thời, duy trì sự đồng thuận và bảo đảm hiệu quả thực thi chính sách.
Thứ tư, truyền thông trong thực thi chính sách làm tăng niềm tin của người dân vào hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia minh bạch, trách nhiệm. Trong xu hướng quản trị công hiện đại, truyền thông không chỉ phục vụ mục đích tuyên truyền một chiều từ trên xuống mà đã trở thành công cụ quan trọng để thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Truyền thông chính sách không chỉ là truyền tải thông điệp mà cơ quan nhà nước muốn gửi đến người dân mà còn là kêu gọi sự hợp tác của người dân trong quá trình thực thi chính sách.
Như vậy, truyền thông sẽ giúp làm rõ nội hàm của chính sách để người dân hiểu, đồng thuận và tích cực triển khai, thực hiện. Thêm vào đó, việc truyền thông về chính sách trong quá trình thực thi còn giúp phát hiện những khiếm khuyết, bất cập nảy sinh cũng như những phản hồi của xã hội đối với hiệu quả của chính sách, làm cơ sở cho cơ quan ban hành tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện chính sách, từ đó góp phần gia tăng sự tương tác hai chiều, thúc đẩy mối quan hệ gần gũi, thấu cảm giữa chủ thể ban hành chính sách và các đối tượng thụ hưởng, đem lại sự đồng thuận xã hội.
Tóm lại, vai trò của truyền thông trong giai đoạn tổ chức thực thi chính sách hướng tới mục tiêu duy trì sự đồng thuận của xã hội. Việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội này làm cho tiến độ thực thi chính sách được bảo đảm, hiệu quả chính sách được thực hiện. Kết quả truyền thông ở giai đoạn này nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết của Nhân dân về chính sách và ý chí sẵn sàng hành động tham gia xây dựng, thực thi chính sách đối với đối tượng truyền thông.
3. Thực trạng công tác truyền thông trong thực thi chính sách hiện nay tại Việt Nam
3.1. Những kết quả tích cực và xu hướng đổi mới bước đầu
Một là, nhận thức về vai trò của truyền thông chính sách đã có sự thay đổi rõ nét. Nếu trước đây hoạt động tuyên truyền chủ yếu mang tính hỗ trợ quá trình thực thi chính sách thì hiện nay truyền thông chính sách ngày càng được nhìn nhận như một công cụ quản trị công quan trọng, góp phần tạo đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Điều này được thể hiện qua việc Chính phủ ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về truyền thông chính sách (Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách), truyền thông dự thảo chính sách (Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027”) và tăng cường cung cấp thông tin cho báo chí (Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước).
Hai là, các cơ quan nhà nước đã chủ động ứng dụng công nghệ số vào hoạt động truyền thông chính sách. Hầu hết các bộ, ngành và địa phương đã xây dựng cổng thông tin điện tử, chuyên trang pháp luật, hệ thống dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng tương tác với người dân. Nhiều địa phương đã khai thác hiệu quả mạng xã hội, như: Facebook, Zalo, YouTube để truyền tải thông tin pháp luật. Thực tế, trong thời kỳ phòng chống dịch Covid-19, Bộ Y tế đã sử dụng báo chí, mạng xã hội, tin nhắn SMS, ứng dụng PC-Covid và các nền tảng số khác để truyền tải thông điệp phòng chống, dịch. Nhiều địa phương đã triển khai các kênh Zalo Official Account để cung cấp thông tin hành chính và hướng dẫn thực hiện thủ tục pháp lý cho người dân. Điển hình như thành phố Đà Nẵng đã xây dựng hệ sinh thái chính quyền số với nhiều ứng dụng tương tác trực tuyến như Danang Smart City, góp phần đưa thông tin pháp luật và chính sách đến người dân nhanh hơn.
