Tập trung không gian và chuyển dịch đối tác của FDI vào ngành chế biến, chế tạo Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025

Spatial concentration and changing partner structure of manufacturing FDI in Vietnam, 2014 – 2025

Nguyễn Thùy Linh
Trường Đại học Mở Hà Nội
Email liên hệ: nguyenthuylinh@hou.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích mức độ tập trung theo không gian và sự thay đổi cơ cấu đối tác của vốn FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025. Dữ liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê gồm 21.273 dự án cấp mới và lượt tăng vốn, với tổng vốn đăng ký 209,51 tỷ USD. Kết quả cho thấy, đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm 77,0% số dự án và lượt tăng vốn, tương ứng 76,1% tổng vốn đăng ký; chỉ số Herfindahl – Hirschman giữa sáu vùng đạt khoảng 0,313. Mười địa phương dẫn đầu chiếm 67,5% tổng vốn, song quy mô vốn bình quân có sự khác biệt đáng kể. Về cơ cấu đối tác, sáu nguồn vốn châu Á chiếm 80,3% tổng vốn; tỷ trọng vốn từ Hàn Quốc giảm từ 35,2% giai đoạn 2014 – 2019 xuống 19,0% giai đoạn 2023 – 2025, trong khi Singapore và Trung Quốc gia tăng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất củng cố các cụm sản xuất hiện hữu, tăng cường liên kết vùng và đa dạng hóa nguồn vốn theo hướng ưu tiên công nghệ, liên kết chuỗi cung ứng và chất lượng dự án.

Từ khóa: FDI; công nghiệp chế biến, chế tạo; tập trung không gian; đối tác đầu tư; tích tụ công nghiệp.

Abstract: This article examines the spatial concentration and changing partner composition of project-based registered FDI in Vietnam’s manufacturing industry during 2014 – 2025. The dataset covers 21,273 newly licensed projects and capital-increase cases with registered capital of USD 209.51 billion. The Red River Delta and the Southeast accounted for 77.0% of investment activities and 76.1% of registered capital; the regional Herfindahl – Hirschman index reached approximately 0.313. The ten leading provinces received 67.5% of capital, with substantial differences in capital per activity. Six Asian economies contributed 80.3% of registered capital; the Republic of Korea’s share fell from 35.2% in 2014 – 2019 to 19.0% in 2023 – 2025, while Singapore and China gained prominence. Investment policy should combine the upgrading of established production clusters, stronger interregional linkages and partner diversification based on technology, supply-chain position and project quality.

Keywords: FDI; manufacturing; spatial concentration; investment partners; industrial agglomeration.

1. Đặt vấn đề

FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng tập trung tại một số địa bàn thay vì phân bố đồng đều trên lãnh thổ. Đặc điểm này xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp về đất đai, điện, hạ tầng giao thông, cảng biển, lao động kỹ thuật, nhà cung ứng và các dịch vụ hỗ trợ. Những điều kiện này thường được tích lũy và phát triển ở các trung tâm công nghiệp. Khi một địa bàn thu hút được các dự án đầu tư ban đầu, lợi ích từ tập trung doanh nghiệp và hình thành chuỗi cung ứng có thể tiếp tục thu hút các dự án mới. Tuy nhiên, mức độ tập trung cao cũng có thể làm gia tăng giá đất, chi phí nhà ở, ùn tắc giao thông và áp lực môi trường.

Cơ cấu đối tác là một chiều phân tích quan trọng khác. FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam tập trung đáng kể từ các nền kinh tế châu Á, như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và Đài Loan (Trung Quốc), nơi nhiều tập đoàn tổ chức sản xuất xuyên quốc gia. Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 – 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022) đều nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hóa đối tác và nâng cao chất lượng dòng vốn.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: (1) Vốn FDI đăng ký qua kênh dự án trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tập trung ở mức độ nào giữa sáu vùng kinh tế – xã hội? (2) Các địa phương dẫn đầu khác nhau như thế nào về số hoạt động, vốn đăng ký và quy mô vốn bình quân? (3) Cơ cấu đối tác thay đổi ra sao qua các giai đoạn 2014 – 2019, 2020 – 2022 và 2023 – 2025? Kết quả phân tích là cơ sở để thảo luận các định hướng phát triển cụm công nghiệp, tăng cường liên kết vùng và đa dạng hóa nguồn vốn FDI.

