Developing digital human resources in enterprises – from the perspective of the state’s orienting role
TS. Phạm Thị Thương
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Email: ptthuongktct@hce.edu.vn
Trần Nguyên Hào
NCS Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Email: tnhao.dhkt25@hueuni.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số và những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực số nói riêng là một trong những yêu cầu cấp bách đối với mỗi doanh nghiệp và nền kinh tế. Từ góc nhìn vĩ mô, bài viết tập trung phân tích vai trò định hướng của Nhà nước trong việc phát triển nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp; từ đó, làm rõ vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ khóa: Nguồn nhân lực; nguồn nhân lực số; chuyển đổi số; vai trò của Nhà nước.
Abstract: In the context of digital transformation and the strong impacts of the Fourth Industrial Revolution, developing human resources in general and digital human resources in particular is one of the urgent requirements for every enterprise and the economy. From a macro perspective, the article analyzes the orienting role of the State in developing digital human resources for enterprises; thereby clarifying the macro-regulatory role of the State in the socialist-oriented market economy.
Keywords: Human resources; digital human resources; digital transformation; role of the State.
1. Đặt vấn đề
Trong xu hướng phát triển hiện nay, nguồn nhân lực số không chỉ là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà ngày càng trở thành nguồn lực chiến lược, có vai trò quan trọng đối với năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực số ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định cần nhanh chóng nắm bắt thời cơ để phát triển kinh tế số, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra ngày càng sâu rộng, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là năng lực số của người lao động. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực số do hạn chế về nguồn lực tài chính, thiếu chiến lược phát triển dài hạn và sự cạnh tranh trong thu hút lao động có trình độ công nghệ cao. Những vấn đề này cho thấy, thị trường lao động số còn tồn tại những hạn chế nhất định về khả năng đáp ứng và phân bổ nguồn nhân lực, đòi hỏi Nhà nước tiếp tục phát huy vai trò định hướng, kiến tạo thể chế và hỗ trợ ở tầm vĩ mô. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích vai trò định hướng của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp, qua đó, làm rõ yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách và các điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực số trong bối cảnh chuyển đổi số.
2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn nhân lực số trong doanh nghiệp
2.1. Khái niệm và đặc điểm của nguồn nhân lực số
Theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, nguồn nhân lực số được xác định là “nhân lực số gồm lực lượng chuyên gia, nhân lực công nghệ số và người dân được phổ cập kỹ năng số đóng vai trò quyết định cho phát triển kinh tế số, xã hội số quốc gia”. Phạm Thị Kiên (2022) cho rằng, nguồn nhân lực số là nguồn nhân lực trong nền kinh tế số, giữ vai trò chủ yếu trong triển khai và hiện thực hóa nền kinh tế số, có khả năng làm chủ và vận hành các thiết bị, công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế. Theo Đàm Thế Vinh & cộng sự (2026), nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số là toàn bộ lực lượng lao động có năng lực tạo ra, vận hành và mở rộng giá trị trên nền tảng số, kết hợp giữa tri thức chuyên môn với năng lực số, như: hiểu biết công nghệ, tư duy dữ liệu, tự động hóa, an ninh thông tin, làm việc từ xa và hợp tác trên nền tảng số.
Từ các cách tiếp cận trên, có thể hiểu nguồn nhân lực số là lực lượng lao động có tri thức chuyên môn và năng lực số, có khả năng sử dụng, vận hành và thích ứng với công nghệ số trong quá trình lao động, sản xuất – kinh doanh. Bên cạnh năng lực công nghệ, nguồn nhân lực số còn đòi hỏi khả năng tư duy phản biện, sáng tạo, giải quyết vấn đề phức hợp và ứng xử có trách nhiệm trong môi trường số. Như vậy, nguồn nhân lực số không chỉ được nhận diện thông qua khả năng sử dụng công nghệ thông tin mà còn thông qua khả năng thích ứng, học hỏi và tạo ra giá trị trong môi trường số.