Ba là, hình thức truyền thông ngày càng đa dạng. Bên cạnh các hình thức truyền thống, như: hội nghị tuyên truyền, tập huấn, hội thảo, tọa đàm, các cơ quan nhà nước đã bắt đầu sử dụng infographic, video clip, livestream, podcast và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện. Những chuyển biến trên cho thấy, truyền thông chính sách đang từng bước thích ứng với môi trường số và nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng của xã hội.
3.2. Hạn chế và bất cập còn tồn tại
Mặc dù công tác truyền thông chính sách ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao nhận thức của người dân và hỗ trợ quá trình thực thi chính sách, song trước yêu cầu của chuyển đổi số và sự phát triển nhanh chóng của môi trường truyền thông hiện đại, hoạt động này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cả về tư duy, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện và năng lực quản trị truyền thông (Bộ Tư pháp, 2023).
Thứ nhất, tư duy truyền thông vẫn mang nặng tính hành chính, một chiều. Nhiều cơ quan nhà nước vẫn tiếp cận truyền thông chính sách theo tư duy “thông báo” hoặc “phổ biến” thay vì “giao tiếp” và “đối thoại”. Truyền thông chủ yếu tập trung vào việc chuyển tải nội dung văn bản chính sách mà chưa thực sự quan tâm đến khả năng tiếp nhận, nhu cầu và phản hồi của người dân. Trong khi đó, truyền thông hiện đại đòi hỏi quá trình tương tác hai chiều, nơi người dân không chỉ tiếp nhận mà còn có quyền phản hồi, chất vấn và tham gia vào quá trình thực hiện chính sách. Hệ quả là nhiều thông tin chính sách được công bố đầy đủ nhưng vẫn không tạo được sự đồng thuận hoặc thay đổi hành vi xã hội.
Thứ hai, nội dung truyền thông chưa đáp ứng nhu cầu của người dân. Một thực tế khá phổ biến là nhiều sản phẩm truyền thông chính sách hiện nay được xây dựng từ góc nhìn của cơ quan quản lý thay vì từ góc nhìn của người sử dụng thông tin. Ngôn ngữ sử dụng thường mang tính pháp lý, hành chính, nhiều thuật ngữ chuyên môn, khó tiếp cận đối với đa số người dân. Thực tế triển khai các quy định mới về căn cước công dân gắn chip, định danh điện tử hoặc bảo hiểm xã hội, không ít người dân vẫn gặp khó khăn trong việc hiểu quyền lợi, nghĩa vụ và quy trình thực hiện mặc dù thông tin đã được công bố rộng rãi. Điều đó cho thấy, khoảng cách giữa “cung cấp thông tin” và “giúp người dân hiểu được thông tin” vẫn còn khá lớn.
Thứ ba, khả năng cạnh tranh với mạng xã hội còn hạn chế. Trong thời đại số, các cơ quan nhà nước không còn là nguồn cung cấp thông tin duy nhất. Người dân ngày càng tiếp cận thông tin chính sách thông qua Facebook, TikTok, YouTube, diễn đàn trực tuyến hoặc những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội. Trong khi đó, phần lớn sản phẩm truyền thông chính sách chính thống: chậm cập nhật; thiếu tính hấp dẫn; chưa tối ưu cho môi trường số; ít khả năng lan tỏa. Do đó, thông tin chính thống nhiều khi bị lấn át bởi các nguồn tin không chính thức. Một số sự kiện gần đây liên quan đến Luật Đất đai, Luật Bảo hiểm xã hội, các quy định về thuế, xử phạt giao thông hay định danh điện tử cho thấy, nhiều thông tin chưa chính xác trên mạng xã hội được lan truyền nhanh hơn thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước. Điều này phản ánh một thực tế rằng, năng lực truyền thông số của nhiều cơ quan công quyền vẫn chưa đáp ứng yêu cầu mới.