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

2.1. Lợi thế địa điểm, tích tụ và phân bố FDI

Trong khung lý thuyết chiết trung, lợi thế địa điểm giải thích vì sao doanh nghiệp lựa chọn một quốc gia hoặc vùng cụ thể để đầu tư (Dunning, 1988). Đối với các dự án chế biến, chế tạo, lợi thế địa điểm không chỉ thể hiện ở chi phí lao động và ưu đãi thuế, mà còn bao gồm khả năng tiếp cận cảng biển, chất lượng hạ tầng khu công nghiệp, quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, cùng mạng lưới nhà cung ứng. Các nghiên cứu về lựa chọn địa điểm sản xuất nhấn mạnh vai trò của hiệu ứng tích tụ. Coughlin và cộng sự (1991) cho thấy, mối quan hệ tích cực giữa mật độ sản xuất và FDI vào ngành chế tạo tại các bang của Hoa Kỳ. Wheeler và Mody (1992) chỉ ra rằng, mức độ công nghiệp hóa và chất lượng hạ tầng có vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn địa điểm. Head và cộng sự (1995) cho thấy, các doanh nghiệp Nhật Bản có xu hướng lựa chọn những địa bàn đã tập trung nhiều cơ sở sản xuất cùng ngành. Các nghiên cứu này cùng gợi mở một cơ chế: doanh nghiệp mới có thể hưởng lợi từ năng lực sản xuất, cơ sở hạ tầng và mạng lưới cung ứng đã được tích lũy tại địa bàn.

Tuy nhiên, tích tụ công nghiệp cũng tạo ra những chi phí nhất định. Giá đất, ô nhiễm và ùn tắc giao thông có thể gia tăng nhanh, làm giảm lợi ích của tập trung sản xuất. Các nghiên cứu trong nước cũng khẳng định vai trò của hạ tầng, nguồn nhân lực và chất lượng điều hành địa phương đối với thu hút FDI (Lê Hùng Sơn, 2020; Bành Thị Thảo, 2022; Trần Hoàng Hà, 2026).

2.2. Đối tác đầu tư và cấu trúc mạng lưới sản xuất

Alfaro và Charlton (2009) cho thấy, FDI theo chiều dọc diễn ra đáng kể ngay trong cùng ngành, khi doanh nghiệp phân bổ các công đoạn sản xuất cho những địa điểm khác nhau. Theo đó, nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn những địa bàn có khả năng kết nối thuận lợi với các cơ sở sản xuất, nhà cung ứng và thị trường của tập đoàn. Narula và Dunning (2010) cũng lưu ý rằng, tác động của doanh nghiệp đa quốc gia đối với phát triển phụ thuộc đáng kể vào điều kiện của nước tiếp nhận và khả năng hình thành các liên kết với nền kinh tế sở tại.

Từ tổng quan trên có thể thấy, các phân tích về FDI tại Việt Nam thường xem xét sự phân bố theo địa bàn và cơ cấu đối tác như những khía cạnh tương đối độc lập. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu phân tích đồng thời hai chiều để đánh giá mức độ tập trung không gian và sự thay đổi cơ cấu đối tác của FDI. Trên cơ sở đó, bài viết xem xét liệu cấu trúc FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam có đang đa dạng hóa hay chủ yếu chuyển từ sự phụ thuộc vào một đối tác sang sự tập trung vào một nhóm đối tác có đặc điểm tương đồng.

3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê trong giai đoạn 2014 – 2025. Phân tích theo địa bàn và đối tác chỉ sử dụng FDI đăng ký qua kênh dự án, bao gồm: vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn tăng thêm của các dự án đang hoạt động. Góp vốn, mua cổ phần không được phân bổ thống nhất theo địa điểm thực hiện dự án nên không được đưa vào tổng vốn của phần phân tích này. Tổng mẫu, gồm: 21.273 dự án cấp mới và lượt tăng vốn, với tổng vốn đăng ký 209,51 tỷ USD.

