Hội thảo khoa học: “Ứng dụng AI trong xây dựng chính phủ số của các quốc gia – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

(Quanlynhanuoc.vn) – Sáng ngày 27/8/2026, tại Hà Nội, Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề Ứng dụng AI trong xây dựng chính phủ số của các quốc gia – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Vân, Trưởng khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng chủ trì Hội thảo. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các phân hiệu của Học viện.

Quang cảnh Hội thảo

Tham dự Hội thảo, về phía các đại biểu khách mời, có: PGS. TS. Nguyễn Văn Hậu, Chánh Văn phòng Đảng uỷ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS. TS. Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ; PGS. TS. Bế Trung Anh, đại biểu Quốc hội, hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Công tác đại biểu của Quốc hội; TS. Nguyễn Đình Lợi, Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Chính phủ; TS. Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ VINASA; ông Lê Thanh Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Winnet Pro; bà Nguyễn Mỹ Hạnh, phòng Văn hoá – Xã hội, UBND phường Cửa Nam. Về phía Học viện Hành chính và Quản trị công, có: TS. Hoàng Ngọc Hải, Phó Giám đốc Học viện; lãnh đạo các khoa, ban, đơn vị thuộc Học viện; các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên và sinh viên Học viện tham dự trực tiếp và trực tuyến.

TS. Hoàng Ngọc Hải, Phó Giám đốc Học viện phát biểu khai mạc Hội thảo.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Hoàng Ngọc Hải, Phó Giám đốc Học viện nhấn mạnh, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy những thay đổi căn bản trong tổ chức, vận hành bộ máy nhà nước và quá trình chuyển đổi từ chính phủ điện tử sang chính phủ số. Trong đó, trí tuệ nhân tạo (AI) có tiềm năng tái định hình phương thức hoạch định chính sách, cung ứng dịch vụ công và quản trị nhà nước trên cơ sở khai thác, phân tích dữ liệu quy mô lớn. Thực tiễn quốc tế cho thấy, AI đang được tích hợp ngày càng sâu vào chính phủ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi sự đồng bộ về hạ tầng số, dữ liệu, nguồn nhân lực, năng lực số của bộ máy hành chính và thể chế quản trị. Đối với Việt Nam, ứng dụng AI trong khu vực công cần được đặt trong tổng thể kiến trúc quản trị số quốc gia, gắn với phát triển hạ tầng dữ liệu, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và quản trị rủi ro. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nhân lực số và xây dựng khung quản trị AI theo hướng hiệu quả, an toàn, có trách nhiệm.

TS. Hoàng Ngọc Hải khẳng định, kết quả nghiên cứu, trao đổi tại Hội thảo sẽ góp phần cập nhật tri thức, phục vụ giảng dạy các học phần Chính phủ số, Kỹ năng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, qua đó nâng cao năng lực số của người học, đáp ứng yêu cầu quản trị công hiện đại.

PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân phát biểu đề dẫn hội thảo.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân cho biết, AI đang nổi lên như một công nghệ có khả năng tái định hình phương thức hoạch định chính sách, cung ứng dịch vụ công và quản trị nhà nước. Thông qua khả năng khai thác, phân tích và xử lý dữ liệu ở quy mô lớn với tốc độ cao và độ chính xác vượt trội, AI không chỉ hỗ trợ tự động hóa các quy trình hành chính mà còn mở ra những khả năng mới trong chuyển đổi mô hình quản trị công. Theo đó, các cơ quan nhà nước có thể xây dựng những nền tảng quản trị dựa trên kết nối dữ liệu với Internet vạn vật, mở dữ liệu cho các tổ chức, qua đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các dịch vụ ngày càng đa dạng, hiệu quả hơn nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Các chủ trương, chính sách phát triển Chính phủ số đã được xác định rõ trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Trong đó, ứng dụng AI được xác định là một nội dung quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý, đạo đức và an toàn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức triển khai hiệu quả chiến lược phát triển AI trong quá trình xây dựng Chính phủ số.