So với nguồn nhân lực truyền thống, nguồn nhân lực số gắn với sự phát triển của công nghệ, dữ liệu và môi trường làm việc số, đòi hỏi người lao động không ngừng cập nhật kiến thức và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Ngoài những đặc điểm chung của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực số có bốn đặc trưng cơ bản: (1) Năng lực công nghệ – khả năng sử dụng công nghệ thông tin, nền tảng số, phần mềm quản lý và các công cụ tương tác số; (2) Kỹ năng làm việc trong môi trường số – khả năng hợp tác trên nền tảng trực tuyến, làm việc từ xa, tư duy sáng tạo và quản lý thời gian; (3) Khả năng học tập suốt đời – chủ động cập nhật kiến thức, kỹ năng thông qua các nền tảng học tập trực tuyến và các chương trình đào tạo mở; (4) Thái độ chủ động và khả năng thích ứng – sẵn sàng tiếp nhận, học hỏi và thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và phương thức tổ chức lao động.
2.2. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực số trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng, phát triển nguồn nhân lực số có ý nghĩa quan trọng trên bốn phương diện.
Một là, nâng cao năng suất lao động và giải phóng sức lao động. Phát triển nguồn nhân lực số giúp doanh nghiệp tự động hóa các quy trình lặp lại thông qua việc sử dụng các phần mềm và nền tảng công nghệ, như: ERP, CRM, RPA, qua đó, giảm bớt các công việc thủ công, nâng cao khả năng xử lý công việc và độ chính xác; đồng thời, tạo điều kiện để người lao động tập trung vào các công việc đòi hỏi tri thức, kỹ năng và khả năng sáng tạo.
Hai là, tối ưu hóa chi phí sản xuất – kinh doanh. Năng lực số của người lao động góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm chi phí vận hành và hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa các khâu trong chuỗi cung ứng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là trong điều kiện nguồn lực tài chính còn hạn chế.
Ba là, tạo lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh biến đổi nhanh. Nguồn nhân lực số có khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thị trường, giúp doanh nghiệp điều chỉnh mô hình kinh doanh, đổi mới phương thức tiếp thị, khai thác dữ liệu và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Qua đó, doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng thích ứng và duy trì lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh số.
Bốn là, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển nguồn nhân lực số giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sử dụng công nghệ, tiếp cận và khai thác tri thức, dữ liệu và các nền tảng số; đồng thời, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp mở rộng thị trường, tăng cường kết nối và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
3. Vai trò định hướng của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường giữ vai trò chủ yếu trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, thị trường không phải lúc nào cũng vận hành hoàn hảo; các vấn đề, như: độc quyền, bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, thất bại thị trường, thiếu hụt hàng hóa công cộng và bất cân xứng thông tin có thể làm hạn chế hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trong những trường hợp đó, Nhà nước cần thực hiện vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết nhằm khắc phục những hạn chế của thị trường, bảo đảm môi trường phát triển ổn định, công bằng và hiệu quả.
Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội ngày càng được nhận thức và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, thị trường giữ vai trò quan trọng trong huy động và phân bổ nguồn lực; Nhà nước thực hiện chức năng kiến tạo, định hướng và điều tiết; xã hội tham gia phản biện, giám sát và đồng hành cùng phát triển (Nguyễn Tuấn Anh, 2026). Đối với phát triển nguồn nhân lực số, Nhà nước không thay thế vai trò của doanh nghiệp và thị trường lao động mà chủ yếu tạo lập môi trường thể chế, định hướng chính sách, hỗ trợ phát triển kỹ năng và thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể. Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động đầu tư, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực số.
Từ góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu vai trò định hướng của Nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp là tổng thể các hoạt động xây dựng định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, huy động và phân bổ nguồn lực, hỗ trợ đào tạo, phát triển kỹ năng và điều phối lợi ích nhằm thúc đẩy hình thành, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực số trong doanh nghiệp. Vai trò này được thể hiện trên ba phương diện chủ yếu sau:
3.1. Hoàn thiện thể chế, pháp luật và ban hành chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực số
Từ năm 2017 – 2019, chuyển đổi số ở Việt Nam từng bước được quan tâm trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin. Năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo cơ sở quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các nguồn lực phục vụ quá trình này. Trên cơ sở đó, Nhà nước từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý và chính sách nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số.