Ở cấp vùng, sáu vùng kinh tế – xã hội được so sánh theo ba chỉ tiêu: tỷ trọng số dự án và lượt tăng vốn, tỷ trọng vốn đăng ký và vốn bình quân trên một hoạt động. Tỷ lệ tập trung của hai vùng dẫn đầu (CR2) được tính bằng tổng thị phần của Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Chỉ số Herfindahl – Hirschman (HHI) được tính bằng tổng bình phương thị phần của sáu vùng; giá trị HHI càng cao cho thấy, mức độ tập trung càng lớn. Ở cấp địa phương, mười địa bàn có tổng vốn đăng ký lớn nhất được phân tích thông qua các tỷ lệ tập trung CR3, CR5 và CR10. Đối với cơ cấu đối tác, mười nguồn vốn lớn nhất được xếp hạng theo tổng vốn đăng ký; sáu đối tác châu Á dẫn đầu được cộng gộp để đánh giá mức độ tập trung theo khu vực. Xu hướng thay đổi cơ cấu đối tác được xem xét qua ba giai đoạn: 2014 – 2019, 2020 – 2022 và 2023 – 2025.

Dữ liệu nghiên cứu có một số giới hạn. Thứ nhất, dữ liệu chưa phản ánh đầy đủ công nghệ, giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và mức độ liên kết với các nhà cung ứng của từng dự án. Thứ hai, nguồn gốc đăng ký vốn không hoàn toàn đồng nhất với chủ sở hữu cuối cùng do vốn có thể được chuyển qua các trung tâm tài chính hoặc công ty trung gian. Vì vậy, mức độ tập trung cao không được mặc nhiên xem là tích cực hay tiêu cực. Kết quả nghiên cứu chủ yếu nhằm mô tả cấu trúc phân bố của FDI và nhận diện những vấn đề cần tiếp tục theo dõi trong hoạch định chính sách thu hút và phân bổ đầu tư.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Hai cực thu hút chi phối phân bố theo vùng

Bảng 1. Phân bố hoạt động và vốn FDI đăng ký ngành chế biến, chế tạo theo vùng, 2014 – 2025

VùngHoạt động đầu tưTỷ trọng hoạt động (%)Vốn đăng ký (triệu USD)Tỷ trọng vốn (%)Vốn/hoạt động (triệu USD)
Đồng bằng sông Hồng8.32839,187.974,8242,010,56
Trung du và miền núi phía Bắc1.7088,022.694,3510,813,29
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung1.0374,914.969,827,114,44
Tây Nguyên970,5477,530,24,92
Đông Nam Bộ8.06037,971.442,9034,18,86
Đồng bằng sông Cửu Long2.0439,611.946,115,75,85
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê.

Phân bố theo vùng thể hiện cấu trúc hai cực khá rõ. Đồng bằng sông Hồng tiếp nhận 39,1% số hoạt động và 42,0% vốn đăng ký; Đông Nam Bộ đứng thứ hai với 37,9% và 34,1%. Cộng lại, hai vùng chiếm 77,0% số hoạt động và 76,1% tổng vốn. Chỉ số Herfindahl – Hirschman đạt khoảng 0,313, phản ánh mức tập trung cao so với phân bố đều (mỗi vùng gần 16,7%). Đồng bằng sông Hồng được hỗ trợ bởi các hành lang công nghiệp kết nối Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh; Đông Nam Bộ có lịch sử công nghiệp hóa sớm, thị trường lớn và mạng lưới doanh nghiệp dày tại TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh.

Trung du và miền núi phía Bắc chiếm 10,8% vốn, cao hơn tỷ trọng số hoạt động (8,0%), với vốn bình quân 13,29 triệu USD/hoạt động. Kết quả này phản ánh sự hiện diện của một số dự án quy mô lớn tại Bắc Giang và Thái Nguyên cho thấy, ranh giới vùng kinh tế – xã hội không hoàn toàn trùng với phạm vi hình thành các cụm sản xuất. Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung chỉ chiếm 4,9% số hoạt động nhưng nhận 7,1% vốn, với quy mô bình quân 14,44 triệu USD/hoạt động. Dòng vốn tại khu vực này tập trung hơn ở một số địa bàn ven biển có khu kinh tế và cảng nước sâu.

Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 9,6% số hoạt động nhưng chỉ 5,7% vốn đăng ký cho thấy, quy mô vốn bình quân thấp hơn so với các vùng tập trung FDI chủ yếu. Tây Nguyên chỉ chiếm 0,5% số hoạt động và 0,2% tổng vốn cho thấy, sự hiện diện hạn chế của các dự án FDI chế biến, chế tạo quy mô lớn. Sự khác biệt giữa các vùng gợi mở vai trò của điều kiện hạ tầng logistics, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng kết nối với các chuỗi sản xuất, song các yếu tố này cần được kiểm chứng bằng các phân tích sâu hơn để xác định mức độ tác động.