Thứ tư, thiếu hệ thống đánh giá hiệu quả truyền thông chính sách. Hiện nay, hiệu quả truyền thông chính sách thường được đánh giá thông qua các chỉ số đầu vào, như: số hội nghị tổ chức; số lượng tài liệu phát hành; số lượt tiếp cận thông tin. Trong khi đó, những chỉ số quan trọng hơn, như: mức độ hiểu chính sách của người dân, mức độ thay đổi nhận thức, mức độ thay đổi hành vi, mức độ đồng thuận xã hội lại chưa được đo lường một cách hệ thống. Điều này dẫn đến tình trạng khó xác định chính xác hiệu quả thực chất của hoạt động truyền thông.
Thứ năm, nguồn nhân lực truyền thông chính sách chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Đội ngũ làm công tác truyền thông chính sách ở nhiều nơi chủ yếu được đào tạo về pháp luật hoặc quản lý hành chính, trong khi kỹ năng truyền thông số, quản trị nền tảng số, phân tích dữ liệu truyền thông và xử lý khủng hoảng thông tin còn hạn chế. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và mạng xã hội đang thay đổi hoàn toàn phương thức truyền thông, đây là một khoảng trống đáng chú ý cần được khắc phục.
Sự phát triển của mạng xã hội đã làm thay đổi hoàn toàn môi trường truyền thông. Thông tin có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh và vượt khỏi khả năng kiểm soát của các cơ quan quản lý nếu không có cơ chế giám sát và phản ứng phù hợp. Thời gian gần đây, nhiều thông tin chưa chính xác hoặc bị bóp méo liên quan đến các chính sách công đã xuất hiện trên không gian mạng. Khi cơ quan nhà nước phản hồi chậm hoặc thiếu thông tin chính thức, các luồng thông tin sai lệch dễ dàng lấp đầy khoảng trống thông tin và tác động đến nhận thức của công chúng.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chỉ ra rằng, niềm tin của người dân đối với chính phủ phụ thuộc rất lớn vào khả năng cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch và đáng tin cậy (OECD, 2021). Trong bối cảnh đó, truyền thông chính sách không chỉ là hoạt động phổ biến quy định pháp luật mà còn trở thành một công cụ quan trọng để xây dựng và duy trì niềm tin xã hội. Có thể thấy rằng, công tác truyền thông chính sách ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nghịch lý: khả năng tạo ra thông tin ngày càng lớn nhưng khả năng tạo ra sự thấu hiểu và đồng thuận xã hội chưa tương xứng. Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở việc thiếu thông tin mà nằm ở việc phương thức truyền thông chưa theo kịp sự thay đổi của môi trường số và hành vi tiếp nhận thông tin của công chúng.
Trong khi xã hội đang chuyển từ mô hình truyền thông đại chúng sang mô hình truyền thông mạng xã hội, từ truyền thông một chiều sang truyền thông tương tác, thì nhiều hoạt động truyền thông chính sách vẫn vận hành theo tư duy tuyên truyền truyền thống. Đây chính là lý do căn bản làm cho yêu cầu đổi mới phương thức truyền thông chính sách trong thời đại số trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
4. Một số đề xuất đổi mới phương thức truyền thông trong thực thi chính sách đáp ứng yêu cầu của thời đại số
Một là, đổi mới tư duy truyền thông chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội, yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất đối với việc đổi mới truyền thông chính sách là đổi mới tư duy. Lấy người dân làm trung tâm trong truyền thông chính sách cũng đồng nghĩa với việc coi người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thông tin mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình truyền thông. Đây chính là biểu hiện của quản trị công hiện đại, trong đó truyền thông không chỉ có chức năng truyền tải thông tin mà còn tạo lập không gian đối thoại giữa Nhà nước và xã hội. Bên cạnh đó, việc lấy người dân làm trung tâm đòi hỏi nội dung truyền thông chính sách phải được thiết kế trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm và hành vi tiếp nhận thông tin của từng nhóm đối tượng. Thay vì sử dụng ngôn ngữ pháp lý khô cứng và mang tính chuyên môn cao, các thông điệp chính sách cần được chuyển tải bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, gắn với những vấn đề thiết thực trong đời sống hằng ngày của người dân. Mỗi nhóm đối tượng, như: thanh niên, người lao động, doanh nghiệp, người cao tuổi hay đồng bào dân tộc thiểu số đều có những nhu cầu và cách thức tiếp nhận thông tin khác nhau, do đó cần có các hình thức truyền thông phù hợp để bảo đảm khả năng tiếp cận và hiệu quả truyền thông.