Quốc hội ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có hỗ trợ về công nghệ, đổi mới sáng tạo, thông tin, tư vấn và đào tạo. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ quan trọng và triển khai đồng thời ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Quyết định số 411/QĐ-TTg tiếp tục xác định các mục tiêu cụ thể về phát triển nhân lực phục vụ kinh tế số, trong đó đặt mục tiêu tỷ lệ lao động kinh tế số trong lực lượng lao động đạt trên 2% vào năm 2025 và trên 3% vào năm 2030. Năm 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 về Khung kiến thức và kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số. Đây là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa yêu cầu về kiến thức, kỹ năng số và hỗ trợ việc đánh giá năng lực số của người lao động.
Nhìn chung, hệ thống chủ trương, chính sách và các quy định liên quan đã từng bước hình thành nền tảng cho phát triển nguồn nhân lực số, thể hiện sự nhất quán trong định hướng thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, quá trình thể chế hóa và cụ thể hóa một số chủ trương thành các cơ chế, chính sách chuyên ngành vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng nhanh hơn yêu cầu phát triển của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao và các ngành có tốc độ chuyển đổi số nhanh.
3.2. Hỗ trợ đào tạo, phát triển kỹ năng số cho doanh nghiệp
Cùng với hoàn thiện thể chế và chính sách, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao nhận thức, đào tạo và phát triển kỹ năng số cho người lao động. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số (SMEdx) do Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) triển khai đã tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các nền tảng số, chuyên gia tư vấn và các hoạt động nâng cao nhận thức, đào tạo về chuyển đổi số.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư ( nay là Bộ Tài chính) ban hành Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT ngày 07/01/2021 phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, trong đó có các hoạt động tư vấn, đào tạo, kết nối chuyên gia và khuyến khích doanh nghiệp áp dụng nền tảng, giải pháp số trong quản trị, sản xuất, kinh doanh và chuỗi cung ứng. Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1446/QĐ-TTg ngày 30/8/2021 phê duyệt Chương trình đào tạo, đào tạo lại nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo thêm cơ sở chính sách cho hoạt động đào tạo và đào tạo lại người lao động.
Những chính sách và chương trình trên cho thấy, phương thức hỗ trợ của Nhà nước đã từng bước chuyển từ nâng cao nhận thức sang phát triển kỹ năng và năng lực thực hành; đồng thời, tăng cường kết nối doanh nghiệp với các chuyên gia và tổ chức cung cấp giải pháp số. Tuy nhiên, chất lượng và khả năng tiếp cận các chương trình đào tạo giữa các nhóm doanh nghiệp vẫn chưa đồng đều; nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng làm chủ công nghệ mới và công nghệ chiến lược vẫn còn thiếu so với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số và định hướng chiến lược quốc gia về nguồn nhân lực số. Tổ chức các chương trình truyền thông, khóa đào tạo, hội thảo nhằm giúp doanh nghiệp và người lao động nhận thức đầy đủ về vai trò, yêu cầu và lợi ích của chuyển đổi số. Nội dung tuyên truyền cần đặc biệt nhấn mạnh Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định phát triển nhân lực chất lượng cao, nhân lực khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược; đồng thời, tiếp tục quán triệt Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, xem đây là căn cứ chính trị – pháp lý để doanh nghiệp chủ động đầu tư đào tạo nhân lực số.
Hai là, phát triển kỹ năng số cho người lao động theo Khung kỹ năng số quốc gia. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết, như: sử dụng công nghệ số, phân tích dữ liệu, thương mại điện tử và vận hành các nền tảng quản trị số. Nội dung đào tạo cần bám sát Khung kiến thức và kỹ năng số cơ bản do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tại Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025, với sáu nhóm năng lực chính: vận hành thiết bị và phần mềm; khai thác thông tin và dữ liệu; giao tiếp và cộng tác trong môi trường số; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; giải quyết vấn đề bằng công cụ số; và học tập, phát triển trên nền tảng số. Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đặt mục tiêu tỷ lệ lao động kinh tế số đạt trên 2% năm 2025 và trên 3% năm 2030, tỷ lệ dân số trưởng thành có kỹ năng số cơ bản đạt trên 70% năm 2025 và trên 80% năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), đây là những chỉ tiêu định lượng cụ thể để doanh nghiệp và cơ sở đào tạo xác định lộ trình bồi dưỡng. Nội dung đào tạo cần gắn với yêu cầu công việc và mức độ chuyển đổi số của từng nhóm doanh nghiệp, từng vị trí việc làm.