4.2. Các địa phương dẫn đầu có chức năng thu hút khác nhau

Bảng 2. Mười địa phương dẫn đầu về vốn FDI đăng ký qua kênh dự án, 2014 – 2025 (trước ngày 01/7/2025)

Địa phương trước ngày 01/7/2025Hoạt động đầu tưTỷ trọng hoạt động (%)Vốn đăng ký (triệu USD)Tỷ trọng vốn (%)Vốn/hoạt động (triệu USD)
Bắc Ninh2.94913,924.556,2911,78,33
Hải Phòng1.1925,621.970,0310,518,43
TP. Hồ Chí Minh2.0949,819.116,109,19,13
Đồng Nai2.0089,416.427,947,88,18
Bình Dương (cũ)2.30610,814.132,136,76,13
Bắc Giang (cũ)8914,210.223,564,911,47
Bà Rịa -Vũng Tàu (cũ)3231,59.782,034,730,28
Tây Ninh8434,08.757,394,210,39
Thái Nguyên3921,88.303,534,021,18
Quảng Ninh1650,88.184,023,949,60
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê, 2025.

Nhìn từ Bảng 2 cho thấy, dẫn đầu chiếm 61,8% số hoạt động và 67,5% tổng vốn đăng ký; riêng năm địa phương đứng đầu, gồm: Bắc Ninh, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương (nay sáp nhập vào TP. Hồ Chí Minh), chiếm 45,8% tổng vốn. Bắc Ninh đứng đầu với 24,56 tỷ USD và 2.949 hoạt động, song vốn bình quân đạt 8,33 triệu USD/hoạt động. Điều này cho thấy, địa phương vừa thu hút được nhiều dự án, vừa hình thành mật độ đầu tư tương đối cao. Hải Phòng có số hoạt động thấp hơn nhưng vốn đăng ký đạt gần 22 tỷ USD, với vốn bình quân 18,43 triệu USD/hoạt động, phản ánh sự hiện diện tương đối lớn của các dự án quy mô vốn cao. Quảng Ninh có sự khác biệt rõ hơn khi chỉ có 165 hoạt động nhưng vốn đăng ký đạt 8,18 tỷ USD, tương ứng 49,60 triệu USD/hoạt động cho thấy, tổng vốn chịu ảnh hưởng đáng kể từ một số dự án quy mô lớn.

Tại phía Bắc, Bắc Giang (nay là Bắc Ninh) và Thái Nguyên cho thấy, xu hướng mở rộng không gian của các cụm sản xuất, với tổng vốn đăng ký hơn 18,53 tỷ USD và sự hiện diện của một số dự án điện tử quy mô lớn. Nhìn chung, sự chênh lệch đáng kể về vốn bình quân giữa các địa phương cho thấy, không nên đánh giá khả năng thu hút FDI chỉ dựa trên tổng vốn đăng ký. Đánh giá đầy đủ hơn cần xem xét đồng thời cơ cấu ngành, việc làm, giá trị xuất khẩu, mức độ chuyển giao công nghệ và khả năng liên kết với các nhà cung ứng trong nước.

4.3. Nguồn vốn tập trung cao vào mạng lưới sản xuất châu Á

Bảng 3. Mười đối tác dẫn đầu về FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành chế biến, chế tạo, 2014 – 2025

Đối tácHoạt động đầu tưTỷ trọng hoạt động (%)Vốn đăng ký (triệu USD)Tỷ trọng vốn (%)Vốn/hoạt động (triệu USD)
Hàn Quốc6.12628,855.389,8526,49,04
Singapore1.4356,726.703,9712,718,61
Trung Quốc4.07219,125.657,9112,26,30
Hồng Kông (Trung Quốc)2.34011,025.247,8012,110,79
Nhật Bản2.16310,220.481,269,89,47
Đài Loan (Trung Quốc)1.6087,614.872,227,19,25
Samoa5172,46.610,053,212,79
British Virgin Islands4472,15.243,092,511,73
Hà Lan1520,75.111,652,433,63
Thái Lan2041,03.465,331,716,99
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê.