Hai là, xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính sách số đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc đổi mới truyền thông chính sách không thể chỉ dừng lại ở việc chuyển tải các nội dung chính sách từ môi trường truyền thống lên môi trường mạng. Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải xây dựng một hệ sinh thái truyền thông chính sách số đồng bộ, hiện đại và có khả năng kết nối hiệu quả giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội khác. Đây không chỉ là giải pháp về mặt công nghệ mà còn là bước chuyển quan trọng trong phương thức quản trị nhà nước, phù hợp với mục tiêu xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số ở Việt Nam theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.
Trong điều kiện đó, cần chuyển từ tư duy xây dựng các kênh truyền thông đơn lẻ sang tư duy kiến tạo một hệ sinh thái truyền thông chính sách số thống nhất và tích hợp. Hệ sinh thái này phải bảo đảm khả năng kết nối giữa các cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước, hệ thống dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng truyền thông xã hội chính thức và các ứng dụng tương tác với người dân. Khi đó, người dân có thể tiếp cận thông tin chính sách, pháp luật thông qua nhiều điểm chạm khác nhau nhưng vẫn nhận được những thông tin chính xác, thống nhất và cập nhật.
Từ góc độ quản trị công hiện đại, hệ sinh thái truyền thông chính sách số không chỉ là tập hợp các nền tảng công nghệ mà còn là một cơ chế kết nối giữa Nhà nước và xã hội trên cơ sở dữ liệu mở, thông tin minh bạch và tương tác hai chiều. Việc xây dựng thành công hệ sinh thái này sẽ tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận thông tin pháp luật một cách nhanh chóng, thuận tiện và bình đẳng; đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, tăng cường tính công khai, minh bạch và củng cố niềm tin xã hội đối với hoạt động quản lý nhà nước.
Ba là, đổi mới nội dung và phương thức truyền tải thông tin chính sách phù hợp với hành vi tiếp nhận thông tin trong thời đại số.
Môi trường truyền thông số đã làm thay đổi căn bản hành vi tiếp nhận thông tin của công chúng. Người dân ngày càng có xu hướng tiếp nhận thông tin thông qua các thiết bị di động, mạng xã hội và các nền tảng số; ưu tiên những nội dung ngắn gọn, trực quan, sinh động và có tính tương tác cao. Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ cách thức xây dựng nội dung truyền thông chính sách theo hướng lấy người sử dụng thông tin làm trung tâm. Thay vì truyền tải những gì cơ quan nhà nước muốn cung cấp, cần tập trung vào những vấn đề người dân quan tâm, những quyền lợi, nghĩa vụ và tác động trực tiếp của chính sách đối với đời sống hằng ngày. Nội dung thông điệp chính sách cần được diễn giải bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, hạn chế tối đa thuật ngữ chuyên môn và được minh họa bằng các tình huống thực tiễn để người dân dễ hình dung và vận dụng.
Từ góc độ quản trị công hiện đại, đổi mới nội dung và phương thức truyền tải thông tin chính sách không đơn thuần là thay đổi hình thức thể hiện mà là quá trình chuyển từ truyền thông dựa trên văn bản sang truyền thông dựa trên trải nghiệm của người dân. Khi thông tin chính sách được truyền tải bằng ngôn ngữ dễ hiểu, hình thức hấp dẫn và phù hợp với nhu cầu của công chúng, nội dung chính sách sẽ không còn là những quy định khô cứng mà trở thành những tri thức hữu ích, gần gũi với đời sống và có khả năng định hướng hành vi xã hội một cách hiệu quả hơn.
Bốn là, nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ làm công tác truyền thông chính sách.