Trên thực tế, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, như: rủi ro về đạo đức, thiên kiến thuật toán, xâm phạm quyền riêng tư và phân biệt đối xử trong ứng dụng AI; thiếu cơ chế phân loại và kiểm soát rủi ro đối với các hệ thống AI, cũng như cơ chế kiểm định, cấp phép và giám sát phù hợp. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp trong xây dựng và chia sẻ, sử dụng chung hạ tầng tính toán cho AI, cơ chế quản trị dữ liệu phục vụ AI còn chưa hoàn thiện; mức độ phụ thuộc vào công nghệ và các mô hình của nước ngoài vẫn còn cao. Những hạn chế này đang tạo ra những rào cản đáng kể đối với quá trình nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng các hệ thống AI tại Việt Nam, đồng thời gây khó khăn cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và từng bước làm chủ công nghệ AI mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Vân khẳng định, thực tiễn ứng dụng AI tại nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới cho thấy, đây là một xu hướng tất yếu và không thể đảo ngược. Vì vậy, việc nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia về phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trên cơ sở phù hợp với điều kiện và bối cảnh của Việt Nam là yêu cầu cầp thiết, đồng thời cũng là nội dung trao đổi tại Hội thảo hôm nay. PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Vân đề xuất các chủ đề thảo luận chính, gồm: (1) Kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng AI trong xây dựng chính phủ số, cung ứng dịch vụ công, xây dựng hạ tầng số và đảm bảo an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu ; (2) Mô hình triển khai AI trong quản trị nhà nước; (3) Vai trò và tác động của AI trong chuyển đổi số của khu vực công; (4) Kinh nghiệm quốc tế về cải cách thể chế, quản trị dựa trên dữ liệu trong xây dựng chính phủ số; và (5) Đào tạo nguồn nhân lực số trong khu vực công đáp ứng yêu cầu của chính phủ số.

TS. Nguyễn Đình Lợi, Cục Chuyển đổi số, Văn phòng Chính phủ, tham luận tại Hội thảo.

Với chủ đề “Sử dụng AI trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất đối với Việt Nam”, TS. Nguyễn Đình Lợi tập trung phân tích vai trò của AI trong chuyển đổi từ dịch vụ công điện tử sang dịch vụ công thông minh, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất định hướng phù hợp cho Việt Nam. Thực tiễn từ một số quốc gia cho thấy, AI chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng dữ liệu liên thông, định danh số, hạ tầng hiện đại và thể chế phù hợp. Trong khi Singapore sử dụng AI để phân tích nhu cầu và cá thể hóa dịch vụ thông qua nền tảng LifeSG, Estonia xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông X-Road và trợ lý ảo quốc gia Bürokratt, Hàn Quốc ứng dụng AI trong xử lý hồ sơ, phân tích kiến nghị và dự báo nhu cầu dịch vụ thì Các tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) theo đuổi mô hình “AI-first government” (Chính phủ ưu tiên AI), hướng tới tích hợp AI vào toàn bộ dịch vụ công. Những kinh nghiệm này cho thấy, ngoài công nghệ, cam kết chính trị, quản trị dữ liệu, đầu tư hạ tầng và khả năng phối hợp công – tư cũng là những yếu tố quyết định thành công.

Việt Nam đã hình thành những nền tảng quan trọng, như: cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; hệ thống định danh và xác thực điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia và các hệ thống giải quyết thủ tục hành chính. Một số cơ quan, địa phương cũng bắt đầu triển khai chatbot, trợ lý ảo và AI trong xử lý văn bản. Tuy nhiên, quá trình ứng dụng vẫn gặp nhiều hạn chế: dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông; nhiều dịch vụ mới chỉ dừng ở “số hóa hình thức”; chưa có quy định đầy đủ về trách nhiệm thuật toán; vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân còn đặt ra nhiều yêu cầu; đồng thời khu vực công gặp khó khăn trong thu hút chuyên gia AI và dữ liệu chất lượng cao.

Từ đó, TS. Nguyễn Đình Lợi đề xuất chuyển mạnh sang mô hình “dịch vụ công thông minh”, trong đó trọng tâm không chỉ đưa thủ tục lên môi trường mạng mà còn tái thiết kế toàn bộ quy trình dựa trên dữ liệu, giảm giấy tờ và thao tác cho người dân, tự động hóa và cá thể hóa dịch vụ. Cùng với đó cần xây dựng hạ tầng dữ liệu liên thông dùng chung, phát triển một trợ lý ảo dịch vụ công quốc gia thống nhất, hoàn thiện cơ chế Sandbox (khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát) cho AI và đào tạo năng lực dữ liệu cho cán bộ, công chức. Về lộ trình, giai đoạn 2026 – 2027 sẽ tập trung hoàn thiện Sandbox, liên thông các cơ sở dữ liệu cốt lõi và thí điểm trợ lý ảo; giai đoạn 2028 – 2029 mở rộng trợ lý ảo và chuyển đổi các dịch vụ công thiết yếu sang mô hình thông minh; đến năm 2030 chuyển dịch toàn diện hệ thống quản trị sang mô hình “Chính quyền dự báo” và AI tự động hóa hoàn toàn các thủ tục hành chính thông thường.

TS. Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ VINASA tham luận tại Hội thảo.

Tham luận tại Hội thảo với chủ đề “Ứng dụng AI trong ra quyết định dựa trên dữ liệu – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam”, TS. Nguyễn Nhật Quang nhấn mạnh vai trò nền tảng của dữ liệu trong ứng dụng AI hỗ trợ ra quyết định. Theo đó, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở mô hình AI mà trước hết là chất lượng dữ liệu. Dữ liệu phục vụ ra quyết định cần bảo đảm tính “đúng”, “đủ”, “sạch”, “sống”, được cập nhật, liên thông và xác định rõ trách nhiệm quản lý. Trong khu vực công, dữ liệu hành chính phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước có giá trị lớn trong phân tích, nhận diện xu hướng và dự báo. Chẳng hạn, dữ liệu đăng ký khai sinh kết hợp với thông tin về độ tuổi cha mẹ, khu vực địa lý có thể cung cấp cơ sở dự báo biến động dân số và nhu cầu xã hội.