Cơ cấu đối tác tập trung cao hơn cơ cấu địa bàn. Mười đối tác dẫn đầu chiếm 90,1% tổng vốn đăng ký; riêng năm đối tác đứng đầu chiếm 73,2%. Hàn Quốc đứng đầu với 55,39 tỷ USD, tương ứng 26,4% tổng vốn và 28,8% số hoạt động. Quy mô này phản ánh vai trò nổi bật của nguồn vốn Hàn Quốc trong quá trình hình thành và mở rộng các chuỗi sản xuất điện tử, linh kiện, dệt may và công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam. Singapore đứng thứ hai về vốn đăng ký với 26,70 tỷ USD, nhưng chỉ chiếm 6,7% số hoạt động, đưa vốn bình quân lên 18,61 triệu USD/hoạt động. Tuy nhiên, do dữ liệu phản ánh nơi đăng ký vốn, không nên đồng nhất hoàn toàn nguồn vốn đăng ký từ Singapore với chủ sở hữu cuối cùng là doanh nghiệp Singapore. Lưu ý này cũng có ý nghĩa đối với Hồng Kông, Samoa và British Virgin Islands.

Trung Quốc có 4.072 hoạt động, đứng thứ hai về số lượng, nhưng vốn bình quân chỉ đạt 6,30 triệu USD/hoạt động, thấp nhất trong mười đối tác dẫn đầu. Điều này cho thấy, cơ cấu vốn từ Trung Quốc gồm số lượng lớn các hoạt động nhưng quy mô vốn bình quân tương đối thấp. Khi xem xét Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) cùng một nhóm, tổng vốn đạt 24,3% tổng vốn đăng ký cho thấy, mức độ hiện diện đáng kể của nguồn vốn gắn với mạng lưới sản xuất Trung Quốc. Nhật Bản và Đài Loan lần lượt chiếm 9,8% và 7,1% tổng vốn, tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong cơ cấu FDI chế biến, chế tạo.

Sáu đối tác châu Á, gồm: Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) chiếm 83,4% số hoạt động và 80,3% vốn đăng ký. Cơ cấu này cho thấy, FDI vào ngành chế biến, chế tạo của Việt Nam có mức độ gắn kết cao với các mạng lưới sản xuất châu Á. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu đa dạng hóa đối tác nhằm hạn chế rủi ro khi nhu cầu thị trường, chuỗi cung ứng hoặc chính sách thương mại của các nền kinh tế đối tác thay đổi.

4.4. Cơ cấu đối tác chuyển từ ưu thế một nguồn vốn sang phân bố giữa nhiều nguồn lớn

Bảng 4. Sự thay đổi mức độ tập trung đối tác theo giai đoạn

Giai đoạnĐối tác dẫn đầuTỷ trọng (%)Đối tác thứ haiTỷ trọng (%)Tỷ trọng 5 đối tác lớn (%)Đối tác còn lại (%)
2014 – 2019Hàn Quốc35,2Nhật Bản12,074,825,2
2020 -2022Hàn Quốc19,4Trung Quốc13,865,834,3
2023 – 2025Singapore19,1Hàn Quốc19,078,121,9
Nguồn: Tác giả tổng hợp và tính toán từ số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài và Cục Thống kê.

Giai đoạn 2014 – 2019 mang dấu ấn rõ của Hàn Quốc: 35,2% tổng vốn, cao hơn Nhật Bản 23,2 điểm phần trăm; năm đối tác lớn nhất nắm 74,8% vốn. Cấu trúc này gắn với làn sóng dự án điện tử và các doanh nghiệp vệ tinh. Giai đoạn 2020 – 2022, tỷ trọng Hàn Quốc giảm xuống 19,4%; Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore và Nhật Bản có tỷ trọng gần nhau hơn, tỷ lệ năm đối tác lớn giảm còn 65,8%, nhóm còn lại tăng lên 34,3%. Đây là giai đoạn cơ cấu nguồn vốn phân tán hơn, nhưng một phần thay đổi có thể đến từ biến động tổng vốn trong thời kỳ dịch bệnh chứ chưa chắc phản ánh chiến lược đa dạng hóa bền vững.