Trong quá trình chuyển đổi số hiện nay, công nghệ được xem là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hoạt động truyền thông chính sách. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, công nghệ chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn và kỹ năng phù hợp. Do đó, cùng với việc đầu tư hạ tầng số và ứng dụng các công nghệ mới, cần đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác truyền thông chính sách, coi đây là yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình đổi mới.
Trong thời gian tới, cần từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động truyền thông chính sách theo hướng xây dựng đội ngũ cán bộ có kiến thức liên ngành giữa chính sách công, quản trị công, công nghệ số và truyền thông. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần tập trung trang bị cho đội ngũ này những năng lực thiết yếu như kỹ năng truyền thông chính sách, kỹ năng xây dựng nội dung số, quản trị mạng xã hội, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong truyền thông, phân tích dữ liệu truyền thông và xử lý khủng hoảng thông tin. Đồng thời, cần tăng cường khả năng chuyển hóa ngôn ngữ pháp lý thành ngôn ngữ truyền thông dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng tiếp nhận thông tin.
Từ góc độ quản trị hiện đại, truyền thông chính sách không còn là nhiệm vụ mang tính hỗ trợ mà đã trở thành một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước. Do đó, đầu tư cho nguồn nhân lực truyền thông chính sách chính là đầu tư cho hiệu quả thực thi chính sách và pháp luật. Một đội ngũ làm công tác truyền thông có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng số tốt và tư duy phục vụ người dân sẽ là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền truyền thông chính sách hiện đại, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời đại số.
5. Kết luận
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đang làm thay đổi căn bản phương thức truyền thông trong xã hội hiện đại; đồng thời, tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với công tác truyền thông chính sách. Trong bối cảnh đó, việc đổi mới phương thức truyền thông chính sách không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường sự đồng thuận xã hội.
Thực tiễn cho thấy, mặc dù công tác truyền thông chính sách ở nước ta thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn tồn tại những hạn chế về tư duy truyền thông, nội dung, phương thức tổ chức thực hiện, năng lực ứng dụng công nghệ số và khả năng tương tác với người dân. Những hạn chế này đang làm giảm hiệu quả lan tỏa của thông tin pháp luật trong bối cảnh môi trường truyền thông số phát triển nhanh chóng và ngày càng phức tạp.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển chính phủ số và xã hội số, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới từ nhận thức, thể chế, tổ chức bộ máy đến phương thức và công nghệ truyền thông. Trọng tâm là chuyển từ truyền thông một chiều sang truyền thông tương tác, từ tư duy tuyên truyền sang tư duy phục vụ, lấy người dân làm trung tâm; đồng thời, phát huy hiệu quả của các nền tảng số, Big Data và AI trong cung cấp, chia sẻ và quản trị thông tin pháp luật. Chỉ khi truyền thông chính sách thực sự trở thành cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước và xã hội, pháp luật mới có thể đi vào cuộc sống một cách bền vững, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong thời đại số.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Tư pháp (2023). Báo cáo tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2023.
Chính phủ (2026). Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.
Lương Ngọc Vĩnh (chủ biên) (2021). Giáo trình lý thuyết và kỹ năng truyền thông chính sách. Nxb Lý luận chính trị.
Nguyễn Đức Thắng (22/10/2024). Nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông chính sách. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/10/22/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-truyen-thong-chinh-sach/
Nguyễn Huy Phòng (2017). Truyền thông chính sách và vai trò trong quản lý nhà nước. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Báo Đại biểu nhân dân, & Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc, Truyền thông chính sách – Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc (tr. 154). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Thị Thu Vân (2023). Quản trị truyền thông chính sách trong cơ quan nhà nước. Tạp chí Quản lý nhà nước, (324), tr. 49 – 53.
Organisation for Economic Co-operation and Development. (2021). Building trust to reinforce democracy: Main findings from the 2021 OECD survey on drivers of trust in public institutions. OECD Publishing.
Silva, A., & Vaz, M. (2024). How disinformation and fake news impact public policies? Springer Nature.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022–2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.