Ba là, phát triển đội ngũ lãnh đạo số và văn hóa số trong doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản lý về xây dựng chiến lược chuyển đổi số, quản trị sự thay đổi, quản trị dữ liệu và đổi mới mô hình kinh doanh. Việc đánh giá năng lực số của lãnh đạo doanh nghiệp có thể tham chiếu Bộ Chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số doanh nghiệp (DBI) do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, với các trụ cột về chiến lược, con người, thể chế, dữ liệu, hạ tầng công nghệ, khách hàng và sản phẩm. Cần tổ chức các chương trình đào tạo giám đốc số (CDO), giám đốc dữ liệu (CDaO) chuyên biệt cho lãnh đạo doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết hợp giữa đào tạo lý thuyết với thực hành xây dựng lộ trình chuyển đổi số riêng của từng doanh nghiệp. Đây là lực lượng có vai trò quyết định trong việc định hướng, tổ chức và duy trì quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp.
Bốn là, xây dựng và mở rộng mạng lưới chuyên gia chuyển đổi số. Nhà nước hỗ trợ tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và kết nối đội ngũ chuyên gia với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về nguồn lực và khả năng tiếp cận tư vấn chuyên sâu. Cụ thể hóa Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT ngày 07/01/2021 về việc phê duyệt chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, đến nay đã hình thành Mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số với hàng trăm chuyên gia, hoạt động thông qua Cổng thông tin doanh nghiệp và các nền tảng đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số. Chương trình SMEdx do Bộ Thông tin và Truyền thông (trước đây) triển khai đã lựa chọn hàng chục nền tảng số ưu tiên và kết nối trực tiếp với doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua hình thức trải nghiệm, tư vấn và đào tạo miễn phí. Mạng lưới chuyên gia cần được tổ chức theo các lĩnh vực chuyên sâu (sản xuất, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, du lịch…) và mức độ chuyển đổi số khác nhau (khởi động, tăng tốc, nâng cao) để đáp ứng nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp.
Năm là, phát triển học liệu và nền tảng đào tạo số dùng chung. Khuyến khích xây dựng thư viện điện tử, học liệu số, chương trình đào tạo trực tuyến và các nền tảng học tập số, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người lao động tiếp cận tri thức, kỹ năng số linh hoạt, thường xuyên và với chi phí phù hợp. Cần đầu tư phát triển các nền tảng học tập trực tuyến mở đại chúng (MOOC) quốc gia về kỹ năng số, có khả năng cấp chứng chỉ được công nhận trên phạm vi toàn quốc; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp công nghệ lớn (Viettel, VNPT, FPT, MISA, Base…) mở các nền tảng học tập, kho học liệu số miễn phí hoặc chi phí thấp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Song song, tăng cường hợp tác với các nền tảng quốc tế uy tín, như: Coursera, edX, LinkedIn Learning, Google Career Certificates để chuẩn hóa nội dung đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng cơ hội học tập cho người lao động Việt Nam.
Sáu là, xây dựng và chuẩn hóa Khung kỹ năng số quốc gia, hình thành hệ thống công nhận và cấp chứng chỉ năng lực số. Hoàn thiện Khung kỹ năng số cho người lao động trên cơ sở Quyết định số 757/QĐ-BKHCN, làm cơ sở để doanh nghiệp tuyển dụng, đánh giá, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực số theo các tiêu chuẩn thống nhất. Cần sớm hình thành hệ thống các trung tâm khảo thí, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng số quốc gia; xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực số theo từng nhóm nghề (kế toán số, marketing số, quản trị nhân sự số, sản xuất thông minh…) để làm căn cứ tuyển dụng, trả lương và thăng tiến. Việc chuẩn hóa kỹ năng số cũng góp phần kết nối nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp với hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục và cơ sở đào tạo nghề, thu hẹp khoảng cách cung – cầu nhân lực số hiện nay.
Bảy là, xây dựng môi trường thuận lợi, huy động nguồn lực và thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể. Trên phương diện lý luận và thực tiễn, Nhà nước không trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp mà giữ vai trò kiến tạo, điều phối và hỗ trợ phát triển thông qua ba nhóm hoạt động chủ yếu:
(1) Định hướng và xây dựng môi trường thể chế, chính sách. Trong quá trình chuyển đổi số, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rào cản, như: chi phí đầu tư lớn, thiếu nhân lực có kỹ năng số, hạn chế về thông tin công nghệ và khó tiếp cận chuyên gia. Do đó, Nhà nước cần phát huy vai trò định hướng thông qua xây dựng chiến lược quốc gia, hoàn thiện thể chế, ban hành chính sách và tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp chủ động đầu tư, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực số.