Giai đoạn 2023 – 2025 xuất hiện sự thay đổi đáng chú ý khi Singapore đứng đầu với 19,1%, chỉ cao hơn Hàn Quốc 0,1 điểm phần trăm. Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) lần lượt chiếm 16,6% và 15,4%, trong khi Đài Loan đạt 8,0%. Năm đối tác lớn nhất chiếm 78,1% tổng vốn, cao hơn hai giai đoạn trước, nhưng không còn một đối tác duy nhất chiếm ưu thế vượt trội. Như vậy, mức độ tập trung vào nhóm đối tác lớn vẫn cao, trong khi vị trí của đối tác dẫn đầu có sự thay đổi.

Do vậy, cơ cấu đối tác FDI vào ngành chế biến, chế tạo đang có sự dịch chuyển theo hướng giảm phụ thuộc vào một nguồn vốn riêng lẻ và gia tăng vai trò của nhiều đối tác lớn. Tuy nhiên, sự đa dạng hóa về quốc gia chưa đồng nghĩa với đa dạng hóa về chuỗi cung ứng và thị trường, bởi các đối tác dẫn đầu trong giai đoạn gần đây vẫn chủ yếu thuộc mạng lưới kinh tế Đông Á hoặc là các trung tâm tài chính có quan hệ chặt chẽ với khu vực. Vì vậy, chính sách thu hút FDI cần quan tâm không chỉ đến số lượng và nguồn gốc đối tác, mà còn đến sự đa dạng về công nghệ, thị trường, chuỗi cung ứng và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước.

5. Hàm ý chính sách

Kết quả phân tích cho thấy, chính sách thu hút FDI không nhất thiết phải hướng tới phân bổ đồng đều giữa các vùng, bởi các cụm công nghiệp hình thành và phát triển dựa trên lợi ích của tích tụ. Việc phân bổ lại dự án một cách cơ học có thể làm giảm hiệu quả từ hạ tầng, lao động và mạng lưới cung ứng đã hình thành. Vì vậy, trọng tâm chính sách phù hợp hơn là kiểm soát các chi phí của tập trung và mở rộng không gian kinh tế của các cụm sản xuất. Hạ tầng đường bộ, đường sắt, cảng cạn và logistics cần được tăng cường kết nối giữa các địa phương lân cận với trung tâm sản xuất.

Đối với đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, chính sách nên chuyển từ ưu tiên mở rộng số lượng khu công nghiệp sang nâng cao chất lượng vận hành và khả năng đáp ứng của hạ tầng. Các vấn đề cần chú trọng gồm bảo đảm nguồn điện ổn định, xử lý nước thải, phát triển nhà ở cho công nhân, cải thiện giao thông nội vùng và đào tạo nhân lực kỹ thuật. Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn chế, tiêu chí lựa chọn dự án cần chú trọng hơn đến suất đầu tư, trình độ công nghệ, mức phát thải và khả năng sử dụng nhà cung ứng trong nước, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn đăng ký.

Đối với Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, định hướng phù hợp là tăng cường kết nối với các hành lang sản xuất đã hình thành và thu hút các dự án có quy mô phù hợp với điều kiện của từng địa bàn. Các địa phương không nên sao chép máy móc mô hình thu hút FDI của Bắc Ninh khi điều kiện về lao động, hạ tầng và logistics khác biệt. Đối với đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, thu hút FDI chế biến, chế tạo cần dựa nhiều hơn vào lợi thế chuyên biệt của từng vùng. Các lĩnh vực, như: chế biến nông sản, thiết bị nông nghiệp, vật liệu sinh học, năng lượng tái tạo và công nghệ bảo quản có thể là những hướng phù hợp hơn so với việc cạnh tranh trực tiếp để thu hút các dự án điện tử lắp ráp.

Về cơ cấu đối tác, cần phân biệt giữa đa dạng hóa về nguồn đăng ký vốn và đa dạng hóa thực chất về chủ sở hữu, thị trường và chuỗi cung ứng. Một dự án đăng ký từ Singapore hoặc Hồng Kông (Trung Quốc) không nhất thiết phản ánh đầy đủ quốc gia của chủ sở hữu cuối cùng. Do đó, cơ sở dữ liệu đầu tư cần từng bước bổ sung thông tin về chủ sở hữu cuối cùng, tập đoàn mẹ và thị trường chính của dự án. Việc mở rộng thu hút các nhà đầu tư từ châu Âu, Bắc Mỹ và các nền kinh tế có trình độ công nghệ cao là cần thiết, nhưng nên gắn với chất lượng môi trường đầu tư thay vì mở rộng ưu đãi một cách dàn trải. Các yếu tố, như: bảo hộ sở hữu trí tuệ, nguồn nhân lực kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và khả năng truy xuất chuỗi cung ứng cần được cải thiện để nâng cao sức hấp dẫn đối với nhóm nhà đầu tư này.