TS. Nguyễn Nhật Quang đồng thời đề xuất phát triển các nền tảng dữ liệu chính thức, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, trong đó có lĩnh vực văn thư, lưu trữ. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng dữ liệu và hiệu quả ứng dụng AI trong quản trị công.

PGS.TS. Bế Trung Anh, đại biểu Quốc hội, hoạt động chuyên trách tại Uỷ ban Công tác đại biểu của Quốc hội tham luận tại Hội thảo.

PGS.TS. Bế Trung Anh tập trung phân tích vai trò của AI trong hỗ trợ xây dựng chính phủ số và những thay đổi đối với phương thức vận hành của Chính phủ. Thứ nhất, AI giúp xử lý, tổng hợp, phân tích văn bản và thông tin nhanh hơn, qua đó nâng cao tốc độ, hiệu quả quản lý hành chính. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI ở mức này mới chủ yếu là cải thiện phương thức thực hiện, chưa tạo ra sự thay đổi căn bản trong mô hình vận hành của Chính phủ. Thứ hai, dữ liệu là nền tảng quyết định hiệu quả hoạt động của AI. AI có thể được xem là “trí tuệ”, nhưng dữ liệu mới chính là hệ thống kết nối để trí tuệ đó vận hành. Vì vậy, cần đồng bộ dữ liệu, hạ tầng số, khả năng liên thông, con người và AI, trong đó dữ liệu giữ vai trò cốt lõi. Thứ ba, khi Chính phủ có khả năng vận hành dựa trên dữ liệu thực và thời gian thực, cơ chế kiểm soát, giám sát quyền lực cũng cần được nhìn nhận theo cách tiếp cận mới, đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức giám sát của Quốc hội.

Từ đó, PGS.TS. Bế Trung Anh khẳng định AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đang từng bước thay đổi phương thức làm việc của Chính phủ, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và cải thiện quan hệ giữa Nhà nước với công dân.

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Hội thảo (áo xanh dài tay đeo kính).
PGS.TS. Nguyễn Văn Hậu, Chánh Văn phòng Đảng uỷ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội thảo.
Bà Nguyễn Mỹ Hạnh, Phòng Văn hóa – Xã hội, UBND phường Cửa Nam phát biểu tại Hội thảo.
Ông Lê Thanh Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Winnet Pro, phát biểu tại Hội thảo.
TS. Nguyễn Quang Quyền, Quyền Giám đốc Trung tâm Thông tin – Thư viện, Học viện Hành chính và Quản trị công phát biểu tại Hội thảo.

Trao đổi tại Hội thảo, ý kiến các đại biểu xoay quanh một số nội dung, như: (1)Thống nhất quan điểm AI được xem là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị, cải thiện trải nghiệm của người dân và xây dựng nền hành chính hiện đại; (2) Các nguyên tắc cho việc ứng dụng AI là minh bạch và giải trình, không phân biệt đối xử, bảo vệ quyền riêng tư và giám sát của con người; (3) Ứng dụng AI trong Chính phủ số phải được đặt trong tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Muốn AI thực sự trở thành động lực hiện đại hóa quản trị công, Việt Nam cần đồng bộ hóa thể chế, dữ liệu, hạ tầng số, nguồn nhân lực và cơ chế kiểm soát rủi ro; và (4) Các nội dung triển khai chuyển đổi số tại địa phương và doanh nghiệp trong thực tiễn.

Phát biểu kết luận Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân khẳng định, các tham luận và ý kiến trao đổi đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về ứng dụng AI trong xây dựng Chính phủ số, đồng thời gợi mở những kinh nghiệm có giá trị đối với Việt Nam. Hội thảo thống nhất nhận thức AI là công cụ quan trọng góp phần đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng dịch vụ công và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng AI không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà đòi hỏi sự đồng bộ về thể chế, dữ liệu, hạ tầng số, nguồn nhân lực và cơ chế quản trị rủi ro. Từ những trao đổi tại Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân nhấn mạnh, Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, gắn ứng dụng AI với cải cách hành chính và chuyển đổi số, đồng thời, bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo vệ quyền riêng tư và sự giám sát của con người. Kết quả nghiên cứu, trao đổi tại Hội thảo sẽ góp phần cập nhật tri thức, phục vụ giảng dạy các học phần Chính phủ số, Kỹ năng số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, qua đó nâng cao năng lực số của người học, đáp ứng yêu cầu quản trị công hiện đại.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm.

Đinh Hương