(2) Huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực số. Phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực số nói riêng đòi hỏi nguồn lực đáng kể về tài chính, tri thức, chuyên gia và hạ tầng đào tạo, trong khi nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó có khả năng tự đáp ứng. Vì vậy, Nhà nước cần phát huy vai trò huy động, điều phối và phân bổ nguồn lực nhằm hỗ trợ doanh nghiệp.
Chẳng hạn, tiếp tục thực hiện đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp được nâng cao nhận thức về chuyển đổi số; tối thiểu 10.000 doanh nghiệp được hỗ trợ đào tạo, tư vấn, sử dụng công cụ đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số; hình thành mạng lưới tối thiểu 100 tổ chức, cá nhân tư vấn chuyển đổi số. Chương trình không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà còn chú trọng phát triển nguồn lực tri thức thông qua xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với từng chiến lược chuyển đổi số; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia tư vấn; xây dựng cổng thông tin, bộ công cụ đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số và sổ tay hướng dẫn doanh nghiệp. Điều này cho thấy, nguồn lực Nhà nước huy động cho phát triển nguồn nhân lực số không chỉ bao gồm ngân sách mà còn bao gồm tri thức, chuyên gia, dữ liệu và các nền tảng số phục vụ đào tạo.
(3) Thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể trong hệ sinh thái chuyển đổi số. Chuyển đổi số không thể được thực hiện hiệu quả bởi một chủ thể đơn lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, hiệp hội và các tổ chức có liên quan. Trong mối quan hệ này, Nhà nước giữ vai trò điều phối, tạo lập mạng lưới hợp tác và thúc đẩy chia sẻ nguồn lực giữa các chủ thể.
Cách tiếp cận này cho thấy, vai trò của Nhà nước với tư cách là nhà điều phối trong hệ sinh thái chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực số, qua đó, tạo điều kiện để các chủ thể kết nối, chia sẻ nguồn lực, tri thức và kinh nghiệm.
5. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực số cho doanh nghiệp là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự tham gia và phối hợp của nhiều chủ thể trong hệ sinh thái số. Trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò kiến tạo và điều phối, tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các rào cản đối với hợp tác và chia sẻ nguồn lực, hoàn thiện cơ chế tài chính và từng bước chuẩn hóa năng lực số phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Đồng thời, doanh nghiệp cần phát huy tính chủ động trong đầu tư, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực số; các cơ sở đào tạo cần tăng cường gắn kết chương trình đào tạo với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo sẽ tạo nền tảng quan trọng để phát triển nguồn nhân lực số, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021). Quyết định số 12/QĐ-BKHĐT ngày 07/01/2021 phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số giai đoạn 2021 – 2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 ban hành Khung kiến thức và kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Quyết định số 377/QĐ-BTTTT ngày 26/3/2021 phê duyệt Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.
Chính phủ. (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đàm Thế Vinh, Vũ Thị Kiều Ly & Hoàng Thị Thuận (2026). Đào tạo nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số: Thực trạng và giải pháp cho các trường đại học ở Việt Nam. Tạp chí Điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông, 6(3), 49 – 59. DOI: https://doi.org/10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.3.49-59
Nguyễn Tuấn Anh (14/8/2026). Kết hợp hiệu quả giữa vai trò điều tiết của Nhà nước và động lực của thị trường trong phát triển bền vững. https://daihoidangtoanquoc.vn/ket-hop-hieu-qua-giua-vai-tro-dieu-tiet-cua-nha-nuoc-va-dong-luc-cua-thi-truong-trong-phat-trien-ben-vung-post1042.html
Phạm Thị Kiên (31/7/2022). Phát triển nguồn nhân lực số trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/825659/phat-trien-nguon-nhan-luc-so-trong-cac-doanh-nghiep-viet-nam-hien-nay.aspx
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1446/QĐ-TTg ngày 30/8/2021 phê duyệt Chương trình đào tạo, đào tạo lại nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.