Một định hướng quan trọng khác là phát triển doanh nghiệp trong nước trong từng cụm sản xuất. Khi các nhà cung ứng nội địa nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, lợi ích của tích tụ công nghiệp có thể lan tỏa rộng hơn tới nền kinh tế địa phương, thay vì chủ yếu tập trung trong khu vực FDI. Định hướng này phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước được đặt ra tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị và Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 – 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

6. Kết luận

FDI đăng ký qua kênh dự án vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2025 có mức tập trung đáng kể theo cả địa bàn và đối tác. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm hơn ba phần tư số hoạt động và vốn đăng ký; mười địa phương dẫn đầu nhận 67,5% vốn, quy mô bình quân khác nhau rõ rệt. Về nguồn vốn, sáu đối tác châu Á dẫn đầu chiếm 80,3% tổng vốn; vai trò áp đảo của Hàn Quốc giảm, trong khi Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc) và Đài Loan (Trung Quốc) gia tăng vị trí. Rủi ro phụ thuộc đã chuyển từ một quốc gia sang một mạng lưới đối tác có liên kết khu vực khá chặt.

Từ các kết quả trên, nghiên cứu gợi mở ba định hướng chính sách: (1) Tiếp tục nâng cấp các cực công nghiệp hiện hữu; đồng thời, kiểm soát các chi phí phát sinh từ tập trung, như: ùn tắc, thiếu hụt hạ tầng và áp lực môi trường; (2) Tăng cường liên kết vùng để các địa phương lân cận tham gia chuỗi sản xuất theo lợi thế riêng, thay vì phân tán dự án bằng các biện pháp hành chính; (3) Đa dạng hóa nguồn vốn trên cơ sở công nghệ, ngành, thị trường và chủ sở hữu cuối cùng, đồng thời nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước để tăng khả năng hấp thụ và lan tỏa lợi ích từ FDI. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách thu hút FDI vào ngành chế biến, chế tạo cần được thiết kế phù hợp với cấu trúc không gian và mạng lưới đối tác, thay vì chỉ tập trung vào quy mô vốn đăng ký trên phạm vi cả nước.

Tài liệu tham khảo:
Alfaro, L., & Charlton, A. (2009). Intra-industry foreign direct investment. American Economic Review, 99(5), 2096 – 2119. https://doi.org/10.1257/aer.99.5.2096
Bành Thị Thảo (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh [Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính].
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
Coughlin, C. C., Terza, J. V., & Arromdee, V. (1991). State characteristics and the location of foreign direct investment within the United States. The Review of Economics and Statistics, 73(4), 675 – 683. https://doi.org/10.2307/2109406
Dunning, J. H. (1988). The eclectic paradigm of international production: A restatement and some possible extensions. Journal of International Business Studies, 19(1), 1 – 31. https://doi.org/10.1057/palgrave.jibs.8490372
Head, K., Ries, J., & Swenson, D. (1995). Agglomeration benefits and location choice: Evidence from Japanese manufacturing investments in the United States. Journal of International Economics, 38(3 – 4), 223 – 247. https://doi.org/10.1016/0022-1996(94)01351-R
Lê Hùng Sơn (2020). Nghiên cứu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh phát triển mới [Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Mỏ – Địa chất].
Narula, R., & Dunning, J. H. (2010). Multinational enterprises, development and globalisation: Some clarifications and a research agenda. Oxford Development Studies, 38(3), 263 – 287. https://doi.org/10.1080/13600818.2010.505684
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 02/6/2022 phê duyệt Chiến lược hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021 – 2030.
Trần Hoàng Hà (2026). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc [Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân].
Wheeler, D., & Mody, A. (1992). International investment location decisions: The case of U.S. firms. Journal of International Economics, 33(1 – 2), 57 – 76. https://doi.org/10.1016/0022-1996(92)90050-T
World Bank (2020). World Development Report 2020: Trading for development in the age of global value chains. World Bank, Washington, DC. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-1457-0